Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Đạo Gia

Bài tổng quan

Tạo hóa dành đất quý và phép chọn huyệt trong gang tấc

Đạo Học - Đạo Gia06/10/202611 phút đọc2 lượt đọc
Tạo hóa dành đất quý và phép chọn huyệt trong gang tấc

Có những huyệt đại cát mà thầy địa lý giỏi đến mấy cũng đi ngang không thấy, vì tạo hóa cố ý để dành cho người có phúc lớn. Bàn tay và cánh tay cùng một thân người mà huyết mạch khác nhau như băng giá với hỏa nham. Chọn huyệt cũng thế: cách nhau một gang tay thì tiếp khí hay thoát khí đã là một trời một vực, vậy ai đủ tinh để nhận ra?


Trời để dành đất quý cho người có phúc

Có những huyệt đại cát mà thầy địa lý giỏi đến mấy cũng đi ngang không thấy. Người xưa không cho rằng đó là chuyện tiên nhân sơ sót để mất. Họ tin rằng tạo hóa cố ý giữ lại chỗ tốt đẹp ấy cho người biết tích thiện.

Chẳng phải thuật sư không nhìn ra huyệt đại cát lợi, mà là tạo hóa cố ý để dành chỗ tốt đẹp cho người có phúc lớn được hưởng.

Lời ấy là của Dương Công: đất quý không phải ai tìm cũng thấy, vì tạo hóa đã sắp sẵn người có phúc để nhận lấy.

Gang tấc mà cách nhau như mây với bùn

Cái khác nhau giữa huyệt thật và huyệt giả nhiều khi chỉ nhỏ bằng khoảng cách giữa hai ngón tay.

Bàn tay tả và cánh tay hữu có huyết mạch khác nhau như băng giá với hỏa nham.

Mạch ở bàn tay hiền hòa, thong thả; mạch ở cánh tay thẳng và gấp. Một bên thuộc âm, một bên thuộc dương, một chậm một nhanh, ngay trên cùng một thân người mà tính chất lạnh nóng cách xa như đá băng với đá lửa.

Ngón giữa với ngón út gần nhau trong gang tấc, nhưng khác nhau như mây trời với bùn đất.

Giữa hai ngón ấy chỉ cách nhau đúng một ngón đeo nhẫn. Phép điểm huyệt cũng thế. Có cách đặt huyệt đón thẳng sinh khí, gọi là chính thụ, có cách đặt lệch khiến khí chạy mất, gọi là tà thụ. Hai chỗ đặt cách nhau chưa đầy một gang tay, vậy mà một bên tiếp được khí, một bên để khí thoát, kết quả cách nhau một trời một vực.

Thoát long tựu cục, đa phần bị hạn chế bởi triều nghênh.

Thoát long là bỏ long mạch mà lấy thế cục của minh đường. Nhiều thầy khi cắm huyệt bị cục thế chật hẹp bó tay, không dám làm khác. Nếu dám rời mạch chính, đổi sang chỗ có minh đường rộng thêm chân khí, thì không cần vì chuyện núi chầu có đủ hay không mà bỏ lỡ huyệt vị.

Nơi lớn tìm chỗ nhỏ, nơi nhỏ tìm chỗ lớn

Trong một vùng núi, chỗ nên đặt huyệt thường ngược với chỗ mắt thường chú ý trước.

Nơi lớn thì tìm chỗ nhỏ, nơi nhỏ tìm chỗ lớn.

Khi cả dãy núi đều nhỏ thấp, huyệt mạch nằm ở ngọn lớn nhất. Khi cả dãy đều đồ sộ, huyệt mạch lại ẩn ở chỗ nhỏ nhất. Núi cao thì phải cúi xuống chỗ thấp mà tìm.

Hoành sơn phải thụ huyệt dọc, trực sơn phải thụ huyệt ngang.

Núi chạy ngang thì huyệt đặt theo chiều dọc, núi chạy thẳng thì huyệt đặt theo chiều ngang. Muốn lấy huyệt trên một dãy núi chạy ngang, phải có núi che chống hai bên. Không có chỗ yểm hộ thì không thể đặt huyệt.

Huyệt quý nhất khi có triều sơn đoan chính, tức là núi chủ và núi khách nghênh tiếp nhau có tình. Vị trí ấy tinh vi đến mức dời huyệt một bước thì đất dời một tấc, núi dời một trượng. Núi đã dời thì dòng nước cũng đổi theo, và chỗ đất quý theo đó mà biến động.

Còn hình thế bên trong và bên ngoài thì xét như sau. Sa phong bên trong tuy thẳng, nhưng sa ngoài uốn như móc câu thì lúc đầu tuy kém, về sau lại phát đạt, nên cắm được. Ngược lại, sa trong uốn vòng mà sa ngoài chạy thẳng đi không chút tình ý thì lúc đầu có lợi nhỏ, cuối cùng đại bại, không thể cắm.

Sơn vốn tĩnh nên cần chọn thế động; thủy vốn động nên quý ở thế tĩnh.

Núi là vật tĩnh, cho nên cái quý của núi là nhấp nhô, chạy tới, tìm cái động trong cái tĩnh. Nước là vật động, cho nên cái quý của nước là tĩnh lặng, tụ hội, trong veo, tìm cái tĩnh trong cái động. Tĩnh là chỗ nước ngừng chảy, động là nhịp thoái hóa của long mạch. Nơi các dãy núi dừng hẳn là nơi huyệt thật nằm, nơi nhiều dòng nước tụ về là nơi có minh đường.

Giữa minh đường cần lõm xuống để tụ, còn sau huyệt thì kiêng nhất hình chiếc ngói ngửa. Khẩu quyết xưa hỏi: thế nào là không vong? Đáp rằng đó là chỗ sau huyệt trống trải, lộ ra hình ngói nằm ngửa.

Quan tinh, quỷ tinh và dáng núi trước huyệt

Muốn biết một huyệt thật hay giả, hãy nhìn ra hai phía: phía trước có gì chứng, phía sau có gì đỡ.

Huyệt thật thì có quan, có quỷ; huyệt giả thì không. Khi núi án bao quanh phía trước mà dư khí trào ra, gọi là quan tinh. Khi dư khí hiện ở phía sau huyệt, gọi là quỷ tinh. Hình dạng của chúng rất lạ, tên gọi rất nhiều, phúc phận cũng phong phú, nhưng nói gọn thì đều là những biến dạng của chín sao.

Thế núi ngoài chầu vào mà bên trong chật chội thì huyệt phải đặt cao. Núi thô tráng, hình gấp gáp thì huyệt phải đặt ôn hòa. Đặt cao thì mọi hung hiểm rơi xuống dưới, đặt ôn hòa thì bốn bề trở nên hòa hoãn. Còn núi hung ác thì hướng về nơi nào, tai họa kéo đến nơi ấy rất nhanh.

Núi trước huyệt nhọn như mũi tên, nham nhở, thô lậu đều là hung. Dòng nước chảy gấp thì xấu, song nếu đứng trên huyệt không nhìn thấy nó thì tai họa đến chậm hơn. Nước quay lưng chảy vội đi, nghe tiếng xối vào đá ào ào, là điềm hung. Đứng giữa huyệt mà không thấy dòng nước thì họa cũng đến chậm.

Kiêng ẩm thấp, giữ cho kín gió

Nơi lập huyệt có suối nước, đất bùn ẩm ướt thì chủ hung họa, phải tránh. Ngược lại, nếu thế đất như nhiều bông sen hồng quần tụ, yểm hộ dày đặc hai bên, thì huyệt nằm chính giữa. Quần sơn quần thủy chầu vào như các vì sao quây quanh sao Bắc cực cũng là huyệt đại quý.

Núi án phía trước tạp loạn, không có dáng chầu cân xứng, nhưng minh đường có ao hồ sâu thì vẫn là đất quý. Núi phía sau chênh vênh cheo leo là nơi chứa sát khí, dù trên đó có chỗ lõm cũng khó tránh suy bại, kỵ nhất lập huyệt ở đấy.

Long thu vuốt giấu răng khi sắp kết huyệt

Chân long không phô diễn ở chỗ cuối cùng. Cái đẹp của nó là cái đã được thu lại.

Hình thế kỳ quái, ta lấy người bỏ.

Long thật đi từ rất xa, nơi tận cùng thường kết thành huyệt dị dạng. Người có tài cắm huyệt ở đó, kẻ bất tài thấy xấu mà bỏ không lấy.

Long mạch thu móng vuốt, giấu răng, mấy ai biết là gặp thủy tạo thành chân huyệt.

Khi long còn đang chạy, nó nhe nanh múa vuốt. Đến lúc sắp kết huyệt, nó thu vuốt giấu răng: nhọn hóa tròn, động hóa tĩnh. Đó mới là chân long, chân huyệt.

Long vượt sông thì vô hình vô ảnh, vì thạch cốt ẩn chìm không thấy. Muốn hiểu bí mật ấy phải nhìn kỹ hình thế hai bên bờ. Giữa đất bằng mà thấy vài chỗ nhô lên, lớn nhỏ khác nhau, khiến người khó hiểu, đó là chân khí cát lợi từ dưới đẩy lên nên mặt đất chỗ này chỗ kia gồ lên. Mạch đi trên bình địa cũng ẩn hiện khó biết, và nếu không có dòng nước phân giới thì không thể biết long đang tiến đến đâu, dừng ở đâu.

Đất bằng, núi cao và dòng nước chảy thẳng

Nơi bình dương, tầng đất mỏng, nên đào nông; đào sâu thì mạch nước xói lở gây họa. Ngược lại núi hình cao gầy bốn phía thì huyệt kết trên cao, mà huyệt trên núi cao kỵ nhất chỗ lõm có gió, hoặc núi bốn bề che chắn không nổi, khuyết hãm hai bên, sinh khí sẽ tiêu tán gây tai họa liên miên.

Nước trước minh đường phải uốn lượn mà đến hoặc mà đi mới cát. Nước xối thẳng như mũi tên, hoặc có hình chữ Xuyên, chữ Bát là hung hiểm. Còn màu đất: trong năm sắc chỉ có vàng là chính sắc, vàng hồng càng đẹp, pha trắng càng hay. Đất đá xanh đen và cứng, đào không nổi là điềm hung. Núi đá phía trên huyệt cheo leo cũng không cát.

Một ngọn núi đứng riêng cũng dùng được làm huyệt, miễn bốn phía có che chắn. Nếu hình thế như trăng sao, như rắn cá, lại là long chân huyệt chính thì đơn sơn độc lũng vẫn có thể an cư. Nhưng núi đá trơ trọi, không có gì che trước sau thì là nơi mạch tận khí cùng, tuyệt đối không kết huyệt. Gió thổi và thủy kiếp cũng vậy: không thể hạ huyệt.

Một bên tả dài rộng vô tận mà bên hữu chẳng có vật gì thì là đất bỏ đi, chỉ có họa hại.

Cái hiệp quyết định, cao thấp quyết định, nước phải uốn khúc

Hiệp là chỗ eo thắt do tạo hóa làm ra và có sức quyết định với long mạch. Qua hiệp mà hai bên không có hộ vệ, lại bị gió thổi, thủy kiếp, thì chỉ phát phần nào, phúc phận bình thường. Nếu hai bên có hộ vệ thì huyệt kết phía trước nhất định phát mạnh, phúc lớn. Lý do là huyệt do hiệp sinh ra cũng như người thụ thai: lúc mang thai mà mẹ có bệnh thì con sinh ra ắt ốm yếu kém cỏi.

Nước đúng phép phải có vũng đọng ở phía sau mỗi đoạn uốn lượn. Không uốn, không có vũng đọng là vô tình.

Chuyện cao thấp cũng thế. Huyệt đặt cao quá thì chóng phát nhưng cũng chóng tàn như hoa. Huyệt đặt thấp tuy phát chậm hơn nhưng bền hơn. Song đặt quá thấp lại gần với môi miệng của thế đất, điểm huyệt chậm thì mất chân khí, hại cho phần ấy. Có đất quý rồi mà cao thấp nông sâu sai phép thì vẫn hung.

Chọn ngày giờ và người cầm la bàn

Định hướng lấy phương Tý Ngọ làm chính. An táng hay làm nhà đều phải chọn ngày giờ tháng năm. Thời Dương Công, ngày tháng được chọn rất kỹ, hoặc xem hướng, hoặc xem có hợp mệnh người chết lẫn người sống. Tóm lại là chọn Lộc, Mã cho hợp với người. Các thầy ngày nay chọn ngày chỉ tránh hung sát, không tính đến sự tương hợp của Lộc, Mã, quý nhân và hướng long mạch, như vậy là chưa đủ.

Núi non khuyết điểm không làm giảm phúc dày của chân long. Nhưng chọn sai năm tháng thì đất cát cũng hóa tai họa. Sơn cát, thủy cát, huyệt cũng cát, mà tai họa liên tiếp ập đến, ấy là vì năm hung, tháng hung, ngày cũng hung. Bởi vậy phải cần thầy giỏi.

Thầy phong thủy phải coi âm đức là trọng, đừng tham cái lợi trước mắt mà hại cho người. Xem bói chọn đất không tinh mà làm bậy là đại họa cho mọi người. Thầy thuốc chữa bệnh dở chỉ hại một người, còn thầy địa lý không tinh thông thì hại cả một dòng họ. Điều này không được xem thường.

Họa phúc theo nước, theo núi và theo tam cát

Cát hung ứng nghiệm nhanh hay chậm, do cái gì đang động và cái gì đang đứng yên.

Núi là vật tĩnh lâu năm nên họa phúc ứng chậm. Nước là vật động suốt ngày đêm nên cát hung ứng rất nhanh. Địa hình có cát mà mai táng sai phép thì rốt cuộc vẫn là hung họa. Long mạch tuy tốt, nhưng chôn không đúng chính huyệt, phương hướng không hợp với nước, thì gọi là hung táng.

Muốn định cát hung, lấy ba sao tốt là Tham Lang, Cự Môn và Vũ Khúc làm chuẩn. Xem long thì đứng từ huyệt tiến một bước, lùi một bước, đếm xem mạch có mấy tiết rồi định. Thấy đủ ba sao tốt thì cả đời phát đạt. Xem nước thì cũng tiến phía trước huyệt một bước mà nhìn. Sau vài bước thấy chỗ nước trong và sâu thì phát tài chừng ấy năm, còn thấy nước chảy xiết thì chừng ấy năm hung hiểm.

Kiếp hại, tức sơn thủy hung ác, xuất phát từ nơi nào thì ứng nghiệm ở tam hợp và tứ xung của nơi ấy. Tam hợp như Dần Ngọ Tuất, tứ xung như Tý Ngọ Mão Dậu.

Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 2.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Đạo Gia