Bài tổng quan
Nước hình xung phá hại và sao trung tinh trực cửa
Một dòng nước nhỏ từ phương Mão chảy lẻn vào giữa chừng, trong một thế đất vốn đẹp, và nhà trưởng từ đó tuyệt tự. Hình, xung, phá, hại là bốn cái tên của những dòng nước như thế. Còn trên trời, mỗi hoàng hôn lại có một vì sao đứng giữ cửa núi…
Sáu cục hóa hợp địa chi: Long gặp nước của chi hợp với mình
Hai chi hợp nhau như đôi vợ chồng đứng hai bên một con suối. Long ở bên này, nước ở bên kia, và mỗi cặp phải chọn đúng hướng ngồi.
Thổ cục: Long Tý gặp nước Sửu (cần lập hướng âm để tiêu nạp nước ấy, nếu có thêm nước Bính thì càng tốt); Long Sửu gặp nước Tý (cần lập hướng dương, nếu có nước Khôn thì càng tốt).
Mộc cục: Long Dần gặp nước Hợi (cần lập hướng âm, nếu được hướng Canh thì càng tốt); Long Hợi gặp nước Dần (cần lập hướng dương, được hướng Thìn càng tốt, lại thêm thủy sa ở phía đông Thìn).
Hỏa cục: Long Mão gặp nước Tuất (cần lập hướng dương, nếu có nước Càn hay Khôn thì tốt); Long Tuất gặp nước Mão (cần lập hướng âm, có hướng Tốn và hỏa sa ở phía nam thì càng tốt).
Kim cục: Long Dậu gặp nước Thìn (cần lập hướng dương, nếu được hướng Ất, Khảm thì càng lợi); Long Thìn gặp nước Dậu (cần lập hướng âm, nếu có hướng Hợi và kim sa ở phía tây thì càng cát lợi).
Thủy cục: Long Thân gặp nước Tỵ (cần lập hướng âm, nếu có hướng Bính, Mão, Cấn thì rất tốt, nhưng kỵ hướng Tốn); Long Tỵ gặp nước Thân (cần lập hướng dương, nếu được hướng Khôn hoặc Tuất và thủy sa ở phía bắc thì càng tốt).
Cục âm dương hợp bích: Long Mùi gặp nước Ngọ (cần lập hướng dương, cần Thái Dương sa ở phương Mão, kỵ Càn Giáp); Long Ngọ gặp nước Mùi (cần lập hướng âm, có Thái Âm sa ở phía tây thì càng tốt).
Trần Tử Kỳ nói: Long và nước hợp nhau trong các cục này, trừ những chỗ không thể nghịch thụ, còn nếu hình thế núi non có thể nghịch triều thì làm như sau. Long Mão có nước Tuất tiến tới thì ngồi Thìn, hướng về Tuất, gặp hỏa sa ở phương Đinh. Long Tuất có nước Mão tới thì ngồi Dậu, hướng về Mão, gặp hỏa sa ở phương Bính, Ngọ. Long Thìn có nước Dậu tiến tới thì ngồi Mão, hướng về Dậu, gặp kim sa ở phương Canh, Dậu. Long Thân có nước Tỵ tiến tới thì ngồi Hợi, hướng về Tỵ, gặp thủy sa ở phương Sửu, Hợi. Long Tỵ có nước Thân tới thì ngồi Dần, hướng về trung ương mà gặp thủy sa ở phương Sửu, Hợi. Long Hợi có nước Dần tới thì ngồi Thân, hướng về Dần, gặp mộc sa ở Dần, Thìn. Long Dần có nước Hợi tới thì ngồi Tỵ, hướng về Hợi, gặp mộc sa ở phương Dần, Hợi.
Mỗi Long nhập thủ đều có sa của Thái Âm và Thái Dương. Như Long Dần, Thái Dương đóng ở Tý, Thái Âm đối chiếu ở Ngọ. Từ đó suy ra Long Thìn có Thái Dương ở Tuất, Thái Âm ở Thìn; Long Tuất có Thái Dương ở Thìn, Thái Âm ở Tuất; Long Sửu có Thái Dương ở Sửu, Thái Âm ở Mùi; Long Mùi có Thái Dương ở bản sơn, Thái Âm đối diện ở Sửu.
Mười hai Long: sa của mặt trời đứng cao, nước của mặt trăng chảy tới
Nhật ưa núi cao, nguyệt ưa nước chảy. Mỗi con Long có một ngọn sa làm mặt trời và một dòng nước làm mặt trăng, đứng đối diện nhau.
Long Dần: Thái Dương ở Tý, cần Thái Âm đối chiếu ở Ngọ; sa Tý, nước Ngọ. Long Mão: Thái Dương ở Hợi, cần Thái Âm ở Tỵ; sa Hợi, nước Tỵ. Long Thìn: Thái Dương ở Tuất, cần Thái Âm ở Thìn; sa Tuất, nước Thìn (bản sơn không có nước, chỉ cần có sa Thái Dương là tốt). Long Tỵ: cần Thái Âm ở Mão; sa Dậu, nước Mão. Long Ngọ: Thái Dương ở Thân, cần Thái Âm ở Dần; sa Thân, nước Dần. Long Mùi: Thái Dương ở Mùi, cần Thái Âm ở Sửu; sa Mùi, nước Sửu (sa Mùi trên bản sơn phải cao vút).
Long Thân: Thái Dương ở Ngọ, cần Thái Âm ở Tý; sa Ngọ, nước Tý. Long Dậu: Thái Dương ở Tỵ, cần Thái Âm ở Hợi; sa Tỵ, nước Hợi. Long Tuất: Thái Dương ở Thìn, cần Thái Âm ở Tuất; sa Thìn, nước Tuất (bản sơn không có nước, chỉ cần có sa là được). Long Hợi: Thái Dương ở Mão, cần Thái Âm ở Dậu; sa Mão, nước Dậu. Long Tý: Thái Dương ở Dần, cần Thái Âm ở Thân; sa Dần, nước Thân. Long Sửu: Thái Dương ở Sửu, cần Thái Âm ở Mùi; sa Sửu, nước Mùi (sa Sửu trên bản sơn phải cao vút).
Trương Cửu Nghi nói: nhật là tinh của Hỏa nên rất cần sa cao vút; nguyệt là tính của Thủy nên cần nước chảy cuộn trào. Long Thìn có nước Tuất tới đón, Long Tuất có nước Thìn tới nghênh, hai cách Long thủy này phát tài phát phúc rất nhanh.
Hình, xung, phá, hại: bốn loại thế làm hao tổn Long và nước
Có những dòng nước nhìn thì đẹp, đến đúng hướng, nhưng mang sẵn cái tên của một lời nguyền. Tên ấy là hình, xung, phá hoặc hại.
Tam hình, lục xung, lục hại, tứ phá
Tam hình: Tý hình Mão, Mão hình Tý. Sửu hình Tuất, Tuất hình Mùi, Mùi hình Sửu. Dần hình Tỵ, Tỵ hình Thân, Thân hình Dần.
Lục xung: Tý Ngọ, Sửu Mùi, Dần Thân, Mão Dậu, Thìn Tuất, Tỵ Hợi xung nhau.
Lục hại: Tý Mùi, Sửu Ngọ, Dần Tỵ, Mão Thìn, Thân Hợi, Dậu Tuất xuyên nhau.
Tứ phá: Tý phá Mão, Mão phá Ngọ, Ngọ phá Dậu, Dậu phá Tý.
Trương Cửu Nghi nói: ba cục hình, phá, hại có Long và có nước, trong đó chúng hình, phá, hại lẫn nhau. Như Long Mão gặp nước Tý là hình, gặp nước Thìn là hại, gặp nước Ngọ là phá. Cũng có hướng và nước hình, phá, hại nhau: hướng Ngọ gặp nước Mão là hình, gặp nước Dậu là phá, gặp nước Sửu là hại. Lại có nước hình, phá, hại với nước mà chẳng cần căn cứ vào âm dương của hướng, như nước Giáp tới gặp nước Dần là xung, gặp nước Hợi là hại, gặp nước Tỵ là hình; hoặc lớn nhỏ, đến đi, ngưng tụ cũng vậy.
Hướng âm gặp nước âm hình xung phá hại thì tai họa không lớn; nhưng gặp nước dương thì tai họa nhiều và nặng. Hướng dương cũng tương tự. Gặp cục phá, hại thì tài sản tiêu tán suy kiệt; gặp cục hình, xung thì bị đâm chém hoặc mắc tội mà bị đày nơi biên ải. Trong cục xung không hề có Long và hướng, chỉ có thủy cục, cứ theo cách trên mà đoán: hướng Ngọ thì nước Dậu đến, Mão đi; hướng Hợi thì nước Dần đến, Thân đi.
Ba cục tam hình hung thủy
Vô Ân hình: ngồi hướng Dần gặp nước Tỵ; ngồi hướng Tỵ gặp nước Thân và nước Dần; ngồi hướng Thân gặp nước Tỵ.
Thị Thế hình: ngồi hướng Mùi gặp nước Tuất; ngồi hướng Tuất gặp nước Sửu và nước Mùi; ngồi hướng Sửu gặp nước Tuất.
Vô Lễ hình: ngồi hướng Tý gặp nước Mão; ngồi hướng Mão gặp nước Tý.
Trần Tử Kỳ nói: thủy pháp tam hình, tức hướng và nước hình nhau, vốn ẩn tai họa lớn. Dù hướng và nước không dính gì nhau, mà trong chính dòng nước tự có hình nhau thì cũng không tốt. Ví dụ nước Tý chảy tới triều bái, hoặc lập ở Quý mặt quay về Nhâm, thế đó vốn rất cát lợi cho nhà thứ ba. Bỗng có một dòng nước nhỏ từ Mão chảy vào, hòa giữa chừng, hoặc có đường nước từ trong chảy ra, thì thế đất ấy làm nhà trưởng ắt tuyệt tự. Chỉ cần khi lập huyệt, xem kỹ hai bên tả hữu, dời dòng nước Mão sang vị trí Giáp, Ất, thì nhà trưởng cùng nhà thứ ba đều phát tài phát phúc.
Mười hai cục lục hại hung thủy
Ngồi hướng Hợi gặp nước Thân (nếu hướng Nhâm cùng hợp với hướng Tuất thì thủy hỏa không khắc nhau).
Ngồi hướng Thân gặp nước Hợi (nếu hướng Canh, Mùi tương hợp thì sẽ nạp Giáp với nước của bản quẻ).
Ngồi hướng Tỵ gặp nước Dần (nếu hướng Thìn hợp nước thì hỏa không khắc thủy; hướng Ất hợp thì phụ trợ cho nước Tham Lang). Ngồi hướng Dần gặp nước Tỵ (nếu hướng Cấn cùng hợp thì là nước núi đầm thông khí).
Ngồi hướng Dậu gặp nước Tuất (nếu hướng Tuất cùng hợp thì phụ trợ cho nước Phụ Bật; nếu hướng Thân cùng hợp thì thủy hỏa không khắc nhau; nếu hướng Nhâm cùng hợp thì là nước nạp Giáp).
Ngồi hướng Tuất gặp nước Dậu (nếu hướng Dậu hợp cùng tinh quái thì phụ trợ nước Phụ Bật; hướng Canh, Hợi cùng hợp đều là hợp thập; hướng Tân thì tuyệt tự).
Ngồi hướng Thìn gặp nước Mão; ngồi hướng Mão gặp nước Thìn (hướng Thìn cùng hợp với tinh quái cùng nước Phụ Bật; hướng Ất trước sau cùng gặp nước; nếu hướng Giáp hợp thì có nước Tham Lang).
Ngồi hướng Ngọ gặp nước Sửu (nếu hướng Bính hợp thì là nước núi đầm thông khí; hướng Ất hợp thì là nước nạp Giáp của bản quẻ). Ngồi hướng Sửu gặp nước Ngọ (nếu hướng là bản quẻ thì là nước nạp Giáp của bản quẻ).
Ngồi hướng Tý gặp nước Mùi (nếu hướng Hợi hợp thì là nước nạp Giáp). Ngồi hướng Mùi gặp nước Tý (nếu hướng Khôn hợp thì trước sau cùng gặp nước; hướng Thân hợp thì là nước nạp Giáp).
Trần Tử Kỳ nói: sáu loại nước hại này đều có thể đổi hướng mà biến hung thành cát. Như nước Thân chào đón, tiến xa thì có thể đón nước mà lập hướng, nhà thứ ba phát phú quý. Còn nước từ Hợi tới thì nhà trưởng ắt táng gia bại sản. Nước Hợi đi từ Thân, nước Tý đi từ Mùi, nước Tuất và nước Dậu cùng tới thì rất hung hiểm, không nên hạ huyệt.
Bốn cục tứ phá hung thủy
Ngồi hướng Dậu gặp nước Tý, nước Ngọ; ngồi hướng Tý gặp nước Mão, nước Dậu; ngồi hướng Mão gặp nước Ngọ, nước Tý; ngồi hướng Ngọ gặp nước Dậu, nước Mão.
Trần Tử Kỳ nói: Tý, Ngọ, Mão, Dậu rất cần có sa tương ứng, không nên có nước tương phá. Vì hướng và nước phá nhau, nhưng có thể đổi hướng để hóa giải, biến họa thành phúc. Còn nếu gặp địa huyệt có nước Ngọ tới mà lại đi từ Dậu, nước Mão tới rồi đi từ Ngọ, thì hạ huyệt ở thế đất ấy ắt tan nhà nát cửa.
Sao trung tinh: mỗi mùa, mỗi hoàng hôn, một vì sao trực cửa
Vua Nghiêu từng đứng nhìn bốn vì sao để định bốn mùa. Cổ nhân dùng cách ấy để hỏi xem ngọn núi nào đang được sao nào trực.
Trương Cửu Nghi nói: việc tìm ngược về trung tinh khởi từ "Nghiêu Điển", dùng các vì tinh tú để đo vòng quay của thiên thể, nhờ đó định ra lịch pháp, làm rõ bốn mùa để làm khuôn phép cho đời sau. Khi khảo định trung tinh của mùa xuân, "Nghiêu Điển" viết: "Bình trật tinh ở phương đông, ngày lấy làm giữa, tinh tú là Điểu tinh".
Vì vào ngày xuân phân, tinh tú đóng ở chính nam, trung tinh mùa xuân là Tỉnh, Quỷ, Liễu, Tinh, Trương, Dực, Chẩn. Nhưng thượng tuần tháng giêng hiện nay chỉ có sao Vị ở phương nam, nên mùa xuân thuộc Vị, Ngang, Tất, Chủy, Sâm, Tỉnh, Quỷ là trung tinh.
"Nghiêu Điển" khảo định trung tinh mùa hạ thì viết: "Bình trật tinh ở phương nam, ngày dài, tinh tú là Hỏa". Vì vào ngày hạ chí sao Tâm đóng ở chính nam, trung tinh mùa hạ là Giốc, Kháng, Đê, Phòng, Tâm, Vĩ, Ki. Nhưng thượng tuần tháng tư hiện nay chỉ có sao Liễu ở phương nam, nên mùa hạ thuộc Tinh, Trương, Dực, Giốc, Kháng làm trung tinh.
"Nghiêu Điển" lại viết: "Bình trật tinh ở phương tây, đêm bằng ngày, tinh tú là Hư tinh". Hư tinh gồm Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích; đó là trung tinh mùa thu. Nhưng thượng tuần tháng bảy hiện nay sao Đê ở phương nam, nên trung tinh mùa thu là Đê, Phòng, Tâm, Vĩ, Ki, Đẩu, Ngưu.
"Nghiêu Điển" lại viết: "Bình trật tinh ở phương bắc, ngày ngắn, tinh tú là Mão tinh". Khuê, Lâu, Vị, Ngang, Tất, Chủy, Sâm là trung tinh mùa đông. Song thượng tuần tháng mười hiện nay Chức Nữ ở phương nam, nên trung tinh mùa đông là Nữ, Hư, Nguy, Thất, Tất, Khuê, Lâu.
Vì sao "Nghiêu Điển" khác với thực tế? Vì thiên thể vận hành khá nhanh, dịch về hướng tây; còn nhật nguyệt tinh tú vận hành chậm, dịch về hướng đông. Dùng phép tuế sai để khảo các vì sao sau mấy ngàn năm thì sự khác biệt cũng hợp lý. Thời vua Nghiêu, ngày đông chí đóng ở sao Hư, nay đóng ở sao Ki, điều này thấy rất rõ.
Thầy tôi nói: mỗi vì tinh tú đều có quan hệ trọng yếu với phúc họa. Ấn tinh đóng ở đế tòa thì tốt đẹp cát lợi; nạn tinh đóng ở đế tòa thì hung hiểm. Muốn sáng tỏ điều này, trước hết phải biết nguyệt lệnh, rồi xác định trong hai mươi bốn Long, con Long nào là tư lệnh của tháng nào, tuần nào; đến tháng đó tuần đó, xem tinh tú nào trực thủ đoan môn, rồi xem trong hai mươi bốn chữ, tinh tú đóng ở chữ nào, chữ này cần sơn thế cao vọi, nước tới chào hỏi.
Như Long Cấn nhập thủ, rẽ về bên trái, là tư lệnh sau trung tuần tháng chạp, sao Lâu thuộc Kim trực thủ đoan môn, là chữ Mậu, cần sơn thế cao vút; dòng sông quay sang phải, tư lệnh thượng tuần tháng giêng, sao Vị thuộc Thổ trực thủ đoan môn, chữ Tân, cần sơn thế cao vút, nước đến triều bái. Nếu Long Cấn có được sao Vị Thổ thì phát tài phát phúc; có sao Lâu Kim thì hung họa, tuy chủ về quý nhưng không bền lâu. Muốn hóa giải sát khí để kết cục toàn mỹ thì dùng tọa hướng: như Long Cấn có phong Mậu cao vút, lập ở hướng Dần Thân làm Thực Thần thì tiêu trừ sát khí, chuyển hung thành cát.
Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 2.
