Bài tổng quan
Đại Ngọc kiêu hãnh, Bảo Thoa hai mặt, Phượng Thư miệng ngọt
Khi một người con gái khóc hoa rồi đốt thơ, nàng đang nói điều gì mà không dám nói thành lời? Cạnh nàng là một người đàn bà không rơi lệ trước cái chết của ai, và một người đàn bà cười đùa đến mức chẳng ai nỡ ghét. Ba cách sống trong cùng một nhà quyền quý, và ba kết cục rất khác…
Lâm Đại Ngọc: sự chống đối câm lặng của người con gái ở nhờ
Lâm Đại Ngọc là nhân vật tiêu biểu cho sự chống đối của nữ giới trước xã hội phong kiến. Cá tính của nàng tượng trưng cho sự bừng tỉnh của người phụ nữ ở thời kỳ cuối của xã hội ấy, và Hồng lâu mộng biểu thị nó bằng những hoạt động tâm lý rất tế nhị của một người con gái dám chống đối.
Cá tính ấy không tách khỏi thân thế và môi trường của nàng. Bố mẹ mất sớm, nàng ở nhờ nhà bà ngoại; không giàu có như nhà Bảo Thoa, cũng không hào hoa như nhà Sử Tương Vân. Giả Mẫu rất thương yêu nàng, nhưng đó vẫn là ở nhờ nhà họ hàng, thực sự là nương nhờ mái hiên nhà người, khiến Đại Ngọc luôn phải để ý mọi lúc mọi nơi.
Nếu sự chống đối của Giả Bảo Ngọc là hướng ngoại, như điên như dại, thì sự chống đối của Đại Ngọc hướng nội và câm lặng. Bảo Ngọc quẳng viên bội ngọc để phản kháng số mệnh kim ngọc, gần gũi nữ giới, chống lại con đường làm quan kinh bang tế thế của cha, si mê điên cuồng để bảo vệ tình yêu với Đại Ngọc và chống cuộc hôn nhân với Bảo Thoa; cho nên cá tính cậu bộc lộ và rõ nét. Cá tính Đại Ngọc thì hàm súc và kín đáo. Nàng khéo phán đoán, biết mò mẫm trạng thái tâm lý của đối phương. Vì thế ngay lời mào đầu khi nàng xuất hiện, người viết đã đặt một câu so sánh:
Tim đọ Tỉ Can hơn một khiếu.
Nàng mang ý nghĩ "tự ngẫm mình cao, không ai vừa mắt" và lớn lên trong môi trường "ba trăm sáu chục thoi đưa, gươm sương dao gió những chờ đâu đây", nên hình thành một cá tính cô đơn, cay độc, đa sầu đa cảm. Cá tính đó vốn không được thói đời chấp nhận. Thêm nữa, nàng dám tự do tìm kiếm hôn nhân theo tình yêu ngay trong một gia đình quý tộc, nơi lễ giáo nghiêm ngặt, nên tất nhiên bị tầng lớp thống trị tối cao như Giả Mẫu chế áp tàn khốc, và phải chịu số phận đã định sẵn.
Ba đoạn sáng nhất của một cá tính: cùng đọc Tây sương ký, chôn hoa, đốt thơ
Đại Ngọc ít khi nói điều mình nghĩ, nên ba việc nàng làm khi một mình mới là lời nói thật.
Ba chuyện biểu hiện cá tính Đại Ngọc hay nhất là: cùng đọc "Tây sương ký" với Bảo Ngọc, chôn hoa, và đốt cảo thơ dứt tình.
Dưới hòn núi đá trong vườn hoa, hai người cùng đọc "Tây sương ký", thể hiện sự chống đối của Đại Ngọc đối với lễ giáo phong kiến. Việc này nếu ở vào địa vị Tiết Bảo Thoa thì là hành vi "đại nghịch bất đạo", dứt khoát nàng không tham gia.
Cảnh chôn hoa, khóc than, phản ánh cá tính đa sầu đa cảm. "Ba trăm sáu chục thoi đưa, gươm sương dao gió những chờ đâu đây" là lý do dẫn đến cá tính ấy. Chỉ một câu "thân kia trong trắng muôn vàn" đã tả rõ cốt cách kiêu ngạo của nàng. Những câu thơ:
Ngẫm khi xuân muộn hoa tàn, cũng là khi khách hồng nhan về già.
Hồng nhan thấm thoát xuân qua, hoa tàn người vắng ai mà biết ai.
không phải lời than của những cô gái đẹp muộn xuân tầm thường.
Đoạn đốt cảo thơ dứt tình: Đại Ngọc nghe tin Bảo Ngọc cưới Bảo Thoa từ miệng chị cả ngốc, bàng hoàng quay cuồng, đem cảo thơ đốt hết. Đó là biểu lộ sự thất bại triệt để của nàng trước "lương duyên kim ngọc", và việc đốt này đã in dấu trong khúc "Bạc mệnh ty". Số mệnh nàng cũng đã ghi trong khúc "Uổng ngưng mi":
Một bên đeo đẳng hão huyền uổng công.
Một bên trăng dọi bên sông,
Một bên hoa nở bóng lồng trong gương.
Cá tính của Đại Ngọc sáng chói, đẹp nhất, thuần khiết không một vết nhơ chính là "thân kia trong trắng muôn vàn". Cuộc đời nàng như bông sen vượt khỏi bùn nhơ; cái chết của nàng là sự giày xéo bông phù dung nước của xã hội phong kiến.
Tiết Bảo Thoa: người giữ lễ giáo cũng là vật hy sinh của lễ giáo
Giữ chuẩn mực cho cả đời có thể đổi lấy sự quý trọng của mọi người, và cũng có thể đổi lấy một trái tim đã nguội.
Tiết Bảo Thoa là một trong những nhân vật điển hình của truyện, thuộc hàng nữ giới chính thống bảo vệ đạo đức. Đặc điểm cá tính của nàng là tính cách kép: nàng bảo vệ xã hội phong kiến, nhưng đồng thời cũng là vật hy sinh của chế độ ấy.
Nàng vừa mang bản chất lạnh lùng, ác độc của chế độ, vừa có sự tu dưỡng đạo đức chính thống của thục nữ phong kiến, nên nội tâm khi thì nhu mì thanh lịch, khi lại lạnh lùng ác độc. Trong Giả phủ, nàng biểu hiện một cá tính trái hẳn với kiểu "tự ngẫm mình cao, không ai vừa mắt" của Đại Ngọc. Phẩm hạnh đoan trang, khiêm nhường, cung kính của nàng được trên dưới Giả phủ ca ngợi. Dung mạo rất đẹp: "mặt như mâm bạc, mắt sáng long lanh, môi không tô mà đỏ, mày không kẻ vẫn xanh, có dáng vẻ thuỷ mị phong lưu khác với Lâm Đại Ngọc", gây ấn tượng là một thục nữ xinh đẹp, hiền dịu. Nhưng trước một số sự kiện trọng đại, như cái chết của Kim Xuyến, của chị ba Vưu, của Lâm Đại Ngọc, bản chất nàng bộc lộ rõ.
Kim Xuyến nhảy giếng chết, người gây ra cái chết ấy là Vương phu nhân còn biết nhỏ lệ, vậy mà Bảo Thoa nói rằng nàng ta trượt chân rơi xuống giếng, cũng chỉ là con người hồ đồ, chẳng cần phải tiếc. Chị ba Vưu đâm dao vào cổ tự vẫn, nghe tin Bảo Thoa "chẳng thèm để ý", còn nói đó là số mệnh kiếp trước của họ. Khi nghe tin Đại Ngọc chết, nàng báo ngay cho Bảo Ngọc, với ý dao sắc chặt đám dây rối, thà để Bảo Ngọc đau chốc lát còn hơn đau lâu. Tập Nhân và Oanh Nhi trách nàng quá hấp tấp, nhưng "Bảo Thoa mặc cho người ta chê bai, không hề để ý", chỉ "dùng cách chữa ngầm". Điều đó cho thấy nàng là con người vô tình.
Tính cách Bảo Thoa tương đối phức tạp, mâu thuẫn, và nàng là một trong những nhân vật có chiều sâu nhất dưới ngòi bút Tào Tuyết Cần. Nàng được giáo dục tốt trong gia đình, đọc sách hiểu lý lẽ, tài hoa xuất chúng, một lòng vẫn nghĩ đến chuyện "bước lên cao", nhưng lại đem luận điệu phong kiến cũ rích đi nói với Sử Tương Vân: "con gái vô tài mới là đức". Nàng là kẻ giữ lễ giáo không dám "vượt Lôi Trì nửa bước" (nghĩa là không dám vượt quá lễ giáo phong kiến). Khi biết Đại Ngọc xem "Tây sương ký", nàng nghiêm mặt khuyên răn rằng thay đổi tính tình thì không gì cứu nổi. Nhưng khi Bảo Ngọc chịu đòn và nàng đến thăm, nàng nói được nửa chừng rằng chẳng cứ cụ và dì, mà ngay chúng tôi trông thấy trong lòng cũng… rồi bất giác đỏ bừng mặt, cúi đầu. Dáng "ôm đàn tì bà che nửa mặt" ấy chẳng để lộ nỗi lòng phức tạp của nàng hay sao.
Bảo Thoa lên kinh vốn để đợi được tiến cung, với tâm trạng "bước lên cao", nên chẳng để tâm đến Bảo Ngọc. Về sau anh ruột gây ra chuyện, nàng không còn hy vọng được tiến cử vào cung nữa mới chuyển sang nhắm vào chiếc ghế "mợ hai Bảo". Nàng rất biết muốn thắng tình địch Lâm Đại Ngọc không phải chuyện dễ, nên dồn hết tâm cơ vào Giả Mẫu và Vương phu nhân, và đó chính là chỗ nàng cao tay hơn Đại Ngọc. Chẳng trách Giả Mẫu khen nàng:
Nhắc đến các chị em, không phải có mặt dì mà tôi mới nói riêng, sự thật nó thế, bốn đứa con gái nhà chúng tôi, chẳng có đứa nào bằng con Bảo.
Vương phu nhân cũng vội nói: đúng vậy, bà vẫn thường nói riêng với tôi con Bảo là một đứa tốt. Cuối cùng Bảo Thoa giành phần thắng, căn bản còn vì nàng là con gái một nhà hoàng thích, gia đình giàu có, đó chính là lý do của "mối lương duyên kim ngọc".
Theo lẽ thường, người đáng đồng tình là Lâm Đại Ngọc, nhưng Tiết Bảo Thoa lại được nhiều người yêu thích. Điều đó chứng tỏ hình tượng này được khắc hoạ rất thành công, không tách rời sự phát triển hợp tình hợp lý của tính cách nàng. Thành tựu cá tính Bảo Thoa đạt đến mức "dù vô tình cũng động lòng người", nghệ thuật khắc hoạ không có vết, cả Sử Tương Vân cũng cho rằng không tìm thấy khuyết điểm nào ở nàng.
Vương Hi Phượng: miệng ngọt dạ độc mà vẫn sống động nhất
Có người trong một căn nhà vừa khiến mọi người sợ vừa khiến mọi người cười, và nếu thiếu họ thì cả căn nhà trở nên nặng nề.
Vương Hi Phượng là nhân vật phản diện điển hình trong truyện. Chỉ một câu của thằng Hưng nói về nàng là đủ khái quát tất cả: "miệng thơn thớt, dạ ớt ngâm", "đòn xóc hai đầu"; trên nét mặt tươi cười cởi mở nhưng dưới chân ngầm giật dây trói người. Đúng là miệng nam mô, bụng một bồ dao găm; tất cả những điều ấy mợ ấy đều có đủ cả.
Vai này được tô rất đậm, đến cả cách tả nàng xuất hiện cũng khác mọi người: người chưa đến, tiếng đã đến trước. Câu "Tôi đến chậm rồi" cũng đủ cho thấy cái uy của Hi Phượng. Còn bao việc khác bộc lộ rõ bản tính nàng: giúp việc phủ Ninh để biểu thị uy quyền, hại chết Giả Thuỵ, hại chị hai Vưu, làm xáo động phủ Ninh, dùng kế đánh rơi túi để đánh lừa Bảo Ngọc cưới Bảo Thoa, khiến Lâm Đại Ngọc chết thảm, ra tay quỷ quyệt, cho vay nặng lãi không giấu nổi lòng tham, ngầm kết hợp với Giả Dung. Hồng lâu mộng dùng rất nhiều tình tiết để vạch trần cái quyền uy, thói tác oai tác quái và lòng mê tiền của người đàn bà quý tộc điển hình ấy.
Nhưng chỗ thành công nhất khi dựng Hi Phượng chưa phải là vạch trần những bản tính trên, mà là tả nhân vật này rất hoạt, làm cho cả bộ truyện sống động. Trong các nhân vật chủ yếu có một Lâm Đại Ngọc đa sầu đa cảm, một Bảo Ngọc đờ đẫn như ngỗng trời, một Bảo Thoa nhu mì thanh nhã; thử hỏi nếu không có Vương Hi Phượng thì Hồng lâu mộng sẽ nặng nề đến mức nào.
Hi Phượng sống động nhờ cái khôn ngoan, miệng nam mô bụng dao găm được xuyên suốt khéo léo qua các trường đoạn lớn và các tình tiết chủ yếu. Hồi thứ 46, Giả Xá muốn lấy Uyên Ương làm vợ bé, Giả Mẫu trách mắng Vương phu nhân, mọi người đều không dám hé răng. Chỉ riêng Phượng Thư nói một câu:
Ai bảo là bà khéo chải chuốt cho người? Chải chuốt đến nỗi nó đẹp mơn mởn lên, trách nào người ta chả thích? May cháu là cháu dâu đấy, chứ là cháu trai thì cháu đòi bà đã lâu rồi, không còn chờ đến bây giờ.
Mọi người cười ầm, không khí trong phòng trở lại nhẹ nhõm, đủ thấy vai trò của Phượng Thư trong truyện rất có giá.
Nàng sống động còn vì không chỉ là một nhân vật phản diện giản đơn, công thức, mà là con người có nhân cách hợp quy luật. Trước hết nàng độc ác, nhưng những kẻ nàng ra đòn đều là người xâm phạm lợi ích của nàng: Giả Thuỵ có ý dâm thì nàng giả vẻ tươi cười kiểu hồ ly; chị hai Vưu và nhà Bào Nhị cướp đoạt tình yêu của nàng thì nàng quyết đẩy chúng đến chỗ chết mới thôi. Còn những kẻ phản nghịch nhưng không xâm phạm lợi ích của nàng, như Tình Văn, Tư Kỳ, nàng lại tỏ vẻ đồng tình, thậm chí thương xót. Khi khám xét vườn Đại Quan, nghe Thị Thư mắng nhà Vương Thiện Bảo, nàng không những không giận mà còn cười nói: "Con bé này giỏi thật, thực là chủ nào thì tớ ấy." Còn bi kịch hôn nhân của Bảo Ngọc và Đại Ngọc thực tế là điều tất yếu của xã hội, chứ đâu phải do một mình Phượng Thư gây ra.
Phượng Thư tuy vào hùa làm điều ác, tác oai tác quái, nhưng nội tâm cũng rất đau khổ. Bà mẹ chồng Hình phu nhân luôn làm khó nàng, thậm chí chuyện con Ngốc nhặt được cái túi thêu Xuân tình cũng đổ tội cho nàng; chồng là Giả Liễn không thủy chung; nàng bị dì Triệu hãm hại; nhất là nguồn tiền tài của Giả phủ ngày càng cạn kiệt. Dù Phượng Thư giỏi lo toan cũng không cứu vớt được, cuối cùng "bỗng ầm ầm tựa như lầu sập", nàng phải táng thân dưới toà lầu phong kiến đổ nát mà chính nàng dốc tâm gây dựng. "Chim Phượng kia sao đến lỗi thời": Vương Hi Phượng, tên con chim lành mang điềm tốt, cuối cùng lại thành báu vật không tốt lành.
Chính vì Hồng lâu mộng bày ra quá nhiều tâm lý mâu thuẫn của Phượng Thư mà nhân vật hư cấu này trở thành một con người sống chứ không phải nhân vật kiểu "ma-nơ-canh". Tào Tuyết Cần quả là nhà nghệ thuật khắc hoạ nhân vật phản diện nhiều chiều chứ không đơn điệu. Nhân vật trong truyện được miêu tả có màu sắc đặc biệt, cá tính rõ ràng, đặt nền tảng cho việc dựng người thành công.
Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 2 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.
