Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Đạo Gia

Bài tổng quan

Đặt bếp, đào giếng, làm kho và chuồng nuôi theo phương vị

Đạo Học - Đạo Gia07/10/202611 phút đọc1 lượt đọc
Đặt bếp, đào giếng, làm kho và chuồng nuôi theo phương vị

Cái bếp đặt ở phương nào, cái giếng đào tại vị nào, chuồng trâu chuồng gà nằm ở đâu, người xưa đều có sổ ghi riêng cho từng trạch. Mỗi chỗ đặt sai kéo theo một người trong nhà phải chịu thiệt. Còn có một thứ nằm ngay cạnh nhà, ít ai để ý…


Dời bếp là thêm một hào lên quẻ của cả ngôi nhà

Trong tám trạch có hai mươi bốn phương hướng, chia thành hai mươi bốn phần của nhà cửa. Bếp đặt vào phần nào thì phối với quẻ của chủ nhà thành một quẻ nhất định, quẻ ấy hợp ra các sao, và từ các sao mà đoán họa phúc. Lệ xưa luôn gọi quẻ bằng ba tầng: tầng trên là chỗ bếp cũ, tầng giữa là mệnh trạch của gia trưởng, tầng dưới là chỗ bếp mới.

Mười thế dời bếp dưới đây đều theo một khuôn: nhìn chỗ bếp cũ, nhìn mệnh trạch của người chủ nhà, nhìn chỗ bếp mới, rồi đọc ba sao do ba cung ấy hợp thành và những năm tháng mà họa phúc sẽ ứng vào.

Bếp từ đông bắc dời lên phía bắc

Bếp cũ ở gian đông bắc, chỗ chữ Giáp, thuộc cung Chấn, dời sang gian phía bắc, chỗ chữ Dần, thuộc cung Ly. Mệnh trạch của gia trưởng thuộc cung Tốn. Ba cung xếp thành Chấn trên, Tốn giữa, Ly dưới, hợp ba sao Thiên Ất, Sinh Khí, Diên Niên. Năm tháng Hợi Mão Mùi sinh quý tử, tài sản hưng vượng, phú quý bền lâu.

Bếp từ phía bắc dời sang phía tây

Bếp cũ ở gian bắc, chỗ chữ Quý, thuộc cung Khôn, dời sang gian tây, chỗ chữ Dậu, thuộc cung Cấn; mệnh trạch gia trưởng thuộc cung Chấn. Quẻ thành Khôn trên, Chấn giữa, Cấn dưới, hợp ba sao Họa Hại, Lục Sát, Sinh Khí. Năm tháng Hợi Mão Mùi tổn hại phụ nữ và trẻ nhỏ, chủ bệnh gan.

Bếp từ phía nam dời vào gian giữa

Bếp cũ ở gian nam, chỗ chữ Ất, thuộc cung Đoài, dời vào gian giữa, chỗ chữ Mão, thuộc cung Tốn. Hợp nên các sao Lục Sát, Ngũ Quỷ, Thiên Ất. Năm tháng Tỵ Dậu Sửu hại trưởng nữ và dâu trưởng, có hỏa hoạn, trộm cướp.

Bếp ở góc tây bắc dời vào gian giữa

Bếp cũ ở gian tây bắc, chỗ chữ Nhâm, thuộc cung Khảm, dời vào gian giữa. Mệnh trạch gia trưởng thuộc cung Kiền. Hợp nên ba sao Lục Sát, Diên Niên, Tuyệt Mệnh. Năm tháng Dần Ngọ Tuất rồi Tỵ Dậu Sửu hao tổn gia tài, liên lụy tù ngục.

Bếp từ phòng bắc dời sang phòng nam

Bếp cũ ở phòng bắc, chỗ chữ Tý, thuộc cung Ly, dời sang phòng nam, chỗ chữ Đinh, thuộc cung Khảm; mệnh trạch gia trưởng thuộc cung Kiền. Quẻ thành Ly trên, Kiền giữa, Khảm dưới, hợp các sao Lục Sát, Tuyệt Mệnh, Diên Niên. Năm tháng Dần Ngọ Tuất tổn hại nam chủ nhân. Năm tháng Tỵ Dậu Sửu sinh quý tử nhưng hại phụ nữ trong nhà.

Bếp từ phòng nam dời sang đông bắc

Bếp cũ ở phòng nam, chỗ chữ Ngọ, thuộc cung Khảm, dời sang phòng đông bắc, chỗ chữ Sửu, thuộc cung Đoài; mệnh trạch gia chủ thuộc cung Ly. Quẻ thành Khảm trên, Ly giữa, Đoài dưới, hợp ba sao Ngũ Quỷ, Họa Hại, Diên Niên. Năm tháng Dần Ngọ Tuất và Thân Tý Thìn hại phụ nữ và con nhỏ, bệnh ở tim và mắt.

Bếp từ đông bắc dời sang đông nam

Bếp cũ ở phòng đông bắc, chỗ chữ Cấn, dời sang phòng đông nam, chỗ chữ Tốn; gia trưởng thuộc cung Kiền. Quẻ thành Cấn trên, Kiền giữa, Tốn dưới, hợp ba sao Họa Hại, Tuyệt Mệnh, Thiên Ất. Năm tháng Tỵ Dậu Sửu hại phụ nữ và con nhỏ, bệnh do ăn uống.

Bếp từ tây nam dời sang phía bắc

Bếp cũ ở phòng tây nam, chỗ chữ Khôn, dời sang phòng bắc, chỗ chữ Thân, thuộc cung Khảm; gia trưởng thuộc cung Tốn. Quẻ thành Khôn trên, Tốn giữa, Khảm dưới, hợp ba sao Tuyệt Mệnh, Ngũ Quỷ, Sinh Khí. Năm tháng Tỵ Dậu Sửu hại phụ nữ, con nhỏ, thêm hỏa hoạn và trộm cướp.

Bếp từ đông nam dời lên phía bắc

Bếp cũ ở phòng đông nam, chỗ chữ Tuất, thuộc cung Ly, dời lên phòng bắc, chỗ chữ Hợi, thuộc cung Chấn; gia trưởng thuộc cung Đoài. Quẻ thành Ly trên, Đoài giữa, Chấn dưới, hợp ba sao Ngũ Quỷ, Sinh Khí, Tuyệt Mệnh. Năm tháng Dần Ngọ Tuất, Tỵ Dậu Sửu hại phụ nữ và trẻ nhỏ, có họa đổ máu, trộm cướp, kiện tụng, tán tài.

Bếp từ tây bắc dời sang phía đông

Bếp cũ ở phòng tây bắc, chỗ chữ Kiền, dời sang phòng đông, chỗ chữ Hợi, thuộc cung Chấn; gia trưởng thuộc cung Kiền. Quẻ thành Kiền trên, Kiền giữa, Chấn dưới, hợp hai sao Ngũ Quỷ, Phục Vị. Năm tháng Dần Ngọ Tuất hại con trưởng, dâu trưởng và con nhỏ, thêm hỏa hoạn, trộm cướp, bệnh tật.

Tám sơn, sáu chặng đặt bếp

Có một lối khác không cần dựng quẻ: đếm chỗ đặt bếp theo từng nhịp sáu bước, nhịp nào lành thì đặt, nhịp nào dữ thì tránh.

Các sơn được chia thành ba nhóm theo âm dương của hướng nhà. Nhóm Tý Ngọ Mão Dậu Giáp Canh Bính Nhâm bắt đầu đếm từ Nhâm Tý; nhóm Dần Thân Tỵ Hợi Kiền Khôn Cấn Tốn bắt đầu từ Quý Sửu; nhóm Thìn Tuất Sửu Mùi Ất Canh Đinh Nhâm bắt đầu từ Kiền Hợi. Từ điểm khởi, đi qua mười hai vị trí theo thứ tự Nhâm Tý, Quý Sửu, Cấn Dần, Giáp Mão, Ất Thìn, Tốn Tỵ, Bính Ngọ, Đinh Mùi, Khôn Thân, Canh Dậu, Tân Tuất, Kiền Hợi, và cứ sáu vị lại quay vòng một lần với sáu tên: nhất Long, nhị Vũ, tam Âm, tứ Hổ, ngũ Xà, lục Trận.

Trong sáu tên ấy, Long và Hổ là cát; Vũ, Âm, Xà, Trận đều hung. Vì thế, khi đặt bếp, phải đếm tới vị nào là Long hoặc Hổ thì mới yên tâm đặt.

Về cách đặt miệng bếp, ngồi phía đông cửa bếp quay sang tây, hoặc ngồi phía tây cửa bếp quay sang đông, đều lành. Ngồi ở phía nam thì hung. Bếp dài bảy thước chín tấc hoặc chín thước, bên trên tượng Bắc Đẩu, bên dưới tượng chín chân, rộng bốn thước tượng bốn mùa, thì gia nghiệp giàu có.

Đào giếng theo từng sơn của nhà

Giếng là mạch nước của cả nhà, nên cũng bị ràng buộc bởi nơi nhà ngồi và hướng mạch đất chảy tới. Mỗi sơn có hai điểm quan trọng là chỗ Sinh và Vượng.

Kiền Giáp Nhâm sơn thuộc Kim, Tỵ là Sinh, Dậu là Vượng. Mạch đất tới từ phương đông thì giếng đào ở Tỵ hoặc Dậu, nước giếng sẽ trong sạch. Mạch tới từ phương tây thì giếng đào ở Thân hoặc Tỵ rất lợi; đào ở Dậu thì bất lợi cho thiếu niên trong nhà. Mạch tới từ phương bắc thì giếng ở Ất là lành, ở Dậu là dữ.

Khôn Ất Quý sơn thuộc Thổ, Thân là Sinh, Tý là Vượng. Mạch tới từ đông, giếng ở Thân hoặc Tý đều lợi. Mạch tới từ tây, giếng ở Thân hoặc Tý là cực lợi. Mạch tới từ nam, giếng ở Thân lành, ở Tý dữ. Mạch tới từ bắc, giếng ở Thân lành, ở Tý dữ.

Cấn Bính sơn thuộc Thổ, Sinh ở Thân, Vượng ở Tý. Mạch tới từ đông, giếng ở Thân hoặc Tý khiến nhà phát tài. Mạch tới từ tây, giếng ở Thân lành, ở Tý dữ. Mạch tới từ nam, giếng ở Tý lành, ở Thân dữ. Mạch tới từ bắc, giếng ở Tý lành, ở Thân dữ.

Tốn Tân sơn thuộc Mộc, Sinh ở Hợi, Vượng ở Mão. Mạch tới từ đông, giếng ở Mão lành, ở Hợi bất lợi. Mạch tới từ tây, giếng ở Hợi hay Mão đều bất lợi. Mạch tới từ nam, giếng ở Hợi là tốt nhất, ở Mão thì hao tài, con nhỏ chết sớm. Mạch tới từ bắc, giếng ở Mão lành, ở Hợi dữ, con cái bất hiếu.

Chấn Canh Hợi Mùi sơn thuộc Mộc, Sinh ở Hợi, Vượng ở Mão. Mạch tới từ đông, giếng ở Mão lành, đời con còn hưng vượng, ở Hợi bất lợi. Mạch tới từ tây, giếng ở Mão thì nước trong lành. Mạch tới từ nam, giếng ở Mão lành, ở Hợi bất lợi. Mạch tới từ bắc, giếng ở Hợi lành, ở Mão dữ.

Ly Dần Tuất sơn thuộc Hỏa, Sinh ở Dần, Vượng ở Ngọ. Mạch tới từ đông, giếng ở Dần là tốt nhất, ở Ngọ bất lợi. Mạch tới từ tây, giếng ở Ngọ là tốt nhất, ở Dần bất lợi. Mạch tới từ nam, giếng ở Ngọ lành, ở Dần dữ. Mạch tới từ bắc, giếng ở Dần lành.

Khảm Thân Thìn sơn thuộc Thủy, Sinh ở Thân, Vượng ở Tý. Mạch tới từ đông, giếng ở Thân hoặc Tý tốt nhất, ở Thìn cũng lành. Mạch tới từ tây, giếng ở Thân tốt nhất, ở Tý dữ. Mạch tới từ nam, giếng ở Tý tốt nhất. Mạch tới từ bắc, giếng ở Thìn tốt, nhà phát tài.

Đoài Đinh Tỵ Sửu sơn thuộc Kim, Sinh ở Tỵ, Vượng ở Dậu. Mạch tới từ đông nên đào giếng ở Tỵ. Mạch tới từ tây, giếng ở Dậu là tốt nhất. Mạch tới từ nam, giếng ở Tỵ hay Dậu đều không lợi. Mạch tới từ bắc, giếng ở Thìn nhà sẽ phát tài.

Tám cung an thân, nhà kho, chỗ xay bột và gian vệ sinh

Ngoài bếp và giếng, những gian phụ cũng cần đúng chỗ. Bước đầu là biết mỗi cung của nhà nên an Phục Vị hay Diên Niên ở phương nào.

Cung Kiền an Phục Vị Kiền, cung Khảm an Phục Vị Khảm, cung Cấn an Phục Vị Cấn. Cung Chấn an Diên Niên ở Tốn, cung Tốn an Diên Niên ở Chấn. Cung Ly an Thiên Y ở Tốn. Cung Khôn an Diên Niên ở Kiền, cung Đoài an Diên Niên ở Cấn.

Nhà kho phải đặt hợp với phương Sinh Khí của tám cung. Gian xay bột thì đặt hợp với phương Ngũ Quỷ về phía Lộc của tám cung, ví dụ Giáp sơn thì ở phương Dần, Nhâm sơn thì ở phương Hợi.

Gian vệ sinh kỵ đặt ở các phương Tý, Ngọ, Mão, Dậu, Dần, Thân, Ất, Hợi, Kiền, Khôn, Cấn, Tốn. Không được đối diện cửa trước, không đối diện đòn dông, không nằm trên thân Long, và phải tránh xa bếp cùng giếng. Đặt ở phương Kiền thì giảm thọ, ở phương Hợi thì sinh bệnh, ở phương Nhâm thì rất tốt, ở phương Tý thì tổn hại nhân khẩu, ở phương Sửu hoặc Cấn thì lành.

Hầm hố ở tám phương và điều đi theo

Bếp, giếng, chuồng đều là chỗ người ta chủ động đặt. Còn một thứ nhiều khi tự có sẵn quanh nhà: những chỗ trũng, hố sâu.

Hầm hố ở vị Sửu thì người nhà phải ra trận. Ở vị Cấn thì bị thầy mo làm hại. Ở vị Dần thì bị thú dữ cắn, bỏ xác nơi đất khách. Ở Giáp và Mão thì sinh bệnh về mắt. Ở Ất và Thìn thì gặp tai nạn đường thủy. Ở vị Tốn thì vướng kiện tụng, đàn ông suy bại, con gái đoản mệnh. Ở Ngọ và Bính thì có hỏa hoạn. Ở Mùi và Đinh thì mắc bệnh lao. Ở vị Dậu thì nghèo khổ. Ở Tuất và Hợi thì bị trộm cướp, tà ma xâm nhập. Ở Nhâm và Tý thì cả họ tuyệt tự.

Chuồng nuôi lục súc cũng có chỗ riêng của từng loài

Mỗi loài vật hợp với một cung sao. Cung Nhất Đức hợp nuôi ngựa, cung Tam Thai hợp nuôi heo, cung Kỳ La hợp nuôi trâu bò, cung Tham Lang hợp nuôi gà vịt. Tý và Ngọ là nơi Thái Dương chiếu, hợp cho sự sinh trưởng của lục súc nói chung. Sửu Mùi cùng cung Tam Thai là chỗ nuôi heo. Khôn, Cấn cùng Kỳ La là chỗ tốt nhất để nuôi trâu bò. Nhâm Bính cùng Tham Lang hợp nuôi gà vịt. Ất, Tân và chỗ Tử Khí hợp nuôi dê.

Cách tìm trung cung để đếm các vị trí này như sau. Nhà có phòng trà thì lấy phòng trà làm trung cung. Không có phòng trà, nhà một gian lấy đòn dông làm trung cung, nhà hai gian lấy thiên tỉnh làm trung cung, nhà ba gian lấy cột giữa làm trung cung. Từ trung cung rồi tìm hướng đi, chọn vị trí lành để nuôi lục súc cho thuận.

Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 2.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Đạo Gia