Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Đạo Gia

Bài tổng quan

Hình núi báo họa, bốn loại huyệt và thôn thổ trầm phù

Đạo Học - Đạo Gia06/10/202610 phút đọc1 lượt đọc
Hình núi báo họa, bốn loại huyệt và thôn thổ trầm phù

Nước trước huyệt tách thành chữ Bát rồi chảy đi, con cháu sẽ phản nghịch bất hiếu. Chóp núi như cái khăn trùm đầu, nam nữ dễ dâm đãng. Cổ nhân đặt tên cho từng hình núi hình nước để người đi sau tránh cho kịp, nhưng chọn đúng chỗ rồi còn phải biết đặt quan tài nhô ra hay lùi vào hai phân?


Chữ Bát, bao đầu và những ngọn núi báo điềm dữ

Có những hình núi hình nước mà cổ nhân gọi tên riêng chỉ để người đi sau né cho kịp.

Nước trước huyệt tách thành hình chữ Bát rồi chảy đi thì con cháu phản nghịch, bất hiếu. Ngoài núi án mà có núi dạng bao đầu, tức chóp núi như cái khăn trùm đầu, thì nam nữ dâm đãng. Núi hoặc đá có hình chiếc ấn nham nhở thì chủ mù mắt hoặc hỏng thai.

Ngoài ngọn núi chính có ngọn khác hơi nhô lên gọi là thám đầu sơn; lộ đầu hơi lệch bên sườn gọi là trắc diện sơn. Hai dáng ấy chỉ sinh ra phường trộm cắp. Núi ở hai bên tả hữu uốn thẳng xuống sát huyệt như hai bàn tay lau nước mắt gọi là thức lệ sơn. Núi nhô cao như đang đấm vào đầu huyệt gọi là chùy não sơn. Cả hai đều chủ chết non. Nơi thủy khẩu có núi như người nằm ngửa gọi là đảo thi sơn, chủ người chết ngoài đường. Trước mộ có núi mà chân phình to gọi là phù thũng sơn, chủ bệnh phù.

Hổ trong rừng, rắn trong cỏ, thuyền, cá và lá sen

Mỗi hình ví von là một lời dặn về chỗ nào cần có che chắn, chỗ nào cần có nước, chỗ nào chỉ nên làm đền miếu.

Ngọn núi kết huyệt cao mà lộ ra như mãnh hổ trong rừng thì phải có núi án bao quanh gần đó mới tránh được tai họa. Thế đi như rắn thì sợ nhọn và sát khí, phải tránh sát khí mới mong thoát hiểm.

Hình thuyền phải ở gần bến nước, ví dụ huyệt có nước đi qua. Mặt nước có cá bơi là quý, ví dụ huyệt nghịch lại dòng nước, khi nước đến thì thiên môn mở ra. Lá sen không gánh nổi việc nặng, vì huyệt hình lá sen thì lực nhỏ mà chân khí nổi. Long mạch nơi bình dương phẳng như bàn tay thì chẳng sợ gió thổi.

Thế bình sa lạc nhạn, hợp nhất với nước, nghĩa là huyệt ẩn trong hồ hoặc nằm trên gò đất nổi giữa hồ, thạch cốt dưới đáy nước vẫn quá mạch tạo huyệt. Đừng thấy xung quanh toàn nước mà bỏ mất huyệt ấy.

Huyệt hình người, huyệt hình chim

Thế đất mang dáng người hay dáng chim thì chỗ đặt huyệt cũng theo thân thể của dáng ấy mà tìm.

Huyệt hình người thì phải táng giữa bụng, chỗ lõm để tránh gió. Hình người phần nhiều do Thủy tinh, Hỏa tinh cao lộ hợp thành nên rất sợ gió, vì thế phải đặt huyệt ở chỗ lõm để giấu gió, tụ khí. Huyệt hình chim thì quý ở chỗ nách cánh. Hai cánh chim quý ở chỗ ôm ấp che giấu, nên bất kể cánh trái hay phải, chỗ nách cánh đều cát lợi.

Bốn loại huyệt theo chỗ chân khí tụ

Chân khí có thể tụ ở đỉnh, ở chân, ở bên cạnh hay chính giữa, và mỗi nơi có một tên riêng.

Hình huyệt gồm bốn loại cần xét kỹ. Cái là chân khí hội ở đỉnh núi, gọi là thiên huyệt, có ba dạng: Hoa Cái, Vân Cái, Bảo Cái. Niêm là khí mạch thịnh hội ở chân núi, gọi là địa huyệt, có hai dạng: Hư Niêm, Thực Niêm. Kỷ là khí mạch hội bên cạnh, gọi là Long Nhĩ huyệt, có hai dạng: Hư Kỷ, Thực Kỷ. Chương là chân khí hội chính giữa, tức nhân huyệt, có hai dạng: Khinh Chương, Trọng Chương. Nếu núi chầu cao thì là Trọng, tốt; núi chầu thấp là Khinh, cũng tốt.

Thôn, thổ, trầm, phù: nhả vào, nuốt ra theo thế khí

Khí mạch có âm dương nên huyệt có thôn là nuốt vào, thổ là nhả ra, trầm là chìm xuống, phù là nổi lên.

Long đến chỗ táng mà thuần âm thì thẳng như sống kiếm. Khi ấy ván trên của quan tài phải nhô ra thêm hai phân, gọi là thổ, vì âm khí co lại phải mượn một hơi dương thì chân khí mới âm dương tương sinh. Long đến chỗ táng mà thuần dương thì như đốt ngón tay. Khi ấy ván thiên phải lùi vào hai phân, gọi là thôn, vì dương khí đè xuống phải mượn âm khí hút vào thì chân khí mới hòa. Âm mạnh thì khí mạch đến gấp, từ trên giáng xuống, sinh khí lộ mà không ẩn, gọi là phù. Dương yếu thì khí mạch đến trầm và nhỏ, từ dưới bốc lên, sinh khí ẩn mà không lộ, gọi là trầm. Táng đúng phép thì thành sinh khí, táng sai phép thì thành tử khí.

Hình núi còn được so với các bộ phận của cơ thể, và mỗi bộ phận mang một điềm. Trước hết là sáu thứ môi, rốn, mắt, đuôi, trán, bụng: môi, mắt, đuôi là ba chỗ hung vì lộ thẳng mà lệch; rốn, trán, bụng là ba chỗ cát vì ẩn kín mà ngay ngắn. Tiếp đến sáu thứ sừng, tai, lưng, chân, mũi, sườn: tai và mũi là hai chỗ cát; chân, sừng, lưng, sườn là bốn chỗ hung. Chóp núi Thanh Long hoặc Bạch Hổ nhô cao như nắm đấm là hung đồ.

Dáng núi và tiếng nước báo điều gì

Hình núi nghiêng hay thẳng, nước đục hay trong, tiếng nước vui hay buồn, đều có điều để đọc.

Nước xung vào Thái Âm tức Nga My Kim tinh, xói thành hố lõm thì con gái trăng hoa. Văn Khúc nghiêng lệch, tức Mộc tinh bị lệch, thì con trai con gái đều dâm đãng, sa ngã. Đỉnh núi chầu mọc hai chỏm như sừng dê thì có kẻ phản nghịch, bất hiếu. Trên đầu núi có nếp gấp như sườn trâu thì chủ kẻ phạm pháp bị xử hình tù đày. Văn bút phong là Hỏa tinh chĩa lên trời, nếu nằm đúng cung Ngọ ở chính nam thì sợ hỏa hoạn.

Núi bốn bề tản mạn, giữa có một ngọn đoan chính vượt lên thì như quân tử đứng vững giữa bầy tiểu nhân. Núi bốn bề đoan chính mà giữa có một ngọn xấu xí thì như cỏ dại giữa đám hoa sen, tức tiểu nhân lẫn trong người quân tử. Chủ tinh gần huyệt đẹp hơn hẳn các tinh tú phía sau thì gọi là mẹ hèn con quý, như trong đá có ngọc, con cái thành nhân tài kiệt xuất.

Tuyệt tự chỉ vì nước xung vào thiên tâm. Thiên tâm là huyệt vị, và điểm huyệt phải đón được sinh khí. Nếu chỗ nhập thủ không có khí mạch, mặt trên không phân khai thì nước xối thẳng vào huyệt, dẫn đến không người nối dõi. Con cái đi tu thành hòa thượng, đạo sĩ là vì nước xung vào chân thành, tức chân núi Thanh Long, Bạch Hổ bị xối lở.

Tiếng nước chảy nghe như tiếng khóc than, chủ chết chóc. Tiếng nước chảy nghe như tiếng vàng tiếng ngọc, chủ phát tài.

Tiếng nước trong sáng vui vẻ thì phát tài, thăng quan tiến chức. Tiếng nước buồn bã thê lương thì chết chóc suy bại. Có tiếng không bằng không tiếng. Nước một đến một đi thì có phúc có họa, một gấp một chậm thì có lợi có hại. Hai mươi bốn sơn tên gọi phức tạp, ba mươi sáu huyệt huyệt pháp rối rắm, nên phải xét bốn hướng cho chắc ngũ hành.

Cái quý là che chắn kín đáo, cái kỵ là khuyết hở

Khí đã tụ được là nhờ có chỗ chắn gió ngăn nước; khuyết một mặt thì mất cả.

Núi quay mình mà tạo huyệt thì phần nhiều không có Thanh Long, Bạch Hổ riêng, nên các núi bên ngoài phải ngoảnh đầu nhìn lại thì mới cát. Minh đường kín đáo, thủy khẩu che chắn, huyệt tàng ẩn bên trong là nơi sinh khí hội tụ. Ngược lại minh đường trống trải, la thành khuyết hở thì huyệt bị gió thổi, sinh khí tán thoát, hung hiểm.

Núi phía sau huyệt không được dựng đứng gầy gò. Dựng đứng như thế gọi là Huyền Vũ không cúi đầu, chủ tuyệt tự, không thể tạo huyệt nơi ấy.

Nước chảy đi, mạch liền, núi già và núi non

Nước kỵ nhất chảy thẳng đi vì vô tình, chủ thất bại. Càng kỵ nước đến thì ngắn mà đi thì dài, hoặc nghiêng trái lệch phải. Nước chảy đi vội dù có uốn lượn cũng suy bại. Thủy khẩu tuy có che chắn mà không trùng điệp thì dễ thành mà cũng dễ bại.

Thế đến của núi như lớp lớp sóng dồn là cát. Long đến tuy không thanh thoát đẹp đẽ nhưng tròn trịa, trùng trùng điệp điệp như sóng lớn thì cũng kể là đặc biệt. Mạch như đứt mà chưa đứt, liên tục chạy đến thì rất cát, không cần đồi núi cao hộ vệ. Mạch quý ở chỗ liên tục, núi quý ở chỗ trùng điệp.

Chính long gọi là can. Can sinh chi, chi lại sinh chi, phải có yểm hộ mới cát, kỵ nhất tán loạn vô tình. Long quay đầu nhìn về tổ thì lấy tổ sơn làm chầu, vậy tổ sơn không sợ cao.

Núi cần phân biệt lão, nộn, thô, tinh. Lão là chênh vênh cứng cỏi. Nộn là thấp lùn mềm yếu. Thô là thô tục hùng dũng. Tinh là thanh tú tròn trịa. Lại phải xét kỹ sinh, vượng, hưu, phế: thế núi lưu động là sinh, nhô lên là vượng, ẩn phục là hưu, tĩnh lặng là phế. Nước uốn lượn là sinh, chảy gấp là vượng, dừng lặng là hưu, cạn dần là phế.

Nhà ở cũng như mộ phần, và cái tâm của người tìm đất

Dương trạch thực ra cũng như âm trạch, nhà ở không khác mộ phần. Điều quan trọng nhất là địa thế rộng rãi, bằng phẳng, minh đường không chật. Ở trong khe núi thì cần kín gió nhất. Ở bình dương thì trước hết thủy thổ phải dư dả, chỗ cần khai thì khai, núi không đủ thì đắp thêm đất. Có nhà trước rồi mới có mộ: nếu xây mộ trước thì nhà sút kém. Có mộ trước làm nhà sau, nhà hưng thịnh thì mộ phần suy bại. Nước phải có tình; quay lưng hướng ra ngoài là hung hiểm.

La tinh, tức núi nhỏ gò đống, nên ở thủy khẩu, kỵ ở minh đường. Nếu nằm gần minh đường thì gây tai họa, nhà ở hay mộ phần đều vậy.

Phép dò đất phong thủy vốn khó nói cho tường tận. Cái huyền diệu phải tự mình tìm tòi cho thấu, đến lúc đạt chỗ sâu thì mê đến quên ăn quên ngủ. Nhưng ít ai hiểu hết được cái tâm của Khổng Tử. Tin vào sách vở nhưng còn phải dựa vào con mắt quan sát tỉnh táo của mình. Người do trời định, nhưng phúc phận của đời người còn do người tự quyết. Bậc trí coi trọng nước, bậc nhân coi trọng núi, mỗi người một ý thích.

Trời sinh người, đất sinh huyệt, đâu phải ngẫu nhiên. Muốn tốt đẹp thì phải tích nhiều âm đức: tích thiện nhiều thì hưởng cát lợi, làm ác nhiều thì chịu ác báo. Không hại người thì mình sẽ được lợi. Tuyệt đối không được trái đức thiện, khinh thường trời. Huyệt vị do thiên nhiên làm nên, nhưng phúc phận do cái tâm của mình quyết định. Mọi điều cát hung của phong thủy cổ được trình bày cặn kẽ như thế, gồm cả cái cơ bản lẫn cái tinh vi, mong để lại cho các thuật sĩ chân chính đời sau gìn giữ và trân trọng mãi.

Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 2.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Đạo Gia