Bài tổng quan
Sinh khí dưới đất và năm loại núi không nên táng
Hài cốt cha mẹ nằm dưới đất mà con cháu trên mặt đất lại chịu ảnh hưởng, giống như hạt dẻ trong phòng nảy mầm khi ngoài vườn cây ra hoa. Người xưa tin rằng gió, nước và hình thế núi quyết định khí ấy tụ lại hay tan đi. Vậy năm loại núi nào bị coi là không bao giờ nên đặt mộ?
Mục lục · 9 phần
- 01Vì sao hài cốt dưới đất lại ứng đến con cháu
- 02Đất là thân của khí, khí là mẹ của nước
- 03Chi mạch nơi đất bằng: mạch ẩn mới là mạch quý
- 04Thế núi và năm loại núi không thể đặt mộ
- 05Thanh long, bạch hổ, chu tước, huyền vũ quanh ngôi mộ
- 06Chọn chi mạch hay gò đống, và phép đo của người giỏi
- 07Hình dáng núi báo điềm phúc họa cho con cháu
- 08Thế đến phải đồng hướng với hình đi, khí không bị gió thổi tan
- 09Sáu điều hung trước khi hạ huyệt
Vì sao hài cốt dưới đất lại ứng đến con cháu
Việc chôn cất dựa vào sinh khí. Khí của ngũ hành chạy trong lòng đất, bốc lên rồi biến hóa, thai nghén ra muôn vật. Thân thể mỗi người có được là nhờ cha mẹ; hài cốt của cha mẹ nằm dưới đất được sinh khí của ngũ hành hun đúc, và hình hài người con trên mặt đất nhờ đó mà được che chở. Vì thế Táng Kinh nói rằng thi thể dưới đất chịu sự cảm hóa của khí, phúc khí tương ứng của nó sẽ ảnh hưởng đến con cháu.
Chuyện này giống như núi đồng ở phương tây sụp đổ thì chuông linh ở phương đông không ai gõ cũng tự kêu. Đạo lý ấy cũng như mùa xuân cây cối ra hoa thì hạt dẻ cất trong phòng cũng nảy mầm: hai vật cách xa nhau mà cùng chung một hơi thở của khí.
Hai khí âm dương, trải qua sự hít thở của trời đất thì thành gió. Gió bốc lên cao thì thành mây, giáng xuống thì là mưa, còn khi vận hành dưới đất thì gọi là sinh khí. Cho nên Táng Kinh viết:
Hai khí âm dương mượn gió mà thai nghén muôn vật, gặp nước thì ngưng kết trong nước.
Sự sống của con người cũng là do khí âm dương tụ lại trong thân thể; khi người mất, sinh khí ngưng đọng lại trong xương cốt, nên chỉ còn bộ xương nằm dưới đất. Việc chôn cất là đem khí âm dương đã tán ra mà nạp vào hài cốt cha mẹ, rồi dùng nó che chở cho con cháu đời sau. Phong thủy là cách người xưa gom khí âm dương lại để nó có đường vận hành và có nơi ngưng kết. Theo phép xem tướng đất, được nước là tốt nhất, còn nếu giữ được gió, không để khí tản đi, thì chỉ kém nước một bậc.
Đất là thân của khí, khí là mẹ của nước
Đất là thân thể của khí, có đất mới có khí; khí là mẹ của nước, có khí mới có nước. Táng Kinh viết rằng khí đi khắp bên ngoài, bên trong khí thai nghén sinh mệnh. Xương gió của núi cao và chi mạch của đồi thấp đều có sinh khí đi cùng.
Đất thành hình rồi, khí đi trong đó, muôn vật nhờ sinh khí mà từ đất sinh ra.
Vì sao nói vậy? Vì khí dù thịnh, chảy qua nhiều chỗ dưới đất cũng hao đi một ít; nhưng hao rồi vẫn tụ lại ở những nơi khá sâu. Do đó khí ẩn ở chỗ khô ráo thì nằm nông, khí ẩn ở chỗ thấp bằng thì nằm sâu. Táng Kinh dặn rằng nông hay sâu đều phải gặp chỗ thích hợp.
Hướng đi của khí dưới đất đổi theo địa thế, nơi tụ nơi kết cũng đổi theo địa thế. Việc chôn cất phải theo cái lý ẩn hiện và ngưng tụ của khí: ở chỗ thấp bằng thì theo hướng mạch, ở núi cao thì theo xương núi; đường uốn quanh lưng chừng, đông tây nam bắc, thế nào cũng phải ứng theo. Thế đi tới xa ngàn thước gọi là thế, xa trăm thước gọi là hình. Thế núi luôn đi theo hướng nước tới, còn hình núi lại luôn ngược với nước mà thành; như vậy gọi là khí toàn, và nơi khí toàn thì có thể chôn cất.
Thế núi uốn lượn bao bọc, các gò nhấp nhô trùng điệp như trăm quan quỳ hai bên lạy triều kiến vua, lại như một người giơ hai tay ra ôm lấy vật gì. Thế đến có ngưng có tụ, hợp hẳn với âm dương, đất cao mà nước sâu, cỏ cây tươi tốt, đó là nơi lý tưởng để an táng.
Hình núi tụ kết, bao chứa sinh khí; đất này sinh được muôn vật, là nơi tuyệt hảo.
Chi mạch nơi đất bằng: mạch ẩn mới là mạch quý
Thế đất quý ở chỗ bằng phẳng, đất quý ở nơi có chi mạch. Chi mạch nổi lên thì sinh khí cũng theo đó mà có; chi mạch tiêu tán thì sinh khí ẩn vào bên trong. Cách xem chi mạch là xem nó ẩn đi, nổi lên, biến hóa ra sao; chỉ cần một mạch nối tiếp thì tướng cát đã ẩn bên trong.
Đất có khí tốt thì khí ấy biến hóa theo hình đất; chi mạch có khí ngưng kết thì khí ấy biến hóa theo dòng nước. Thế núi theo nước mà tới, hình núi theo nước mà lên xuống, cùng ôm bọc tầng tầng lớp lớp, chôn ở đó thì cát tường mãi mãi.
Thế núi và năm loại núi không thể đặt mộ
Thế núi uy nghi, hiểm trở mà có sinh khí thì khi chôn nên chọn nơi các thế núi cùng hội hợp, dựa vào khí mạch của thế đang đến, chú ý quan sát chỗ hoang phế của nó, chọn nơi các mạch giao nhau và tránh xa nơi đem họa đến.
Chôn ở núi cũng như kêu to trong hẻm núi, tiếng vọng lại rất nhanh.
Có những loại núi tuyệt đối không được chôn. Ngũ khí lấy sinh khí của âm dương để điều hòa, nên núi non (đồng sơn) chưa trưởng thành thì không dùng làm mộ. Sinh khí dựa vào hình núi mà đến, nên núi đứt đoạn (đoạn sơn) không thể chôn. Sinh khí vận hành hướng lên trên, nên không thể chôn người ở núi đá (thạch sơn). Sinh khí ngưng kết theo sự ngưng kết của thế núi, nên không thể hạ táng ở núi chạy ngang qua (quá sơn). Sinh khí sinh ra từ sự hội tụ giữa núi với núi, nên không thể táng ở núi cô độc lẻ loi (độc sơn).
Núi non, núi đứt, núi đá, núi chạy ngang, núi lẻ loi: năm nơi ấy sinh ra hung tai, lại còn làm mất những phúc lành vốn đã có.
Tìm nơi cát phúc thì khó nhất là tìm thế núi, kế đến là hình núi, sau nữa mới đến phương hướng. Thế núi lý tưởng khi lên khi xuống, như từ trời đổ xuống, tựa sóng nước, tựa dáng ngựa phi. Lúc đến thì hùng dũng, lúc tan thì không tiếng động; dường như trong lòng chứa châu báu, lại như rồng bay phượng múa.
Thanh long, bạch hổ, chu tước, huyền vũ quanh ngôi mộ
Với ngôi mộ, bên trái gọi là thanh long, bên phải là bạch hổ, phía trước là chu tước, phía sau là huyền vũ. Huyền vũ phải cúi đầu, chu tước phải tung cánh, thanh long phải lên xuống uyển chuyển, bạch hổ phải thuần phục. Nếu hình thế núi ngược lại với những điều ấy thì đều phải đổi chỗ khác. Vì vậy hổ ngồi chồm lên gọi là hổ ăn xác chết. Huyền vũ không cúi đầu thì không chịu nhận thi thể, chu tước không múa lượn tức là muốn bỏ đi.
Lấy chi mạch làm long, hổ là chỉ thế đến và sự tiêu tán của nó; phần eo lưng phải như cánh tay, địa thế này gọi là hoàn bao, nghĩa là ôm bọc. Lấy nước làm chu tước là chỉ sự hưng vượng hay suy bại của nó ứng với hình núi. Trường hợp này tối kỵ dòng nước chảy quá gấp, gọi là tiếng khóc thảm. Nước uốn lượn như quay đầu lại rồi lại đi, chẳng thấy hình cũng chẳng thấy bóng.
Thế núi đổi hướng mà tới, dòng nước ôm bọc lấy, nơi ấy khiến con cháu đời sau hưởng phúc; nhưng thế núi quay lưng đi xa, dòng nước chảy thẳng ra, nơi ấy dù đang là vương hầu cũng sẽ bị tiêu diệt.
Thế núi cao vọi, trước mặt có khe nước, đó là nơi long ẩn mình. Thế núi chếch nghiêng mà tới thì kết huyệt trước mặt long là tốt, nhưng nếu kết huyệt ở sừng và mắt của long thì đời sau bất hạnh. Thế núi đứng thẳng mà tới thì kết huyệt bên cạnh long là tốt, còn kết huyệt ngay trong miệng, trên môi long thì con cháu chết trong binh lửa. Thế núi uyển chuyển, bên trong chứa khí, nơi ấy gọi là bụng rồng; nếu cuống rốn của rồng sâu mà gấp khúc, chôn ở đó con cháu ắt giàu sang. Chọn sai chỗ mà động đến ngực và rốn của rồng thì có tai họa.
Chọn chi mạch hay gò đống, và phép đo của người giỏi
Phán đoán đó là chi mạch hay gò đống vốn chẳng phải chuyện dễ. Đoán đúng thì nguồn phúc không cạn, đoán sai thì hung tai không dứt. Giữa muôn trùng đồi gò, vô số chi mạch và gò đống, phải chọn một nơi kỳ lạ nhất. Kỳ lạ nghĩa là nơi có mạch núi lớn mà bề ngoài lại rất nhỏ, hoặc ngược lại. Chọn chi mạch thì phải chọn chi mạch ẩn kín; chọn gò đống thì phải chọn gò nổi cao. Tuy vậy, cả chi mạch lẫn gò đống đều phải nằm nơi bằng phẳng, vì sinh khí ngưng kết ở đó. Chi mạch nên chôn trên đỉnh, gò đống nên chôn nơi chân. Xem chi mạch như xem cái đầu, xem gò đống như xem cái chân.
Người xưa dùng khúc biểu để định phương hướng, dùng thước ngọc để cân nhắc xa gần, lại dựa vào sự ngưng kết của Kim, sự phù trợ của Thủy, sự chính ứng của Mộc, sự xung hòa của Thổ. Bên ngoài huyệt phải giữ được gió từ tám phương thổi tới, bên trong cần có đủ khí ngũ hành. Núi sa như long hổ vây quanh, chủ sơn nghênh đón núi sa. Chỗ vi diệu ấy chỉ có người thầy thông minh mới nhìn ra được, căn cứ vào sự khác nhau của thế núi, khảo sát kỹ càng, thông suốt khí âm dương, đủ sức sửa đổi cả sự tạo hóa của trời đất.
Hình dáng núi báo điềm phúc họa cho con cháu
Chọn không đúng hình và thế thì sinh khí trong núi sẽ thất thoát. Thế núi như ngàn vạn con ngựa phi nước đại tới, chôn ở đó đời sau có thể làm vương. Thế núi như sóng lớn, gò nhấp nhô trùng điệp, chôn ở đó con cháu giàu có. Thế núi như rồng giáng trần, nước bao quanh, mây đẹp bay theo, đời sau làm đại thần. Thế núi tầng tầng lớp lớp lâu dài, cỏ cây sum suê, con cháu có thể lập nên một nước mới. Nhưng chôn ở nơi thế núi như rắn bò nghiêng lệch thì nước mất nhà tan; chôn ở nơi thế núi như dòng nước chảy thẳng xuống thì tai họa giáng xuống đầu.
Hình núi như gò đống mà lưng mang hình án, hình bình, chôn ở đó đời sau có người làm vương hầu. Hình như tổ chim yến, chôn ở đó sẽ nhờ chia đất mà được nước. Hình như bình rượu nghiêng, sau có mạch núi tới mà phía trước không ai đón, chôn ở đó con cháu làm công khanh đại phu. Hình như chiếc mũ đặt đứng, con cháu đời đời vui vẻ. Hình như nắp vung nồi, chôn trên đỉnh thì đời sau hưởng giàu sang.
Còn hình núi như mũi đao hướng lên thì khó tránh tai họa. Hình như thanh kiếm nằm ngang thì đời sau gặp nạn đao kiếm. Hình như chiếc bàn trà đặt ngang thì con cháu diệt vong. Hình như mui thuyền thì con gái chủ nhà bệnh lâu không khỏi, con trai bị hình ngục. Hình như cái túi thì nhà dễ bị hỏa hoạn. Hình như quần áo nhăn nhúm thì vợ con gái chủ nhà dâm đãng, làm những việc bại hoại phong tục. Hình như răng lược thì đời sau mọi việc đều mê loạn. Thế và hình núi lẫn lộn, không phân minh thì không nên chôn.
Sau đó phải xem thế núi hai bên và hình núi phía trước. Nơi đất quý có thế và hình như trâu nằm, ngựa phi, phượng múa, loan bay; nếu có hình rắn bò hoặc mai rùa thì không phải đất quý, riêng trường hợp ấy phải nhờ nước để thêm tốt đẹp. Hình trâu nằm đem đến tiền của, hình phượng múa đem đến chức vị cao quý; hình núi chỉ cần hơi gấp khúc là chôn ở đó không tốt lắm. Cho nên phải chú ý phía trước, phía sau và hai bên ngôi mộ.
Thế đến phải đồng hướng với hình đi, khí không bị gió thổi tan
Thế núi lao tới và hình núi chạy đi phải cùng một hướng thì mới là huyệt tốt. Thế không tốt mà hình tốt thì huyệt còn chút phúc khí; ngược lại thì tai họa chực chờ. Vì vậy cần có khí bên ngoài ngưng tụ với khí bên trong, và dòng nước có thể ngưng kết lai long. Nếu thế núi cao vút từ từ tiến tới rồi bỗng thu thế mà không có ao nước để tụ khí thì khí bên trong sẽ thấm xuống đất.
Nơi không tích tụ sinh khí chính là nơi khiến thi cốt mục rữa.
Gió thổi tới cũng làm sinh khí tản mác. Các gò đất chồng lớp, nếu hai bên thân trống trải, phía trước rộng mà sau lưng đứt đoạn thì sinh khí bị gió cuốn đi.
Huyệt có khí bốc lên rồi tản mát thì quan tài sẽ mục nát.
Về chất đất, đất phải mềm mà chắc, tươi nhuận mà không ẩm ướt, có đủ hai màu hồng và vàng. Đất khô như hạt gạo, có mạch nước lại có sỏi đá nhỏ thì là nơi hung họa. Tóm lại, mộ huyệt có ba điểm tốt và có tám tướng xấu. Ánh mặt trời chiếu xuống, vượng khí của địa mạch tiếp nhận, nguyên thần hợp hội, huyệt như vậy gọi là thần nghênh quý đóa, đất tốt bậc nhất. Khí âm dương cùng hòa hợp, đất đủ bốn màu trong năm màu, là đất tốt bậc hai. Đất tốt bậc ba thì phải nhờ nhà địa lý quan sát tường tận để ngôi mộ được trọn vẹn.
Sáu điều hung trước khi hạ huyệt
Còn sáu điều hung là: thứ nhất, âm dương lệch nhau, đặt sai chỗ; thứ hai, ngày tháng năm không hợp; thứ ba, không theo bổn phận mà tìm đến; thứ tư, cậy phúc khinh người, dựa thế làm càn; thứ năm, đắc tội với người trên, bức hiếp kẻ dưới; thứ sáu, trong huyệt xuất hiện quái vật.
Có được huyệt tốt mà không chôn cất cẩn thận thì chẳng khác nào đem thi thể quăng ngoài đồng.
Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 2.
