Bài tổng quan
Rùa thần, sen vàng, ngọc nữ và những thế đất ứng sao
Một con rùa đen bơi về phương nam: nếu nước chảy đến là Kim, Mộc thì rùa tung tăng, nếu là Hỏa, Thổ thì khí khô nóng, không thể chôn cất. Người xưa đọc thế đất qua mười sáu hình tượng, mỗi hình gắn với một chòm sao riêng. Vì sao dáng ngọc nữ trải giường có thể sinh phò mã, mà chỉ cần khí Kim chen vào là thành cảnh bần cùng?
Mục lục · 9 phần
- 01Nước Tốn dương và chuyện thế đất nên ẩn hơn nên lộ
- 02Đuôi ngựa phi và chuyện nước tây sinh con gái đẹp
- 03Mặt trời mặt trăng chia sao, táng dương ngự âm
- 04Rùa thần bơi về phương nam và hai long mạch về Cấn
- 05Xuân gặp hồ, mâm vàng mở nắp, mâm vàng ngọc đứng
- 06Ngọc nữ trải giường và bảy sao Thiên Hỗn
- 07Châu thai tả nguyệt và nhạn đáp bãi cát
- 08Sen vàng nghiêng giọt sương và ngọc hoành treo sao Đẩu
- 09Thiên Khu và Địa Trục: hai sao nổi danh quý hiển
Nước Tốn dương và chuyện thế đất nên ẩn hơn nên lộ
Triều hỏi: Quách Phác vẽ các bản đồ địa lý phong thủy, chuyên giải thích chân khí ngũ hành. Từ thế của mạch rồng mà hiểu tình của mạch, từ tình của mạch mà hiểu tình trạng của huyệt, từ tình trạng huyệt mà hiểu phương vị, cuối cùng từ phương vị mà hiểu phương hướng. Nay xem đồ hình này, rồng Cấn mạch Hợi, nước Tốn chầu về cục tròn, tuy cát lợi nhưng chưa chắc đã là thượng cách. Vì sao lại nói nếu hướng lên ứng với sao Đẩu Hộc thì sinh ra dòng dõi tôn quý?
Nguyên đáp: ngũ hành sinh khắc là ở chỗ này. Nếu lộ ra đột ngột thì không thể quý hiển, còn ẩn giấu kín đáo, bên ngoài vụng về bên trong khéo léo mới là kỳ diệu. Ở đây nước Tốn có được dương khí thịnh vượng, nhờ tinh khí của mặt trời mặt trăng đang sinh vượng, uốn lượn vòng vèo mà tới, nên coi là được nước dương trữ lộc. Minh đường vẹn toàn vững chắc, sa thấp quanh co che chở, khí thế mạch rồng hùng vĩ, lại chọn Thiên Hoàng nhập huyệt, chín ngôi sao Đẩu Hộc chiếu rọi hướng đông nam, ắt sinh đại quan giàu sang.
Đuôi ngựa phi và chuyện nước tây sinh con gái đẹp
Cùng một dòng nước, từ phương này tới thì sinh con gái xinh đẹp, từ phương khác tới thì sinh quan lớn.
Triều hỏi: mạch rồng của đại địa phóng túng như đuôi ngựa đang phi, có mạch Cấn phương đông, tiến vào vị Hợi, thành huyệt, nước Tân chảy tới và kéo dài. Lời xưa nói nếu nước từ phương tây chảy đến thì châu ngọc dồn về, sinh con gái tươi đẹp như hoa, thông minh lanh lợi. Nếu huyệt dựa vào mạch Hùng Thái Ất ở phương đông nam, nước chảy tới, sa thanh tú thì chủ nhân sớm làm đại quan trong triều. Phán đoán như vậy có phù hợp thực tế không?
Nguyên đáp: lời xưa vốn dựa vào lý luận của Quách Phác, căn cứ vào sinh khắc của ngũ hành. Nếu nước Tân chầu về cục đất thì khí âm nhu dày đặc, nên sinh con gái xinh đẹp thông minh hoặc sớm được thăng quan tiến chức. Điều vừa nói cũng tương tự như chòm sao Tả kỳ thanh tú và Vũ Khúc hóa mỹ lệ, có gì sai lạc, khác biệt đâu.
Mặt trời mặt trăng chia sao, táng dương ngự âm
Triều hỏi: mặt trời và mặt trăng mỗi bên có tinh khí riêng, chia thành hai miếu âm dương, nên gọi là Thiên miếu. Còn cách táng dương ngự âm là thế nào?
Nguyên đáp: nói táng dương tức là chầu về hướng Tốn, Ly; nói ngự âm tức là các dòng nước theo cùng. Cách táng dương ngự âm chủ cả nam lẫn nữ đều vinh hoa, phú quý song toàn, làm hoàng phi hoặc làm thị sứ ở vị trí quan trọng bên nhà vua.
Triều hỏi: năm mươi tinh tú của chòm Lang Vị quây tụ mà chiếu rọi cả một vùng, sinh khí mạnh mẽ chảy động, không biết có phù hợp ngũ hành không?
Nguyên đáp: giữa trời đất bao la chỉ có sinh khí ngũ hành chuyển động đan xen nhau. Sinh khí đặc ở bên trong, sắc trạch bao phủ bên ngoài. Sinh khí và sắc trạch của ngũ hành có độ thịnh suy khác nhau, nên cát tường hay hung sát cũng khác nhau. Không thể tìm cái lý ấy ở ngoài chuyện thịnh suy của ngũ hành.
Rùa thần bơi về phương nam và hai long mạch về Cấn
Triều hỏi: Quách Phác nói một long huyệt có hình dạng như con rùa bắt mồi một cách khéo léo, sao Lục Giáp trên trời rọi sáng lung linh thì huyệt nằm ở phần thân tròn mập của rùa. Không biết nên chọn âm dương của long huyệt thế nào?
Nguyên đáp: hễ thấy dương khí dồn về các phương Ly, Tốn, Bính, Đinh thì hay nhất là dáng Kim, Mộc mà kỵ nhất là dáng Hỏa, Thổ. Nếu thấy một long huyệt giống như con rùa đen bơi về hướng nam thì phải quan sát kỹ ngũ hành của nước thuộc loại nào. Nếu là dáng Hỏa, Thổ thì khí của nó quá khô nóng, không thể mai táng, vì Hỏa Thổ ở phương nam quá nặng nề. Nếu nước Kim, Mộc chảy tới thì rùa thần tung tăng bơi lội, hai khí âm dương ứng hợp với sao Lục Giáp trên trời, mai táng ở đầu hay ở thân rùa đều tốt. Nếu nước từ cung Khôn ở tây nam chảy đến cũng rất hợp với rùa thần.
Triều hỏi: nếu cung Cấn có hai mạch rồng chạy tới, vị Canh có một dòng nước, thì phân biệt hai huyệt là âm đến hay dương đến. Như hai sao Thái Vi và một sao khác chia nhau ở hai bên trái phải, nắm giữ phép độ. Không biết long huyệt này có liên quan đến sinh vượng của âm dương ngũ hành không?
Nguyên đáp: long huyệt trên đại địa thiên biến vạn hóa, đủ muôn hình nghìn dạng, chỉ cần nắm chắc điểm mấu chốt của đạo lý. Sinh khí trong ngũ hành có vượng có suy, hơi thở trong ngũ hành cũng vậy. Trên đồ hình này, sa vây bọc bên trong, nước uốn lượn ở một bên, khí dương cương cường đầy đặn, tụ hội, quả là cách kỳ diệu. Khi mạch rồng từ cung Cấn chạy tới, đến Dần thì ngưng, Hỏa nặng thì Thổ sinh, sinh sinh bất tận; hình thế giống hai vị trí trọng yếu nằm giữa quyền bính.
Xuân gặp hồ, mâm vàng mở nắp, mâm vàng ngọc đứng
Có thế đất sinh con cháu đông đúc, có thế đất như chiếc hộp vàng vừa mở: khí bên trong lẫn bên ngoài đều được giữ kín.
Triều hỏi: một huyệt Thần Cung, hai dòng nước, rồng Cấn phối hợp, có thể phú quý vinh hiển. Lời xưa viết huyệt như thế chủ con cháu hưng vượng, tôn quý. Vì sao như vậy?
Nguyên đáp: chòm sao Thần Cung gồm chín ngôi, chủ gia tộc hưng vượng, con cháu đầy nhà; mạch rồng phối hợp với nước hồ. Vợ chồng hòa hợp. Huyệt này sinh khí sung mãn, chảy động không ngừng, gọi là xuân giao thủy nguyệt, chủ con cháu đông đúc, phú quý vinh hoa.
Triều hỏi: đồ hình này bên ngoài chỉnh tề nhưng bên trong lộn xộn. Rồng Hợi hướng Cấn tới vị Đinh, Quý, có khi chính là Thổ trong Kim sinh ra.
Nguyên đáp: Hỏa là ánh sáng của sao Kim, dễ thành quan cao quý hiển. Hướng nước Quý chính là con của sao Kim, dựng huyệt rất thích hợp. Ranh giới phân minh, bao bọc kín đáo, sa vây bọc ở chỗ đầu ra, quả là hoàn mỹ. Nếu mai táng đúng phép thì huyệt này càng tăng phú quý vinh hoa gấp bội.
Triều hỏi: đồ hình này mạch chuyển Hợi, Kim nương Thủy, hướng cung nam là Ly Hỏa khắc Kim. Kim Hỏa khắc nhau, thần nước áp chế. Đó là con cứu mẹ, là huyệt cát lợi. Hướng lên ứng với sao Thiên Khuân có nghĩa gì?
Nguyên đáp: chòm sao Thiên Khuân giống như kho lẫm, là đụn thóc của trời, ngụ ý tích tụ. Khí bên trong sung mãn, khí bên ngoài vây bọc.
Ngọc nữ trải giường và bảy sao Thiên Hỗn
Triều hỏi: cách ngọc nữ trải giường chủ sinh phò mã hoặc nhân vật kiệt xuất, có phải ý như vậy?
Nguyên đáp: ở đây toàn là Thổ tinh và Mộc tinh cực kỳ thịnh vượng nên có được Thủy tinh. Ba ngôi sao ở cung Ly phương nam, địa thế bốn phía bằng phẳng, ba ngôi sao xếp có thứ tự, sự cát tường rõ ràng. Chấn là trưởng nam, khởi tổ chuyển sang Cấn, gặp Thổ sinh cơ hưng vượng, có phúc lộc mà vào huyệt, hướng về cung Ly, Mộc tinh trùng điệp xuất hiện, biến thành ánh Hỏa chói lọi. Ở đây mạch rồng ứng với sao Ngọc Nữ, là huyệt sinh phò mã hoặc chức vị cao sang. Nếu trong huyệt có khí Kim vận hành, phá vỡ cục Mộc thì thành cách bần tiện, khốn cùng. Vì vậy phải cẩn thận chọn lựa.
Triều hỏi: bảy ngôi sao chòm Thiên Hỗn nằm ở góc trời phía nam. Vì sao Thiên Hỗn hướng xuống ứng với bình phong và màn trướng hoa lệ lại là huyệt quý hiếm?
Nguyên đáp: sinh khí trong trời đất tụ thành khối như một thân thể con người trọn vẹn. Các dạng huyệt thông suốt, tụ hợp với nhau, vì địa khí thông suốt với nhau, chứa đựng vạn vật. Hình tượng trên đồ hình giống như Thiên Hỗn, giao nhau với màn trướng, bình phong, trọn vẹn như thân thể con người.
Châu thai tả nguyệt và nhạn đáp bãi cát
Ngọc gần thì tròn, nhạn đáp xuống bãi cát thì thành Kim tinh: mỗi hình dạng có cách hiểu riêng.
Triều hỏi: đồ hình châu thai tả nguyệt hướng lên ứng với Thiên Uyên là nghĩa gì?
Nguyên đáp: Thiên Uyên là nơi bờ trời hàm giấu châu báu, là chỗ mặt trăng sáng mọc lên. Đây là mạch âm huyệt dương. Tinh khí của Kim Thủy, núi án phía trước như chiếc hộp ngọc, phía sau có núi che chở, nên nói là ứng hợp với Thiên Uyên mà thành hình tượng châu thai tả nguyệt. Cách mai táng là chọn gần để ngọc tròn, chầu về phía mặt trăng, ứng với ba dòng sông thì được hưởng lộc nhà vua, vinh hoa phú quý vô tận.
Triều hỏi: Quách Phác nói ngắn lời, thực ra đều quy về tinh tú ngũ hành và phương vị ngũ hành, lấy tượng sinh khắc làm chính, lấy sao trời làm tượng. Lời luận giải của Quách Phác quả là hiểu đến chỗ tinh vi ảo diệu của phép cấu tạo mạch rồng. Ông nói thế nhạn đáp bãi cát này là Kim tinh; Kim tinh thường ở phía bắc hoặc phía tây, là chính vị; khí mạch Kim Thủy vào huyệt là nhận khí sinh vượng. Hướng lên ứng với vô số tinh tú kề vai nhau; nước Đoài chầu về cũng là nước đầy sinh khí. Kim vượng ắt làm võ, sao Văn Khuê nhờ đó mà sinh thành, vậy là có hình tượng Văn Khúc, Vũ Khúc. Lý giải như vậy có sai không?
Triều đáp: không hề sai.
Sen vàng nghiêng giọt sương và ngọc hoành treo sao Đẩu
Triều hỏi: chòm Tích Binh có mười hai sao, chủ về võ tướng, vì sao lại ứng với thế sen vàng nghiêng giọt sương?
Nguyên đáp: nói sen vàng nghiêng giọt sương là chỉ dáng cụ thể của mạch rồng trong trời đất. Mạch rồng chênh chếch chạy đến, nơi chọn huyệt giống như giọt sương đọng trên cánh hoa sen. Địa hình ấy ứng với chòm sao Tích Binh có mười hai ngôi, âm khí thịnh vượng nên uy vũ hùng tráng, khí phách hiên ngang. Vì vậy bảo nơi đây sinh võ tướng thống lĩnh nghìn quân vạn ngựa.
Triều hỏi: ngọc hoành treo sao Đẩu, trên ứng với trời xanh mà trên trời xanh có sao Bắc Đẩu, nói vậy là có ý gì?
Nguyên đáp: nói ngọc hoành là chỉ hình thái của thành nước. Nói đẩu là chỉ chỗ đất nước nương trên thành nước, có dáng như sao Bắc Đẩu. Nói trên ứng với trời xanh là chỉ dáng uốn lượn bao quanh của nó, nghĩa là trời đất cảm ứng, giao hợp nhau thì ắt nuôi dưỡng, sinh thành.
Thiên Khu và Địa Trục: hai sao nổi danh quý hiển
Triều hỏi: Thiên Khu với Địa Trục là hai ngôi sao. Quách Phác không nhắc đến sự vật nào khác, chỉ bảo hai tinh tú ấy đều chủ nổi danh quý hiển, vì sao?
Nguyên đáp: mạch lạc của gò đất nằm ở nơi đồng hoang mênh mông, khí ẩn giấu rất sâu, khó lộ ra và khó tụ lại. Nhưng nếu bên cạnh cửa nước có hai ngọn núi vững chắc trấn giữ thì không chỉ sinh khí được giấu kín đầy đủ mà khí mạch còn tụ lại, kết giao. Trước hết phải có long huyệt kỳ diệu, sau đó mới có thể chọn dùng.
Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 2.
