Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Năm tính chất, mười thể cách tốt xấu, yểm trợ và Hóa Công của quẻ Hà Lạc

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc02/10/202613 phút đọc0 lượt đọc
Năm tính chất, mười thể cách tốt xấu, yểm trợ và Hóa Công của quẻ Hà Lạc

Hai người cùng gặp một hào tốt, một người nên bậc công hầu, người kia chỉ làm được chức nhỏ. Cái khác nằm ở những điều kiện đứng sau lưng hào ấy, mười ngả tốt và mười ngả xấu... Đếm được mấy ngả mới là chuyện đáng nói.


Lập quẻ xong mới có xác, chưa có hồn

Quẻ Hà Lạc lập đủ hình thức và nội dung thì mới chỉ như phần xác của con số, chứ chưa có phần hồn, vì nó chưa cho biết gì về mệnh vận con người. Muốn biết phải biết cách giải đoán qua hai mục chính: căn bản để giải đoán một quẻ, và ý nghĩa chung của sáu mươi bốn quẻ cùng ba trăm tám mươi bốn hào.

Điều cần nhớ trước hết là tinh thần Hà Lạc dựa vào Dịch lý, mà Dịch lý là biến động. Biến thông tùy thời, không câu nệ, không thành khuôn mẫu cố định nào. Cho nên phải thừa nhận Hà Lạc mang năm tính chất dưới đây.

Năm tính chất của một lá số Hà Lạc

Tính tương đối: thời, nơi và người đổi thì tác dụng đổi

Nếu thời gian, không gian và nhân cách, nói gọn là thời, nơi và người, đổi khác đi thì tác dụng của Hà Lạc cũng khác đi. Hào năm quẻ Càn rất tốt với người quân tử nhưng rất xấu với kẻ tiểu nhân. Lời xưa nói gọn rằng kẻ tiểu nhân mà được hào tốt thì như bộc phát, rồi cũng gặp họa hại.

Tiểu nhân đắc cát quẻ hào, bạo phát tắc khảm kha họa hại.

Tính tương quan: quẻ nào cũng nằm trên sợi dây nhân quả

Trừ quẻ Tiên Thiên là cái gốc khởi đầu, còn quẻ nào tuy biến vẫn nằm trên sợi dây nhân quả của quá khứ, hiện tại và tương lai, vì quẻ nào cũng do quẻ trước sinh ra và sẽ sinh ra quẻ sau. Không có quẻ nào đứng một mình.

Tính lưỡng cực: mỗi quẻ mỗi hào có hai đáp án

Theo đúng luật Âm Dương, quẻ nào hào nào cũng có hai lời giải đáp: mệnh hợp và mệnh không hợp. Song ngay hai cực ấy cũng chỉ là tương đối. Giữa hai cực còn nhiều trường hợp trung gian khó kể xiết, như nửa tốt nửa xấu, hay hung ít cát nhiều, hay xấu ít tốt nhiều. Hà Lạc không đặt một ranh giới nhất định nào giữa cát và hung, vì số cũng chịu ảnh hưởng của thiên thời, địa lợi và nhân hòa.

Không chỉ ở lượng đo, cát hay hung, mà ở phẩm, Hà Lạc cũng theo đúng nguyên tắc của Dịch lý: trong Dương có căn của Âm, trong Âm có căn của Dương.

Dương trung hữu Âm căn, Âm trung hữu Dương căn.

Vì thế trong phúc có họa, trong họa có phúc; Dương cực thì sinh Âm, Âm cực thì sinh Dương. Đó là nghĩa sâu của những quẻ Bĩ rồi Thái, hay Tổn mà Ích, hoặc ngược lại. Hà Lạc có rất nhiều trường hợp mang hai dạng như vậy.

Tính phân tích: đừng vội kết luận từ một thể cách

Hà Lạc dùng phân tích rồi đi đến tổng hợp, như mười thể cách sẽ trình bày bên dưới. Vì vậy thấy một thể cách tốt đừng vội cho là mệnh tốt, thấy một thể cách xấu đừng vội cho là mệnh xấu. Phải phân tích xem tốt xấu ở những điều gì, thực hay hư, đối với thời đại nào, địa phương nào, nhân phẩm nào; cân nhắc nặng nhẹ, so sánh hơn kém với các thể cách khác. Sau đó tổng hợp các phương diện và luận điểm, như chấm một bài văn ở trường thi, để nhận định giá trị thật và phán đoán cuối cùng.

Tính đạo đức: người có thể cải tạo số mệnh mình

Trong Tam tài gồm Thiên, Địa, Nhân, Hà Lạc coi ba vai trò ấy cùng điều khiển vũ trụ, và để cho Nhân một ảnh hưởng rộng rãi, đủ sức cải tạo được số mệnh mình một cách đáng kể. Nếu biết tự tin như câu thường nói rằng đức năng thắng số, thì đó là phần lý ở cõi nhân sinh, nên mới gọi là lý số.

Đức năng thắng số.

Rất nhiều quẻ hào mang giọng khuyên răn: giữ gìn thì sẽ thế này, tiến lên thì sẽ thế kia; biết tu đức thì ra sao, bạo động thì ra sao. Đó là Hà Lạc trọng tự do ý chí của con người, và hơn nữa của cả một tập thể người trong xã hội. Hà Lạc không cột chặt con người vào ngôi vàng phú quý hay chiếc đệm rách bần tiện, tức không xiềng xích con người vào một cái khung định mệnh cứng nhắc. Nó cũng không đụng chạm đến lý tưởng của con người, để cho lý tưởng ấy tha hồ tung cánh vươn lên đến địa vị ngồi cạnh trời đất, tự ý thức, tự tạo, tự lãnh lấy trách nhiệm điều hành vũ trụ. Cổ nhân cũng có lý tưởng ấy nên mới ca ngợi tài đức vua Văn Vương là có thể lên ngồi bên cạnh Thượng đế mà cùng cai quản muôn loài.

Mười thể cách tốt của một mệnh hay

Giữa hàng trăm điều kiện, có đúng mười ngả để mệnh trượt về phía may mắn. Đếm được bao nhiêu ngả, chức vị đời người khác đi bấy nhiêu.

  1. Tên quẻ tốt (quái danh cát).
  2. Hào vị tốt (hào vị cát).
  3. Lời hào tốt (từ cát).
  4. Được mùa sinh (đắc thời): ví dụ sinh tháng chín được quẻ Bác, sinh tháng mười một được quẻ Phục.
  5. Có yểm trợ (hữu viện): Nguyên Đường lấy làm Thế ngồi hào Âm mà hào Ứng là Dương, hoặc ngược lại Nguyên Đường ngồi hào Dương mà Ứng là hào Âm.
  6. Số thuận mùa sinh (số thuận thời): hai số Âm và Dương, hoặc Âm ít Dương nhiều, hoặc Âm nhiều Dương ít, nhưng đều thích hợp với mùa sinh.
  7. Được thể (đắc thể): ví dụ người mạng Kim được quẻ Càn, vì Thổ sinh Kim. Có năm loại mạng theo can chi ngũ hành, gặp đúng quẻ thì đoán là được thể.
  8. Đáng vị: người sinh tháng Âm mà Nguyên Đường ngồi hào Âm, hoặc sinh tháng Dương mà Nguyên Đường ngồi hào Dương.
  9. Hợp lý: ví dụ người tuổi Canh được quẻ Chấn vào mùa xuân hạ. Nếu người mạng Kim không có được Đoài Kim thì cũng nên được Khôn hoặc Cấn, vì Thổ sinh Kim.
  10. Chúng đều theo (chúng tông): quẻ có một hào Dương năm hào Âm mà Nguyên Đường ngồi hào Dương.

Trong mười thể cách ấy, người được ba hoặc bốn cách thì làm nên chức Tuyên tào; được năm hoặc sáu cách thì làm nên chức Tri đạo; được bảy hoặc tám cách thì làm nên chức Khanh giám, thị tòng; được chín hoặc mười cách thì làm nên chức Tướng, Công hầu. Nếu mười thể cách ấy lại có cả Hóa Công, Thiên Nguyên Khí và Địa Nguyên Khí thì hẳn được phú quý, thọ đến tột bậc và hưởng trọn ngũ phúc, mà vẫn là bậc sĩ có đạo đức.

Mười thể cách xấu, mặt trái của cùng một tấm gương

Trái với mười thể cách tốt trên là mười thể cách không tốt của mệnh dở:

  1. Tên quẻ xấu (quái danh hung).
  2. Hào vị xấu (hào vị hung).
  3. Lời hào xấu (từ hung).
  4. Không được mùa sinh (bất đắc thời).
  5. Không có yểm trợ (vô viện).
  6. Số nghịch mùa sinh (số nghịch thời).
  7. Không được thể (bất đắc thể).
  8. Không đáng vị (vi bất đáng).
  9. Trái lý (vi lý).
  10. Chúng đều ghét (chúng tật): quẻ có một hào Âm năm hào Dương mà Nguyên Đường ngồi hào Âm.

Người phạm ba hoặc bốn cách thì làm tăng đạo, cửu lưu, bách công, kỹ nghệ. Phạm năm hoặc sáu cách thì cô độc. Phạm bảy hoặc tám cách thì ăn xin, hay bị chém giết. Phạm cả mười cách ấy thì không chết non cũng nghèo hèn.

Cần đo lường nặng nhẹ để định xấu tốt. Có người vừa nghịch thời, phạm kỵ mà hung nhiều, thì thuộc hạng ăn xin hoặc bị chém giết; hung nhiều cát ít thì là mệnh cửu lưu, tăng đạo. Nếu lại được Hóa Công và Thiên Địa Nguyên Khí đầy đủ thì tuy gian nan nhưng rồi cũng hưởng phúc lành, giữa cảnh tân khổ vẫn tạm an vui; nếu chẳng có gì cả thì rất xấu.

Gộp tốt xấu vào một mục, và thang đo hào vị

Khi muốn gộp các cách tốt xấu vào một mục để xét nhanh, trừ ba thể cách, còn lại coi các điều sau: tên quẻ tốt hay xấu; lời hào tốt hay xấu; được mùa sinh hay không được mùa sinh; hào vị tốt hay xấu.

Yểm trợ: ai đỡ lưng cho ai

Về yểm trợ, lời xưa chỉ ghi một câu: Nguyên Đường ngồi vị Âm, hào Ứng ở vị Dương thì có yểm trợ. Suy rộng ra thì như sau. Xem Hà Lạc thì lấy Nguyên Đường làm chủ quẻ, coi hào Nguyên Đường như hào Thế, rồi xét xem hào Ứng có yểm trợ được hay không. Hào Thế, tức Nguyên Đường, là Dương mà hào Ứng là Âm, hoặc Thế Âm mà Ứng Dương, thì Nguyên Đường được yểm trợ. Trái lại nếu Thế và Ứng cùng loại, cùng Âm hay cùng Dương, thì không có tình duyên gì để quyến luyến hay đỡ đần nhau, có khi còn kỵ nhau nữa.

Ví dụ quẻ Bĩ có Nguyên Đường ở hào năm Dương, được hào hai Âm làm Ứng yểm trợ nên tốt. Còn quẻ Sư có Nguyên Đường ở hào một Âm, không được hào bốn Âm yểm trợ nên yếu. Các quẻ khác cũng suy như thế. Cần nhớ rằng Thế và Ứng trong quẻ Hà Lạc là Thế Ứng giả tá, tùy theo Nguyên Đường mà tính, không cố định như Thế Ứng của quẻ Dịch. Quẻ Hà Lạc có sáu hào đều có thể là Thế hay Ứng tùy Nguyên Đường, bất luận tên quẻ là gì; còn mỗi quẻ Dịch chỉ có một Thế một Ứng bất di bất dịch.

Hào yểm trợ mạnh hay yếu cũng phải xét

Có yểm trợ rồi, phải xét xem tư thế của hào yểm trợ ấy mạnh hay yếu, tốt hay xấu, và giúp mình làm điều lành hay điều quấy. Đại khái:

  • Hào một mà được hào bốn yểm trợ thì khả quan, vì hào bốn đã ở cấp trên.
  • Hào hai mà được hào năm yểm trợ thì rất lạc quan, vì hào năm ở ngôi chí tôn, đủ quyền thế để giúp, trừ phi vì lý do nào đó mà không muốn.
  • Hào ba dù được hào sáu yểm trợ thì sự giúp đỡ cũng lè phè, vì hào sáu phần nhiều đã về vườn. Hào ba bản thân đã bất chính, phần nhiều không đáng vị, nên có yểm trợ cũng ít khi làm nên chuyện tốt đẹp.
  • Hào bốn mà được hào một yểm trợ thì cũng như có chân tay đáng tin cậy.
  • Hào năm mà được hào hai yểm trợ cũng là có chân tay đáng tin cậy, vì hào hai luôn trung tín, nếu lại chính nữa thì hoàn toàn lương thiện.
  • Hào sáu mà được hào ba yểm trợ thì nên coi thường, vì hào ba thường bị liệt vào vị bất đáng, tức như thành tích bất hảo, mà hào sáu thường chỉ cầu an, chẳng có gì tích cực để cần yểm trợ.

Không được yểm trợ thì hào Nguyên Đường kém đi, khác nào kẻ hô mà không có người ứng: trên dưới, trong ngoài không nhất trí nên việc làm kém chu đáo, kết quả kém hoàn toàn. Xấu hơn nữa thì được trước hỏng sau, dựng bên này đổ bên kia, như lá số Tử Vi thiếu Tả Phù Hữu Bật. Hào đại vận nào cũng coi như hào Thế của đại vận đó để xem hào Ứng có yểm trợ hào Thế hay không, thì mới biết xấu tốt ra sao. Hà Lạc rất kỹ về mặt tính điểm: hơn một điểm là tốt một điểm, kém một điểm là xấu đi một điểm, không nên bỏ sót điểm nào.

Hóa Công và Thiên Địa Nguyên Khí tác động lên sáu hào

Hào ngồi đẹp chưa chắc đời đã đẹp. Có ba thứ nâng đỡ ngầm bên dưới: hai số Âm Dương, Hóa Công và hai Nguyên Khí của trời đất.

Trong các yếu tố tác động mạnh nhất đến sáu hào phải kể hai số Âm Dương, Hóa Công và Thiên Địa Nguyên Khí. Sự tác động ấy sinh ra những trường hợp sau.

  1. Nguyên Đường ngồi hào năm hoặc hào hai, lại nghĩa quẻ hay, là cách quý. Nhưng nếu hai số Âm Dương không đủ theo quy định từng mùa, và Hóa Công, Nguyên Khí đều thiếu cả thì tức là không gặp thời (bất đắc thời). Hẳn lúc đầu gian truân, sau mới hanh thông. Mệnh nữ hay tăng ni thì tốt.
  2. Nguyên Đường ngồi hào nào thì cho biết tính tình của người ấy: hào năm đẹp nhất, rồi đến hào hai, hào ba, hào bốn, sau cùng là hào sơ và hào thượng.
  3. Nguyên Đường ngồi hào năm tức ngôi chí tôn, nhưng nếu thiếu cả Nguyên Khí, Hóa Công và bất đắc thời thì cũng chẳng tốt gì. Đó là mệnh của người chịu gian nan cực khổ rồi mới được thụ dụng.
  4. Được hai số Âm Dương đầy đủ lại có Thiên Địa Nguyên Khí, được mùa sinh, nghĩa quẻ hay, nhưng chỉ riêng hào vị Nguyên Đường không tốt, thì trước phú quý sau nghèo khó.
  5. Hai số Âm Dương đầy đủ, có Nguyên Khí, dù không đắc thời lại quẻ không tốt, nhưng được Nguyên Đường ngồi hào vị tốt, thì cũng là số phong lưu phú túc.
  6. Hai số Âm Dương đầy đủ nhưng thiếu Nguyên Khí và cũng không đắc thời, quẻ không tốt, chỉ nhờ được hào vị Nguyên Đường tốt, thì trước nghèo khó sau phú quý.
  7. Không có gì cả: hai số Âm Dương không đủ, không có Nguyên Khí lại không đắc thời, quẻ không tốt nữa, độc có hào vị Nguyên Đường tốt, thì là mệnh người đứng trơ trọi giữa cảnh gian nan.

Những trường hợp trên nói về Mệnh. Nếu đại vận ngồi vào hào nào cũng giống như thế thì cũng chịu ảnh hưởng tốt xấu như thế, nhưng chỉ trong phạm vi của một đại vận, chín năm với hào Dương, sáu năm với hào Âm. Lưu niên Thái Tuế cũng theo cùng quy luật nhưng ảnh hưởng tốt xấu không sâu đậm bằng đại vận. Ảnh hưởng lớn nhất là Nguyên Đường vì là Mệnh chủ, rồi đến đại vận, rồi đến lưu niên. Cả ba đều tốt thì rất tốt, cả ba đều xấu thì rất xấu.

Nguồn: Giáo trình Bát Tự Hà Lạc.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc