Bài tổng quan
Âm thắng gặp dương thì dừng, và năm dáng của Long
Trong thung lũng âm khí nặng, ra tới đồng bằng dương khí nặng, và con Long chỉ chịu kết huyệt ở nơi hai khí ấy gặp nhau. Có Long lao thẳng, Long tạt ngang, Long quay đầu nhìn tổ, Long ngẩng cổ bay lên, Long nằm ẩn dưới đồng. Mỗi dáng có một cách để giữ chân khí, và một vì sao canh giữ…
Mục lục · 5 phần
- 01Âm thắng gặp dương thì dừng, dương thắng gặp âm thì uốn: Long cần âm dương hội hợp
- 02Đất lớn không có hình thì xem khí thế; đất nhỏ không có thế thì xem tinh thần
- 03Tôn tinh, chủ tinh, thai tức tinh, giải tinh, ấn tinh: năm vì sao nhận biết khí
- 04Năm dáng của Long: thẳng, ngang, quay, bay, ẩn
- 05Long gồm đủ năm hành, núi mạch giống Long
Âm thắng gặp dương thì dừng, dương thắng gặp âm thì uốn: Long cần âm dương hội hợp
Trong thung lũng âm khí nặng, ra tới đồng bằng dương khí nặng. Con Long chỉ kết huyệt ở nơi hai khí ấy gặp nhau và chịu nhường nhau.
Âm thắng gặp dương thì dừng; dương thắng gặp âm thì uốn. Hùng Long cần có Thư Long cai quản; Thư Long cần có Hùng Long vây quanh che chở.
Đoạn này bàn về thế của Long. Thế Long nhất định phải có âm dương; nơi thư hùng hội hợp sẽ kết thành thai, người nhận biết khí nên quan sát kỹ chỗ ấy. Trong sơn cốc, âm khí thường chiếm ưu thế, nên khi vừa tới đất Bình Dương, Long sẽ thoát thai đổi cốt, cục diện cũng mở rộng, lúc ấy tinh thần mới kết tụ. Điều này làm rõ câu "âm thắng gặp dương thì dừng". Mở rộng thì kết lớn, mở hẹp thì kết nhỏ.
Lại như đất Bình Dương, dương khí chiếm ưu thế, bỗng nổi lên một ngọn cương phong, một sống núi, thế gọi là cát khí nổi lên; âm sa bốn bề tiến tới hộ vệ, dù chỉ hiện thân nông cạn cũng đã thành cục. Cho nên địa thế bình nguyên chỉ cần phân rõ cục, xương tiết rõ ràng thì mới nói "dương thắng gặp âm thì uốn".
Hùng Long và Thư Long
Lại như thế Long tiến tới, chính can hùng vĩ mạnh mẽ, gọi là Hùng Long, từ trời hạ xuống, dựa vào khí thế của gió mà đi. Sơn mạch hộ tống hai bên cần nhu hòa uyển chuyển, sơn triều phải tiến tới nơi xa, sơn hộ không tranh cường với chủ can; như vậy chính can có thể kết huyệt. Cổ nhân có câu: "Hùng Long chính tọa, chủ sinh đại tướng nắm giữ binh quyền". Tóm lại, sa sơn cai quản mà thực đẹp đẽ thì sinh hiền nhân, văn sĩ.
Lại như thế Long tiến đến, chính can nhu nhuyễn uyển chuyển thì đó là Thư Long; sơn hộ tống hai bên cần mạnh mẽ mới gặp được tinh thần. Thư Long chủ về văn, mà sa ở bốn phía giống bút, hốt, cờ, trống thì sinh ra người có văn tài xuất chúng. Thư Long kẹp Hùng Long là đẹp nhất.
Đất lớn không có hình thì xem khí thế; đất nhỏ không có thế thì xem tinh thần
Người nhìn đất hay vội tìm lòng chảo, gò tròn, núm vú. Nhưng hình chỉ là vỏ ngoài; cái sống bên trong là khí và thần.
Đại địa không có hình, cần xem khí thế; tiểu địa không có thế, cần xem tinh thần. Nước thành hình thì dừng trên núi; núi thành hình thì dừng trong nước.
Đoạn này nói rằng khi lập huyệt, trước hết phải quan sát rõ nơi tinh thần của nó dừng lại, kết tụ. Nay người ta đứng bên ngoài nơi Long mạch nhập thủ kết huyệt, vừa thấy có oa, kiềm, nhũ, đột liền cho ngay là huyệt tốt, mà không biết rằng hình chỉ là bề ngoài của huyệt. Đến nơi Long mạch sinh cơ, chân khí kết tụ đều do đại thế mà ra; hình dáng của đại địa thường ẩn tàng rồi chợt lộ. Cho nên chỉ nên quan sát khí thế của nó trên phương diện khái quát, tổng thể, nhận biết tính tình của nó; nếu có sinh cơ thì sẽ kết thành huyệt, không nên câu nệ vào oa, kiềm, nhũ, đột.
Còn về tiểu địa, đã không có khí thế thì hình của nó phải hợp cục, tụ kết chân khí, mới tránh được gió thổi tới khiến chân khí tản mác. Khi nhìn từ bên ngoài cục, tựa như không có khí thế, nhưng vào trong cục quan sát thì lại có tinh thần; như vậy nên hạ huyệt ở nơi tinh thần kết tụ. Về nơi hình Long quy tụ dừng lại thì phải quan sát độ cao thấp của chỉ lũng, như thế mới không làm mất tính tình của nó.
Như Long bình chi, hoàn toàn dùng nước làm giới hợp mà thành cục, dương khí chiếm ưu thế, khí thế hòa hoãn, nên tìm địa huyệt ở nơi cương khí nổi lên; thế gọi là "dừng trên núi", tương đồng với "chỉ táng trên đỉnh" trong Táng Kinh. Lại như Long sơn lũng, âm khí chiếm ưu thế, khí thế hùng hậu uy mãnh, địa huyệt cần đặt ở nơi bằng phẳng; thế gọi là "dừng trong nước", chữ "nước" ở đây là nơi giới thủy hội hợp mà dừng lại. Điều này giống câu "lũng tàng ở chân núi" trong Táng Kinh.
Tôn tinh, chủ tinh, thai tức tinh, giải tinh, ấn tinh: năm vì sao nhận biết khí
Mỗi chặng của con Long có một vì sao canh giữ: ông bà, con cháu, bào thai, kẻ hóa giải sát và người cứu khi tuyệt.
Nhận biết khí của đại phụ mẫu thì xem tôn tinh; nhận biết khí của tử tức thì nhìn chủ tinh; nhận biết khí thành thai thì xem thai tức tinh; nhận biết khí hóa sát thì xem giải tinh; biết khí gặp tuyệt mà sinh thì quan sát ấn tinh.
Đoạn văn ngắn này là khẩu quyết quan trọng nhất trong việc nhận biết khí của Long. Phàm đến một nơi nào, cần quan sát ngọn núi nào lớn, cao nhất thì lấy núi ấy làm đại phụ mẫu. Lại xem tôn tinh là vì sao nào; như Thổ tinh cao vút mở rộng thì đó là thế Long Thổ, tử tức do nó dưỡng dục. Thổ là bản khí, Kim là trú khí, Mộc là sát khí; gặp Hỏa thì vượng, gặp Thủy thì suy. Cho nên phàm từ trên xuống mà gặp tương sinh thì tốt đẹp, gặp tương khắc thì xấu. Phép này cần lấy cha mẹ sinh con làm thứ tự, vì cha mẹ không nên khắc con cháu. Kinh Long viết: tử tức khắc phụ mẫu thì con cháu thành người ngỗ nghịch; phụ mẫu khắc tử tức thì con cháu suy bại.
Phàm Long mạch đến nơi nhập thủ thì cần quan sát rõ tôn tinh là vì sao nào. Ví như Kim tinh nhập thủ mà tổ tông của nó xuất mạch từ thế Mộc, thì tử là Kim mà thai là Mộc, như vậy tử tức xung phá phụ mẫu, không hay. Chỉ cần ở nơi hội hợp giữa Kim và Mộc có chút Thủy thì tốt. Bài "Giải nghĩa" của Ngô công lại viết: "Mộc tinh tiến vào Thổ tinh, trúng cử thủ khoa, phò tá triều đình". Cách này rút ra từ Lạc Thư lấy khắc nghịch làm thứ tự, khắc từ dưới lên.
Thai: nơi thư hùng phối hợp rồi mới sinh
Lại như đại phụ mẫu xếp cục thế để Long mạch tiến tới, nếu bên trong không có thư hùng phối hợp thì sao thành thai được? Cho nên khi Long mạch tiến đến địa thế khí thịnh, Long mạch cần đứt đoạn, quá hiệp, nhấp nhô mà thành thai. Trải qua việc phối hợp thư hùng, sau đó đi tiếp mới sinh sản được. Nếu không có thai mà Long mạch vẫn đi tiếp thì ắt sẽ có thay đổi, như vậy Long chỉ thuần dương hoặc thuần âm, không có gì tốt đẹp. Theo Dương Công, khi luận về Long nhất định phải lấy thai làm chuẩn.
Sau khi Long trải qua thời gian đứt đoạn, quá hiệp, nếu nó lại vượt lên thì ắt có cát tinh hoặc thành thai. Vì nơi bên dưới cái, chỗ Long mạch phục rồi vươn lên, là nơi sở tại của thai; câu "hạc tất nhọn yếu, Long đã thành chính" chỉ nơi này. Khi Long mạch hạ xuống cần có nước mới thành thai. Bên dưới thai, sơn mạch lại vươn lên, đó là tử tức tinh, hoặc một tiết, hoặc vài tiết; Long mạch kết thành huyệt, không hạn chế mấy tiết, song số tiết không nên quá nhiều, vì khí rời thai không thể hòa hoãn.
Tử tức nhập thủ, cần xem bên dưới nơi nhập thủ kết thành huyệt gì. Phép của nó là liền trên bản thể của tử tức tinh, hoặc rời ra thành một tinh thể khác, thế gọi là huyệt trường. Đây cũng là nơi phụ mẫu tương hợp. Phàm Chân Long tiến đi luôn có sự pha tạp. Ví như Long Thổ bước đi gặp Mộc tinh thì làm sát khí; mà sơn phong quý nhân của Mộc tinh đóng dưới Thổ, tuy là sát tinh nhưng lại có quyền tinh. Nếu có nước phía dưới sơn phong quý nhân mà Kim tinh vươn lên thì Kim tinh có thể áp chế sát khí của Mộc, và nước lại khiến sơn quý nhân thêm tốt đẹp. Tinh ấy gọi là giải tinh.
Ấn tinh: mở hai bên để chia bớt cương khí
Long hành tiến cần phải qua giai đoạn lột xác. Dù Long khí thịnh vượng, vẫn khó tránh có phần thái quá mà biến thành cương sát. Ví như Long Thổ giáng xuống sơn thế, Kim tinh làm chủ, toàn thể đều thuộc Kim, không sinh chi cước, toàn thân cứng nhắc, đó chính là thuần dương và biến thành Tuyệt Dương Long. Trường hợp này nên mở rộng hai bên tả hữu để phân tán cương khí của Long mạch; thế gọi là ấn tinh. Long phải trải qua các bước ấy mới kết huyệt được, bằng không nó chỉ lợi cho việc xây chùa miếu mà thôi.
Phàm địa thế một nơi có tôn tinh vươn cao ắt có hai chỗ kết tụ. Chính cách thì thụ huyệt ở nơi cùng tận; còn thụ hình sát ở nơi tận cùng thì nên có giải tinh, ấn tinh hóa giải và kết tụ chân khí.
Năm dáng của Long: thẳng, ngang, quay, bay, ẩn
Có Long lao thẳng tới, có Long tạt ngang, có Long quay đầu nhìn tổ, có Long ngẩng cổ bay lên và có Long nằm ẩn dưới đồng bằng. Mỗi dáng có một cách để giữ chân khí.
Dựa vào thế để nhận biết khí của Chân Long; nhờ vào tình để nhận rõ khí của chân huyệt.
Cổ nhân có câu: "Xem Long ở khí thế, lập huyệt cần xem tính tình". Tổng thể xem Long cần lấy khí thế làm chủ, có năm loại cục diện là trực, hoành, hồi, phi, tiềm. Bài "Nhập Thức Ca" viết:
Trực Long vốn đến từ sau lưng, thoát ra từ sơn mạch, quý ở quay mình chuyển đầu.
Ý câu này là thế Long đến trực diện phần nhiều cương cường, nhưng để có chân khí thì phải uyển chuyển.
Hoành Long vốn hạ xuống từ mặt bên, nghịch chuyển ra sau, khí thế mơ hồ.
Câu này ám chỉ Chân Long đến ngang, khí thế bất chính, cần quay đầu chuyển nghịch mới giữ được chân khí.
Hồi Long uốn chuyển mình nghịch hướng, quay đầu về tổ tông, kéo dài mãi.
Câu này nghĩa là sơn thế của Hồi Long phần lớn co rút, chân khí co cụm, nên cần kéo dài cho chân khí thông suốt.
Phi Long vốn kết tụ ở bên trên, vươn đầu ưỡn ngực rất kỳ lạ.
Câu này nói Phi Long thuộc thế vươn lên, cần có khí thế hiên ngang, thu được nhiều sơn thủy và khắc chế được sơn thủy thì mới là kỳ diệu.
Tiềm Long vốn tản mác ở bình nguyên, Long mạch tự trải dài.
Câu này nói đất Bình Dương quá bằng phẳng, chỉ e mạch không tới, nên mạch cần trải dài, có phân ra thì cũng có hợp vào; như vậy mới có chân khí.
Theo Long mà luận khí thì có năm loại kể trên. Còn về huyệt pháp thì chia làm ba loại là thiên, địa, nhân; bất luận cao hay thấp, chỉ cần thu phục được sơn thủy là có được chân tình. Ví như Phi Long kết thành yêu huyệt, tinh tụ ở bên trên, nên phải kết ở thượng tụ mới được. Còn Hồi Long kết huyệt thì lấy nơi dòng sông nhập khẩu làm chủ, vì đất ở bình dương luôn lấy giới hợp của dòng sông làm Long, vì thế nước quy tụ về đường mới có chân tình. Đó cũng là nguyên nhân vì sao chân khí thu nạp và kết tụ ở dưới, gọi là hạ tụ.
Long gồm đủ năm hành, núi mạch giống Long
Vảy của Long là Kim, sừng và móng vuốt là Hỏa, thân mình là Thủy, gân cốt là Mộc, bụng là Thổ. Con Long thật chứa cả năm hành trong một thể.
Long gồm đủ ngũ hành nên hình thể sơn mạch tựa như Long; Long gồm đủ thần thông biến hóa nên sự thay đổi của núi cũng giống Long. Thể tính của Long thuần dương hoặc âm, nên núi gặp dương thì hóa, gặp âm thì sinh. Tính Long thích nước, nên núi giáp nước là giới, được nước là trú. Long theo gió mà tiến, nên núi nhờ gió là vươn cao, tàng gió là nghỉ ngơi. Long phải có tổ mới nghỉ ngơi được, nên núi cần có cục có quan mới tụ hợp, bằng không thì phân tán. Long gặp vật thì cùng phối hợp, nên núi có phối hợp thì dừng lại, không phối hợp thì đi mãi.
Đoạn này luận về Long. Cần hiểu rõ tính tình của Long thì mới đạt được tinh thần của nó, có được chân huyệt mà huyết mạch ẩn chứa. Đây là yếu quyết khá quan trọng khi nhận biết khí của Long. Phàm trong vũ trụ, các loài các vật tự có ngũ hành, nhưng duy chỉ có Long là gồm đủ ngũ hành trong một thể. Vảy của Long là Kim, sừng và móng vuốt là Hỏa, thân mình là Thủy, gân cốt là Mộc, bụng là Thổ. Nay người ta cho rằng Thiên Cương tinh cũng có đủ ngũ hành, họ lấy sao Thần làm Thiên Cương chính, sao Kháng làm Kim Long chính và cho đó là có đủ ngũ hành.
Long có thể ẩn hiện, lớn nhỏ, thăng giáng; núi tiến đến quý ở chỗ nhấp nhô, sự thay đổi của núi cũng giống như Long. Sao Thần giống như Long, bởi Thần đóng ở đất ngũ dương, mà chân khí của Long lại là thuần dương. Sơn mạch tiến đi là âm, là nơi Long biến hóa; sơn khí kết huyệt gặp nơi bằng phẳng đầy đặn, nơi này chính là dương và cũng là nơi Long nghỉ ngơi, vì tính của núi thuộc dương hơn nữa.
Nếu dùng thời mà luận, khi gặp tam dương chính là tiết Kinh Trập, Long bắt đầu chuyển động; đến tứ dương thì Long bay lên. Sau Hạ chí thì tới ngũ dương, Long ẩn mình dưới đáy vực sâu. Tính Long vốn thích nước nên núi có giới thủy; nếu giới thủy to thì giới hợp lớn, và ngược lại. Khi Long bay lên ắt có gió đi theo; khi Long ẩn mình gió cũng lặng đi; bởi vậy nơi núi dừng lại ắt tàng chứa gió. Long có tổ, như thế trên núi ắt có hang động, trên đất bằng thì có sông hồ là nơi các dòng chảy tụ hội.
Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 2.
