Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Thiền, tọa thiền và ba cửa ải giới, định, tuệ

Đạo Học - Khuyên Thiện04/10/202613 phút đọc1 lượt đọc
Thiền, tọa thiền và ba cửa ải giới, định, tuệ

Vị pháp sư cứ rót nước vào chiếc chén đã đầy, nước tràn ra ngoài, và người khách chợt hiểu vì sao muốn học thiền thì phải đổ bớt những gì đang chứa trong lòng. Từ chiếc chén ấy, một lối tu đi qua ba cửa nối nhau. Cửa nào khó nhất?


Thiền: lau tấm gương cho bụi rơi khỏi

Thiền vừa là lý luận tôn giáo của Phật học Trung Hoa, vừa là một loại hình văn hóa. Khi nói đến Thiền như một dòng trong Phật học thì gọi là Thiền tông; nhìn từ góc độ văn hóa thì có thể gọi là văn hóa thiền. Thiền định là phương pháp tu của đạo Phật, còn Thiền tông là tông phái đại diện cho Phật giáo Trung Hoa, tượng trưng cho việc Trung Hoa hóa đạo Phật. Vì vậy ai muốn tìm hiểu Phật giáo Trung Hoa thì trước hết phải tìm hiểu lý luận thiền học. Tư tưởng chính của Thiền tông là đốn ngộ tiệm tu, tức chợt hiểu ra rồi dần dần tu luyện.

Chữ Thiền là gọi tắt của Thiền na, tiếng Phạn là Dhyana, nghĩa là dứt bỏ cái ác, tu tư duy; theo cách dịch mới là tĩnh lự, và là một phép định tâm. Phái Du già của Ấn Độ cũng thuộc Thiền. Thiền Đại thừa và Thiền Tiểu thừa do Bồ Đề Đạt Ma đưa từ Ấn Độ sang Trung Hoa, truyền cho Tuệ Khả, ý chính là chỉ thẳng vào tâm người, thấy tính thành Phật. Thiền rực rỡ vào thời Lục tổ Tuệ Năng, từ đó dựng nên Thiền Trung Hoa đậm bản sắc riêng. Các phái cùng truyền, thành Ngũ gia thất phái, và phong cách thiền trở thành phong cách giáo dục của Phật giáo Trung Hoa.

Lý luận chính của Thiền tông là vạn pháp tự tính không. Cái gọi là tự tính chính là tự tâm, cũng là chân như, Phật tính, cội nguồn sinh ra mọi thế giới. Tự tính, tự tâm ấy có mặt nơi mỗi chúng sinh, như một tấm gương sáng soi rõ bản tính. Vì thế Thiền tông chủ trương phủi sạch lớp bụi bám trên mặt gương thì vạn pháp mới hiện rõ. Nghĩa là bản tính của con người, tự tâm ấy, vốn là tâm Phật trong sáng; bỏ vọng niệm, bỏ mây trôi thì cũng chính là tâm Phật. Nên tôn chỉ của Thiền tông là chỉ thẳng vào bản tâm, thấy tính thành Phật.

Mục đích tu thiền: thấy rõ cái vốn có sẵn

Có người đi khắp nơi tìm một món báu, rồi một hôm nhận ra nó vẫn nằm trong túi áo của mình.

Thiền tông xem chân như Phật tính là cảnh giới tối cao của việc tu, là thế giới bên kia, mà thế giới bên kia lại là bản thể của vũ trụ. Lòng người thông cảm với vạn vật. Khi tự tính trong lòng người hòa với chân như bên ngoài, viên dung không ngăn ngại, thì nhân cách đã đạt tới độ trọn vẹn. Pháp sư Thái Hư từng nói, chỉ khi con người tu thành Phật mới đạt sự trọn vẹn ấy. Cho nên mục đích thành Phật của tu thiền là sáng tâm thấy tính, thấy tính thành Phật. Kiến tính tức là ngộ ra tự tính, chứng được tâm người chính là Phật tính. Con người ai cũng có Phật tính; tu thiền giúp người rũ hết bụi trần mà nhận ra rằng tâm Phật vốn đã sẵn trong mình, đạt tới chỗ tâm Phật của mình thông suốt với cảnh chân như của thế giới bên kia, gọi là mở tự tính ra, viên dung vô ngại.

Tính tức thị tâm, tâm tức thị Phật, Phật tức thị pháp.

Tính chính là tâm, tâm chính là Phật, Phật chính là pháp. Kinh Niết bàn nói mọi chúng sinh đều có Phật tính, nhưng bị phiền não che nên không thấy được. Nghĩa là ai cũng có bản tính ấy, chỉ vì phiền não và dục niệm che lấp; cắt bỏ phiền não, tà dục thì thấy Phật tính, khi ấy Phật tính và cảnh Phật mới viên dung, con người mới thoát khỏi khổ ải, đạt tới cảnh vui chân như ở bên kia. Đó là con đường quay về nguồn mà thiền gia nói đến.

Ý chính của việc tham thiền

Tham thiền là quá trình từ phàm bước vào thánh. Ý chính thứ nhất là qua ải nhập thánh, và phải nắm chắc nhị đế, hai lẽ thật: chân đế và tục đế. Tục đế nói mọi tướng trên đời đều có thực. Chân đế nói mọi tướng đều vô thường, vô ngã, nghĩa là mọi vật bên ngoài không cố định, không trường tồn. Thiền tông tiếp thu lý luận tính không của Bát nhã: sắc, tâm, ngã, pháp đều không; vạn vật không có thực thể, chỉ tạm sinh tạm diệt, mọi chuyện đời người như ánh chớp, như tuyết, như mưa, đổi dời không ngừng trong sinh, trụ, dị, diệt hay thành, trụ, hoại, không. Đó là điều thứ nhất của tu thiền đốn không: tâm tính vắng lặng, không tướng không làm, tâm sinh thì mọi pháp sinh, tâm diệt thì mọi pháp diệt. Vạn vật không có hình dáng nhất định, nên tâm cũng phải không có vọng niệm mới vào được thiền.

Có câu chuyện về thiền rất được nhớ. Một vị giáo sư đến hỏi thiền một vị pháp sư. Pháp sư rót nước vào chén cho vị giáo sư, không nói gì, và vẫn rót vào chiếc chén đã đầy, nước tràn ra ngoài. Vị giáo sư kinh ngạc hỏi vì sao. Pháp sư nói muốn học thiền thì trước hết phải đổ hết những gì đang trong lòng, như chiếc chén: nếu không đổ nước cũ đi thì làm sao chứa nước mới; nếu không thì chẳng thể ngộ thiền. Vị giáo sư nghe xong bừng tỉnh.

Ý nghĩa thứ hai là quán tâm, tức quán tâm phản chiếu, cũng gọi là tịnh tâm.

Thân thị bồ đề thụ, tâm như minh kính đài. Thời thời cần phất thức, mạc sử hữu trần ai.

Thân là cây bồ đề, tâm như đài gương sáng, hãy chăm lau phủi, đừng để bụi bám. Phật học lấy tâm làm tông, và có câu nói rằng lời Phật lấy tâm làm tông, lấy không cửa làm cửa pháp. Nghĩa là giữa tâm Phật của tự tính và cảnh Phật bên ngoài không có sự ngăn cách. Nhưng trước khi nhập thánh, giữa tâm và cảnh có một cánh cửa do bụi trần, tà dục, phiền não dựng lên. Nếu dùng việc tu tâm thiền làm tông mà phá cửa chặn dục vọng, phiền não ấy, để tâm Phật của tự tính thông suốt với cảnh chân như ở bên kia, tức là đã bước vào cửa Phật. Thiền gia chủ trương đốn ngộ tiệm tu: qua giai đoạn tịnh tâm, bỗng nhiên thông suốt, mở rộng cửa tâm, đạt tới chỗ chỉ thẳng tự tâm, thấy tính thành Phật.

Tọa thiền: ngồi cho tâm không động

Tu thiền có thể nhập thiền ngay trong lúc đi lại thường ngày, nhưng muốn thật sự đạt cảnh cao nhất của thiền thì cần tọa thiền. Thích Ca Mâu Ni sở dĩ thành Phật là vì sau khi rũ lòng tà, ngài ngồi dưới gốc cây tất bát la và thề rằng chưa vào cõi Phật thì chưa đứng dậy. Vì vậy tu thiền phải kiên trì tọa thiền.

Tọa thiền là gì? Đối với mọi cảnh giới thiện ác, tâm niệm không khởi gọi là tọa; tự tính không động gọi là thiền. Tọa thiền tuy cần một dáng ngồi nhất định để giúp chặn sự động, nhưng làm lắng cái tâm mới là điều quan trọng nhất, nên cần thiền định. Thiền định là gì? Một tâm xét vật là thiền, một cảnh lặng niệm là định. Thiền định tức là định tâm, mà định tâm giống như việc chăn bò: người chăn cầm gậy trông chừng, không cho nó chạy lung tung, không cho nó đạp vào mạ của người khác. Kinh dạy bên ngoài lìa tướng gọi là thiền, bên trong không loạn gọi là định; thấy mọi cảnh mà không loạn thì đó là chân định.

Tọa thiền gồm tĩnh tọa, ngồi xếp bằng tròn gọi là kết già hay toàn già, một chân vắt lên chân kia gọi là bán già, thể hiện tư thế trang nghiêm, thành kính khi tu thiền. Dáng ngồi nghiêm chỉnh có tác dụng điều hòa nhịp thở và nhịp tim, nhưng phải đạt đến mức nhìn mà không thấy, nghe mà không loạn. Quá trình từ tu thiền đến nhập thiền thực chất là quá trình giới, định, tuệ của nhà Phật. Ở chỗ nhịp thở, người xưa của dòng Đạo cũng có lối thở như thai nhi để giữ tâm yên.

Điểm cốt lõi của tu thiền, nói theo lý luận Thiền, là mọi người đều có Phật tính, chỉ thẳng vào tâm người, thấy tính thành Phật. Con người vốn lương thiện, chẳng qua bị che bởi điều ác và vọng niệm; bỏ vọng niệm là thấy tâm Phật, và tâm Phật vốn thông suốt với cảnh chân như, chỉ bị tà niệm ngăn trở. Câu mọi người đều có Phật tính có sức cảm hóa và kêu gọi rất mạnh, góp phần lớn vào việc đưa đạo Phật đi sâu vào lòng người. Nó cũng nói rõ Thiền tông tin con người ai cũng có lòng tốt, là nền lý luận cho tư tưởng từ bi. Thiền ảnh hưởng không chỉ triết học, tư tưởng mà cả văn hóa, văn học, nghệ thuật, y học, luân lý, tâm lý, nên còn được gọi là văn hóa thiền.

Giới, định, tuệ: ba cửa ải từ phàm sang thánh

Ba cửa nối nhau, cửa trước không qua thì cửa sau không mở.

Giới, định, tuệ là nền của Phật học và là trình tự căn bản của việc tu thành Phật, nhất là trong tu thiền. Giới là thanh quy và quy phạm đạo đức của nhà Phật. Giới của người xuất gia và tại gia khác nhau, giới của Đại thừa và Tiểu thừa cũng có chỗ khác. Ngũ giới gồm: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu. Ngũ giới là giới bắt buộc suốt đời cho tăng ni xuất gia và cả đệ tử tại gia. Bát giới là giới cho người tu tại gia, ngoài năm giới còn thêm: không xức nước hoa, không dùng dầu thơm, không ca hát nhảy múa; không nằm giường rộng; sau buổi trưa không ăn cơm. Bát giới không bắt buộc suốt đời mà theo từng thời gian. Thập giới là giới của sa di và sa di ni lúc mới xuất gia, ngoài những giới trên còn thêm không được giữ vàng bạc, tiền của. Tầm quan trọng của giữ giới thể hiện qua kinh: vào biển Phật pháp thì niềm tin là gốc; qua sông sinh tử thì giới là chiếc thuyền, chiếc bè.

Định là tĩnh, gồm cái tĩnh của dáng tọa và cái lắng của tâm niệm, nhưng ý chính của định là tâm định: trong môi trường rất yên tĩnh, chuyên chú tâm niệm, làm lắng tư lự. Mục đích của làm lắng tâm là lọc niệm, lọc những tà niệm, gạt bụi trần của tâm cảnh, trở về cái vốn có. Như Đàn kinh nói: đất tâm không loạn thì tự tính là định. Kinh Phật di giáo do Cưu Ma La Thập dịch cũng dạy các tỳ khưu rằng đã giữ giới thì phải giúp chế ngự năm căn, đừng để buông thả theo năm dục, như người chăn trâu cầm gậy trông chừng không cho chạy bậy. Ý của phép trì giới chế dục là: dục niệm con người nếu không kiềm thì như ngựa không dây cương, kiềm được mới lọc được dục niệm, tâm gương sạch thì thấy rõ tịnh tâm. Một bước quan trọng của tịnh tâm là làm trống ngũ uẩn: sắc, thụ, tưởng, hành, thức, tức là hình tướng, cảm thụ, tư tưởng, ý niệm và tâm thức.

Tuệ là trí tuệ, quan tuệ, khai tuệ. Tuệ của nhà Phật không giống với trí: tuệ chỉ sự khai ngộ về cái không vô vi, còn trí chỉ sự thông hiểu về hình tướng hữu vi. Nên tuệ là nhận thức luận và thế giới quan của nhà Phật. Trí tuệ của nhà Phật là Bát nhã. Nó nằm ở sự liễu ngộ, tức chứng được tâm tính vắng lặng, không tướng không làm. Đức Phật nói không có chúng sinh nào không có trí tuệ Như Lai, chỉ vì vọng tưởng điên đảo, chấp trước nên không chứng được; nếu lìa vọng tưởng thì trí tuệ hiện ra. Một mặt phải chứng được vô thường, vô ngã của thế giới bên ngoài, tới cảnh không quán, tứ đại đều không; mặt khác phải quán tâm phản chiếu, dứt khát cầu và tham lam, lau sạch gương tâm, mới chỉ thẳng tâm mình, thấy tính thành Phật.

Ý nghĩa của ba cửa ải

Giới là cửa đầu tiên, bước đầu để cắt tạp niệm, vọng dục. Ải giới luật khó, cũng là lửa thử vàng để thử lòng tín đồ. Giới luật nhà Phật thuở đầu rất nghiêm khắc, như các tăng khổ hạnh lấy khổ để tiêu ác quả kiếp trước. Chính Thích Ca Mâu Ni từng tu khổ hạnh bên sông Ni Liên Thiền. Người nhà Phật phải khổ luyện tâm trí, giữ giới; giữ giới làm giảm vọng niệm, là nền để tu định và tuệ.

Định là tâm định, tức loại bỏ vọng niệm. Cần đoạn phiền não mới vào được Bồ đề, vượt sinh tử mới tới Niết bàn. Ý chính của định không chỉ ở chỗ tĩnh mà ở chỗ bỏ vọng niệm và mọi ham muốn, thuộc quá trình rửa tâm, tịnh tâm. Đó cũng là điểm khác nhau giữa thiền định và khí công nhập tĩnh, nơi mà cái đích là tĩnh để sinh động. Định là cửa thứ hai.

Tuệ là cửa cuối cùng trước khi nhập thánh, cũng là cửa khó nhất. Qua ải này phải có niềm tin vững rằng mọi người đều có Phật tính, bám chặt việc tu bản tâm: thân là cây bồ đề, tâm như đài gương sáng, chăm lau phủi, đừng để bụi bám. Như vậy mới biến ô uế thành thanh tịnh, biến phiền não thành Bồ đề, biến sinh tử thành Niết bàn. Giới, định, tuệ liên kết thành một thể: định là thể của tuệ, tuệ là dụng của định. Mục đích cuối cùng là đạt Bát nhã, tức trí tuệ. Giới luật tuy là thanh quy của tôn giáo nhưng cũng có ý nghĩa xã hội: nó ảnh hưởng đến đạo đức xã hội, gồm dư luận răn điều ác, khuyến khích điều thiện, góp phần làm xã hội yên ổn và giảm bớt tội phạm.

Tóm lại, lý luận cơ bản của Phật học là không quán, tư tưởng trung tâm là vượt thoát bi khổ, mục đích tu hành là đạt cảnh giới Niết bàn. Trong mắt nhà Phật, thế giới này chỉ là một vùng trời khác.

Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 4, thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện