Bài tổng quan
Gió và nước của đất: phân rồng thật giả, đặt huyệt
Người thở ra rồi hít vào thì sống, đất cũng có hơi thở của nó, và hơi thở ấy nằm ở gió cùng nước. Gió đến thì khí tản, nước dừng thì khí đọng, nên hai thứ này quyết định một huyệt ấm hay lạnh. Một ngôi mộ nên xoay về bên nào?
Khi đã biết trong chi có can mà vẫn lạc đường
Ta đã biết trong chi có can, can dài có thể thành kinh đô, can ngắn có thể thành châu huyện, trong chi có can, trên can lại có chi. Điều này đã rõ. Chỉ e khi tìm long mạch đến chỗ này lại không nói được cho rõ: nước hai bên tuy kèm sát, nhưng gió thổi khiến khí tán thoát.
Có huyệt tạo nên châu ấp lớn, đến chỗ núi cùng nước tận mới xuất hiện. Có khi thành hoàng đô đại hội lại nằm giữa rừng sâu cô quạnh. Bây giờ bạn tìm huyệt đến chỗ tận cùng của nước, chỉ thấy đất đá lổn nhổn. Nhìn bên phải không thấy huyệt, ngó bên trái cũng chẳng thấy hình, đành chuyển sang tìm huyệt trên phân chi. Trên phân chi lại chỉ thấy cành lá tán loạn, thành thử khó tìm ra huyệt. Cũng biết rằng huyệt giả thì đằng trước không có án sơn, nhưng vẫn cứ nghi hoặc. Gặp được bậc cao minh chỉ giáo mới hết ngờ.
Khi chưa phân biệt được can với chi, vẫn còn có thể biết mặt trước mặt sau. Nếu có hai dòng nước kèm long mạch mà đến thì phải xem nước ở bên ngoài từ phía nào chảy vòng đến hộ vệ. Chỗ có núi nước vây bọc thì mặt sau của nó thấp hẳn xuống. Núi nước vây bọc cũng có lớn có nhỏ, tùy rồng dài hay ngắn. Rồng dài thì núi nước vây bọc tương đối xa, rồng ngắn thì vây bọc tương đối gần.
Núi bao bọc nhất định phải lưu chuyển khúc chiết, không được chạm đến minh đường cả trong lẫn ngoài. Hình dạng lưu chuyển khúc chiết là nói phần mặt, chỉ ngại núi chầu che lấp mà không mở ra cho thoáng. Núi nước vây bọc giống như tấm bình phong, nhưng phía trước mặt phải thông thoáng. Núi nước bao bọc thành án sơn, chỉ e minh đường bị bó hẹp, không thoáng đãng. Thoáng đãng nhưng lại không thể để sóng gió xâm phạm. Cho nên còn phải xem phía sau, nước có xung phá vách đá khiến rồng đổi hướng hay không.
Nếu là chính diện thì phải rộng rãi bằng phẳng, nếu là sau lưng thì nhiều vách đá dựng đứng. Nếu là đối diện thì lập huyệt nơi bằng phẳng, bên trong ắt có nước chầu chảy qua. Khi phân biệt rõ quan hệ giữa mặt và lưng thì tìm rồng theo can chi sẽ không còn nghi hoặc.
Tìm huyệt nơi rộng rãi, khúc chiết, núi nước cùng ôm
Tìm được huyệt nơi rộng rãi, bằng phẳng mà khúc chiết thì chắc chắn là huyệt tốt. Cần xét rõ núi nước chầu nghênh ở đâu, ở giữa có sông nước chảy qua. Phía sau có nước ôm, có núi hộ vệ. Núi và nước hình thành một cửa khẩu, sau đó dùng la bàn xác định tinh vị để biết trước sau. La bàn có phân đầu cuối: đầu đón núi trước mặt, cuối hợp với nước.
Dò xét kỹ trên dưới trái phải sẽ thấy chân long trong cục thế. Có khi có vài ngọn núi đến chắn dòng nước, nước kèm sát mấy ngọn núi này mà đi. Nếu thấy núi hộ tống mà tình trạng trên dưới tương đồng thì phần trên là chân huyệt, phần dưới giữ gió. Nếu còn nghi hoặc thì quan sát sự đổi hướng của trên dưới: núi và nước cùng quay về ôm ấp thì đó là chân long.
Ngay trên thân long mạch từ xa tới cũng có thể hình thành huyệt, ở đó hình thành huyệt thư hùng, tuy vậy cũng phải phân quý tiện, phân cao thấp, nhất là phải phân trung. Cũng có chân hình xuất hiện mà không có nước chầu hộ vệ, chỉ thấy núi chầu dựng nên chân hình. Nước chầu bên ngoài án sơn lặng lẽ tiến vào; nếu án sơn hình thành ngược chiều nước thì có thể vây kín bốn bề, không để chân khí tán thoát. Huyệt có chân hình mà không có nước chầu thì chỉ cần nhiều dòng nước hội hợp ở bên trong là được.
Nước đi ngoài minh đường, bốn phía cục thế bên trong ôm ấp bao quanh, dòng nước uốn cong như lưỡi câu thì chân khí trong cục không bị khí ngoài cục xâm phạm. Dương khí ngoài cục hướng về đại hải mà hộ vệ tinh tú, chân khí trong cục khiến Long sơn, Hổ sơn được yên.
Nếu rồng trên chi và can có bề mặt rộng lớn thì huyệt sẽ phát về đường quan lộc, đời đời làm quan. Nơi rồng chuyển mình uốn lượn, hình thế thay đổi theo. Mỗi lần nhô lên có một lần hạ xuống, mỗi lần chuyển thân có một lần đứt đoạn. Hai bên tả hữu của long mạch đều có núi nước chầu về, đều có dòng chảy ôm ấp, đều có chân hình của huyệt, đều có án sơn. Hình thế đón hai phía đều rất đẹp, minh đường sáng sủa, núi hộ tống đầy đủ. Nhưng điều quan trọng là không thể lập huyệt ở cả hai bên. Lúc ấy phải xem kỹ đây là chân long hay giả long.
Nếu có hai dòng nước kèm sát long mạch thì nhất định chân long sẽ đổi hướng. Rồng đổi hướng thì có quỷ sơn, chân quỷ sơn đều hướng ra sau. Thông thường khi rồng chủ can sắp hết, núi ngoại vi chắn dòng nước khiến nước phải quay ngược về chầu rồng. Phàm núi và nước có sự gấp khúc, quay về thì nơi ấy nhất định có huyệt kết phát vương hầu.
Lại có chân long được hai nước kèm hai bên, không chuyển mình mà trực tiếp kết huyệt, thì hộ vệ hai bên ắt khác nhau. Rồng chủ can khí sắp hết mà chưa thấy quỷ sơn tương ứng thì cần xem nước hội tụ ở đâu. Nơi nước hội tụ chính là minh đường vậy.
Tìm nơi rồng tạm dừng chân
Rồng không bàn quý tiện mà bàn độ dài ngắn của nó. Rồng từ xa tới, càng gần càng dũng mãnh. Nhưng nếu chỉ luận dài ngắn mà không nói quý tiện, thì rồng có huyệt kết nhất định tốt hơn sao? Chỉ e thấy được rồng trước mắt mà không biết rõ tổ tông của rồng, vậy phải làm sao?
Các nhà phong thủy thời trước khi gặp tình huống này đều tìm nơi rồng tạm dừng lại, vì nơi tạm dừng của rồng ắt có nhánh rẽ, trên nhánh rẽ ắt hình thành tiểu quan cục. Điều này giống như người đi lộ trình ngàn dặm, phải có chỗ dừng chân nghỉ ngơi. Chỗ ấy ắt có bộ thuộc đi theo, hộ vệ hầu cận. Ở nơi rồng tạm dừng, cần quan sát mặt núi hạ xuống ở đâu, có như vậy mới biết được diện mục của chân long. Trên lưng chân long là núi chầu, huyệt kết ở đây.
Các nhà phong thủy xưa khi xây dựng thành đô, trước hết tìm nơi rồng tạm dừng. Sau đó lên đỉnh núi tìm mặt núi, rồi lại xuống bình nguyên quan sát nơi mặt núi hạ xuống để tìm huyệt.
Biết rồng thật giả rồi còn phải biết huyệt
Đã biết rồng thật hay giả nhưng chưa biết huyệt ra sao. Thông thường khi chân long sắp kết huyệt, nó sẽ tạo ra một huyệt giả đi theo mình. Trong huyệt giả này có nhũ đầu, kiềm khẩu nhưng không có tả hữu. Biết long mạch càng cần biết huyệt, vấn đề này được bàn trong thiên bàn về biến tinh.
Trên long mạch sinh ra đỉnh ngọn thì đó là gốc rễ, rồng hình thành huyệt ở phía trước giống hoa nở. Chỉ cần gốc rễ là thực thì huyệt không thể là giả. Nếu không căn cứ vào đỉnh ngọn để tìm gốc rễ mà chỉ dựa vào huyệt giả thì hậu họa khó lường. Vì lẽ đó nhất định phải nắm vững thiên biến tinh, phân biệt rõ các loại hình nhũ, kiềm. Cao thấp của địa thế đều có huyệt đi bên cạnh, không thể tùy tiện phán đoán. Nếu huyệt không theo đỉnh ngọn thì chắc chắn là huyệt giả.
Đa số huyệt của kinh thành, đế đô, huyện ấp đều nằm trên đất bằng, song cũng có huyệt của thành đô nằm trên vùng cao, huyệt của huyện ấp đóng ở nơi thủy tận sơn cùng. Ví dụ thành Kiến Khang thuộc Nam Kinh tọa lạc dưới vách núi, do Tả Phù Hữu Bật kết thành huyệt. Thành Thái Nguyên xây trên chiến trường cổ xưa với Hùng Nhĩ Sơn là long mạch. Bắc Kinh tọa lạc trong viên cục, do Tham Lang, Cự Môn kết thành huyệt.
Nếu tinh tú giáng xuống trên long mạch thì có thể đoán rằng có huyệt ở phía trước đỉnh ngọn. Đây là cách dựa vào sự dịch chuyển của các vì sao mà đoán huyệt. Thông thường, biết tinh tú rồi mới biết long mạch. Huyệt sinh trên long mạch mới có dấu vết thực. Dấu vết này khi tới nơi có huyệt thì có hình có thế. Còn rất nhiều hình thế giống long mạch, nơi cận kề núi nước thì phải dựa vào hiện tượng sự vật mà định. Hình thế giống rắn, tựa hổ thì sinh huyệt, nếu hình thế ấy chân xác thì thấy huyệt chân thực.
Long mạch đi suốt ngàn dặm chỉ có một huyệt chính. Chính huyệt là tốt nhất, các huyệt khác kém hơn. Nếu long mạch đến từ bên trái thì huyệt cần đóng ở bên trái và ngược lại. Hai bên trái phải tương đối thấp thì huyệt đóng ở chỗ thấp và ngược lại. Khi chính huyệt đối diện với núi chầu thì ắt có tướng quân, tướng quân luôn đóng ở trước mặt chính huyệt. Nếu huyệt ở phía Nam thì nên tìm tướng quân ở phía Bắc, đỉnh của núi chầu đóng ở hai bên trái phải, bao bọc huyệt. Chỉ cần nhờ tướng quân mà tìm chân huyệt là được, nếu huyệt có tướng quân đóng đối diện thì đó là chân huyệt và là huyệt tốt nhất.
Nơi nhũ đầu của huyệt rất sợ gió xâm phạm. Nếu bị gió xâm phạm thì người cư trú ở đó sẽ không còn con cháu nối dõi. Huyệt kiềm giống cây đinh ba treo trên tường, tối kỵ có nước chảy qua đầu. Huyệt ngưỡng chưởng phải đóng ở chính giữa. Huyệt hình ổ cần giống tổ chim, không được nghiêng lệch, bằng không đại họa sẽ giáng xuống.
Ngoài ra còn phải biết Thiên Kiếp, Địa Kiếp và Nhân Kiếp. Thiên Kiếp chính là thân mình của long mạch, Địa Kiếp là cửa phía trước huyệt, Nhân Kiếp nằm ở phương hướng. Ba loại ấy chủ về phú quý đời sau.
Gió sinh ra từ nước, khí đất nằm ở gió và nước
Dòng nước có ẩn chứa gió, dù không hợp với tinh tú, thể phách vẫn an toàn. Ngược lại, nếu hợp với tinh tú mà gió thổi nước reo thì khó tránh họa. Gió sinh ra từ nước. Gió là vô hình mà nước là hữu hình. Nhờ cái hữu hình mà phán đoán cái vô hình là phương pháp của người xưa. Chân khí gặp gió thì tản mát, sau khi tản mát gió cũng không thể hồi phục. Chân khí gặp nước thì dừng lại, sau khi dừng lại nước cũng bị ứ đọng. Phải quan sát sự đến đi của gió và nước để biết nơi hứng nhận sinh khí.
Nước đi thì gió tới, nước đến thì gió đi. Gió tới chủ hung, nước tới chủ cát. Núi nước cùng giao hội thì gió ẩn khí tụ. Núi đi mà nước rời thì gió cuốn khí tán. Nước chuyển theo núi, gió đi theo nước. Nước chầu núi thì không có gió. Thế gió tuy thuận nước mà đi, nhưng nghịch nước mà đến. Nghịch thì cát, thuận thì hung.
Khí của người nằm ở hô hấp, khí của đất nằm ở gió và nước. Hô là thở khí ra, hấp là hít khí vào. Chỉ thở mà không hít thì người ắt phải chết. Nếu chỉ có gió mà không có nước thì đất sẽ khô cằn. Nếu gió tới, sinh khí tiêu tán hết thì huyệt lạnh lẽo. Gió đi, sinh khí ngưng tụ thì huyệt ấm áp. Huyệt lạnh lẽo thì ẩm thấp, huyệt ấm áp thì khô ráo. Lạnh lẽo chủ về hao tán người và vật, ấm áp chủ về sinh sôi, khiến người và vật sung túc. Nước theo mặt đất lưu chuyển mà gió nhờ nước để đến đi, vì thế gọi là địa phong.
Nước ở minh đường chảy về bên trái, núi Thanh Long bên trái ngắn mà núi Bạch Hổ vượt quá trung cung, mặt đất trong minh đường bên phải cao bên trái thấp, thế ấy gọi là cuốn rèm. Khi đó quan tài phải xoay về bên trái và ngược lại. Nếu nước khe nhỏ không xâm phạm thì có thể đặt huyệt trên đất bằng. Nước sông lớn tới chầu thì đặt huyệt trên núi cao. Nếu quan tài táng ở chân núi mà có một ao nhỏ ở đó thì gọi là Hạt Thủy, chủ nhân có huyệt này sẽ bị tật ở chân. Nước chạy thẳng tới thì gọi là Tiến Thủy. Nước chạy ngang qua gọi là Xuyên Thủy.
Gió của núi Thanh Long, thế chạy dài mà bị núi Bạch Hổ che chắn, gió sẽ khiến quan tài lật qua bên trái; nếu núi Bạch Hổ thấp nhỏ thì tránh được hung. Gió của núi Bạch Hổ cũng giống gió của núi Thanh Long. Nếu nước đảo hướng qua phải thì không có Bạch Hổ, đảo hướng qua trái thì không có Thanh Long. Không có Bạch Hổ thì Thanh Long không thể vượt qua huyệt, không có Thanh Long thì Bạch Hổ khó vượt qua cung vị.
Hai dòng nước kèm rồng, chân núi thuận nước hay nghịch nước
Phàm long mạch đều có hai dòng nước kèm hai bên mà đi. Có khi một bên là sông lớn, một bên là suối nhỏ. Có lúc một bên là khe, một bên là mương. Hai nước này tối kỵ giao nhau ở trước mặt, tốt nhất là ở bên trái hoặc bên phải. Long mạch có mặt trước và mặt sau, nếu trước mặt có nước đến chầu thì huyệt sẽ thuộc về núi chầu.
Xem tướng đất, thoạt đầu phải đứng ở đầu nguồn mà quan sát hướng chảy của nước. Nếu thấy núi ngược nước đi lên, sau lại thấy huyệt có núi nước triều bái thì đó là đất tốt. Phàm có nước chạy ngang qua thì có hai núi đối diện nhau. Nếu đất bằng trong núi quay lưng bao lấy chân núi phía Nam thì huyệt ở phía Nam.
Nếu nước bên phải đảo hướng qua trái thì chân núi bên hữu sẽ thay đổi. Chân núi không vượt qua trước huyệt, không xâm phạm minh đường thì không đáng ngại, và ngược lại. Nếu nước bên phải đảo hướng qua trái thì phải quan sát núi bên phải, và ngược lại. Nếu chân núi theo nước mà xuống thì gọi là Phối Thần. Nếu chân núi theo nước mà lên thì gọi là Tiến Thần. Núi trọc gọi là Hốt Sơn, núi nhọn gọi là Văn Bút Sơn. Tóm lại chân núi cứ nghịch nước thì khá cát lợi, thuận nước thì hung họa.
Nếu núi Thanh Long dài mà Bạch Hổ ngắn thì huyệt ắt phải đóng bên trái mà hướng về bên phải, và ngược lại: nếu Bạch Hổ dài mà Thanh Long ngắn thì huyệt nhất định phải ở bên phải và hướng bên trái. Vì bên ngắn nhất định có nước tới nghênh đón, nên phải giữ bên dài để bắt đầu nhằm bảo toàn sinh khí.
Huyệt đạo thẳng mà dài thì xây nhà phải bắt đầu từ trước ra sau. Nếu huyệt đạo ngang mà ngắn, nước tụ về bên trái, thì xây nhà phía bên trái cần từ trước ra sau, bên phải thì từ sau ra trước. Bên trái cao mà bên phải thấp, bên trái đầy mà bên phải trống, bên trái hợp với tiến tới, bên phải hợp với bước lui.
Mai táng phải nhờ vào sinh khí. Nếu thiên về bên trái thì hài cốt bên trái sẽ hư hỏng, và ngược lại bên phải cũng vậy. Nếu sinh khí trầm uất mà huyệt táng quá nông thì hài cốt dễ bị vôi hóa. Nếu sinh khí nổi lên mà huyệt quá sâu thì hài cốt dễ bị than hóa.
Phong thủy địa lý cũng có khi không linh nghiệm: mai táng nơi đất xấu mà vẫn an nhiên tự tại, đó là do phúc phận của người thịnh vượng mà địa khí lại tốt lành.
Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 2.
