Bài tổng quan
Núi giữ cửa nước: Cản Môn, Hoa Biểu, Bắc Thần, La Tinh
Có ngọn đá nhô cao giữa dòng sông khiến người ta hồn siêu phách lạc, và người xưa dặn nhìn thấy thì nói ít, nhìn ít, cẩn thận e sợ. Nó chỉ là một trong những loại núi giữ cửa nước, cùng với cản môn, hoa biểu và la tinh. Bốn loại núi ấy khác nhau ở đâu?
Mục lục · 6 phần
- 01Hạ thủ sa: tay áo níu lấy dòng nước
- 02Thủy khẩu sa: hai bên cửa nước phải dày, phải khóa
- 03Cản môn: ba cách của hai người gác cửa
- 04Hoa biểu: ngọn kỳ phong đứng giữa cửa nước
- 05Bắc thần tinh: mỏm đá giữa dòng khiến người ta hồn siêu phách lạc
- 06La tinh: gò chốt giữa dòng, có đầu ngược nước, có đuôi chìm
Hai bờ sông có núi nằm kề dòng nước thì gọi là hạ thủ sa, và người xưa xem nó là chỗ quan trọng nhất trong cả bức tranh sơn thủy. Đi xuống cửa nước, hai quả núi đứng đối mặt như thị vệ gọi là cản môn; ngọn núi nhô giữa cửa là hoa biểu; mỏm đá cao vút giữa dòng là bắc thần; cái gò chốt giữa dòng là la tinh. Mỗi thứ có một nhiệm vụ riêng, nhưng cùng chung một việc là giữ cho nước không chảy thẳng đi.
Hạ thủ sa: tay áo níu lấy dòng nước
Khỏi cần hỏi hướng đông, tây, nam, bắc; chỉ cần có núi nằm cạnh dòng nước thì gọi là hạ thủ sa, hay hạ tí sa, tức sa tay dưới, sa cánh tay dưới. Hạ thủ sa là chỗ tối quan trọng. Nếu có hạ quan thì có nơi để tinh khí kết tụ; không có hạ quan thì chẳng có chỗ cho tinh khí kết tụ. Vì hạ thủ, tức hạ quan, quan trọng như thế nên nó cần trùng trùng điệp điệp, dàn thành lớp liên tiếp, dày đặc thì huyệt mới cát lợi. Nếu hạ thủ sa quá mỏng manh, thông thoáng thì khỏi cần tìm huyệt địa làm gì.
Quyết viết: có huyệt địa mà không phải huyệt địa. Trước hết hãy xem hạ thủ sơn. Khỏi cần xem hậu long có đến hay không, hãy trước hết xem hạ thủ sơn có trở lại hay không. Khỏi cần xem địa huyệt kết chắc hay không, trước hết hãy xem hạ thủ có dày đặc hay không.
Dương công nói chỉ có hạ thủ sa mới có thể cứu người, con cháu đời đời sẽ không nghèo khổ. Liêu công nói xem đất thế nào thì biết phú quý? Hãy xem hạ thủ sa. Đất thế nào là nghèo khốn? Hạ thủ sa không dày đặc, không níu giữ được, dòng nước chảy đi mất. Hà Trí Kinh nói làm sao biết người đã giàu càng giàu thêm? Vì hạ thủ sa trùng trùng kéo đến che chở, bảo hộ. Làm sao biết người đã nghèo càng nghèo thêm? Vì hạ quan thoáng rộng phóng túng, cũng chẳng hướng đầu về phía mồ mả.
Về Long sơn và Hổ sơn thu nạp nước, người xưa nêu hai thế cát: Hổ sơn thu nạp dòng nhỏ, Long sơn thu nạp dòng lớn thì là đất cát lợi hợp quy cách hơn cả; hoặc ngược lại, Long sơn thu nạp dòng nhỏ trước, Hổ sơn thu nạp dòng lớn thì cũng vậy. Hai thế đối nghịch gọi là Thanh Long nghịch và Bạch Hổ nghịch, cùng hai dạng tả thạch quan và hữu thạch quan.
Thủy khẩu sa: hai bên cửa nước phải dày, phải khóa
Thủy khẩu sa là núi ở hai bên bờ chỗ dòng nước chuyển dịch. Nhất định không để cho nước chảy thẳng qua chỗ trống khuyết. Sơn thế phải trùng điệp, giao kết chặt chẽ, vách núi dựng đứng như thành vại, núi phải cao, to, dày, trông như ấn tín, thẻ ngà, chim chóc, rùa rắn, cá vàng, sư tử, voi, như cờ trống bày binh bố trận, doanh trại tầng tầng lớp lớp, binh tướng hộ vệ san sát. Thủy khẩu sa như vậy mới là tuyệt đẹp.
Sách "Sa Pháp" nói trước hết xem thủy khẩu có được kẹp sát hay không; nếu nội cục thoáng rộng thì phải hướng vào trong, tìm chỗ ngay ngắn; núi hai bên trải ra liên tiếp, dày đặc, không một chỗ khuyết. Sách "Nhập Thức Ca" nói núi hai bên thủy khẩu phải như mãnh hổ phục chầu, thế núi không để dòng nước chảy ngang qua, như vậy đáng gọi là núi thần. Sách "Long Kinh" nói cửa khẩu như có hàng chục loại khóa thì bên trong ắt có vương hầu trú ngụ. Đào công nói thủy khẩu không có chốt giữ thì đừng nói chi đến phú quý; hai bên được chốt giữ cẩn mật thì đời đời có công hầu khanh tướng.
Liêu công nói nếu dòng nước quay lại xung phá cung La Thành thì đời sau nhất định bại vong; nếu hai bên thủy khẩu được che chắn thì nhân sĩ thăng quan tiến chức. Dương công nói cản môn với thủy khẩu, núi nhọn với núi tròn, tinh tú phương bắc trấn giữ cục diện, bên ngoài cổng thành không thấy dòng nước chảy tới thì phú quý được giữ lại muôn đời.
Cản môn: ba cách của hai người gác cửa
Cản môn sơn là hai quả núi đứng đối mặt ở hai bên thủy khẩu, như thị vệ bảo hộ. Có ba cách cản môn. Cách thứ nhất giống như cờ xí, trống trận, văn võ thị vệ, nhật nguyệt, quý nhân, thiên mã, la tinh, bắc thần, quy xà và những hình tương tự mới là cách tôn quý. Nếu có được cách này sẽ xuất hiện công khanh, quận chúa, hoàng phi, thần tiên, trạng nguyên. Sách "Minh" nói bên ngoài cản môn lại có la tinh thì có thể xuất hiện quý nhân như công hầu. Bài "Sơn Thủy Đoạn Phú" nói cản môn giống lớp lớp võ quan bảo vệ cổng thành.
Đệ nhất cách là khi nhìn từ mặt trước huyệt, cản môn đứng chỉnh tề hai bên tả hữu như vệ sĩ canh cửa, ở xa hơn nữa lại có các sơn phong tú mỹ hướng tới bái kiến. Đệ nhị cách là nước sông cuồn cuộn chảy tới triều nghênh, nước tiến vào giữa hai bên cản môn sơn, tràn trề mênh mang, lúc đến không rõ đầu nguồn, lúc đi không biết về hướng nào. Cách còn lại thuộc kiểu nhật nguyệt, quy xà, kỳ cổ sa, cản môn cũng rất tôn quý. Thủy khẩu khép lại, bồi đắp môn hộ, dòng nước từ đầy rút dần; đây cũng là cách rất đẹp và tôn quý.
Hoa biểu: ngọn kỳ phong đứng giữa cửa nước
Giữa hai cánh cửa núi, nếu bỗng có một ngọn lạ trổ lên giữa dòng, ấy là chỗ người xưa gọi bằng cái tên của cột đá đầu cổng thành.
Hoa biểu sơn là ở giữa thủy khẩu có một ngọn kỳ phong sừng sững nổi lên, hoặc là một trong hai quả núi đứng đối diện nhau, nước từ khoảng giữa chảy ra. Hoa biểu phải nhô cao lên trời xanh, uy nghiêm trấn giữ thủy khẩu thì mới gọi là hoa biểu. Trong thủy khẩu có một ngọn sơn phong kỳ dị như vậy thì bên trong nhất định có huyệt địa đại phú đại quý.
Phú viết: hoa biểu cận vệ cổng thành, trụ tại thủy khẩu như lâu đài, gác chuông, la thành bày ra; nếu không dựng quận huyện, đô thành thì nhất định xuất hiện đại quan kề cận bên hoàng đế.
Bắc thần tinh: mỏm đá giữa dòng khiến người ta hồn siêu phách lạc
Bắc thần là tinh thần của thủy khẩu, nên mới lấy tên này. Đó là vách núi, núi đá dựng đứng giữa thủy khẩu, nhô cao vài chục thước, hình dạng rất kỳ dị. Lớn thì gọi là bắc thần, nhỏ thì gọi là la tinh; nhô ra giữa dòng sông mà chầu vào trong thì được. Loại tinh thần này vô cùng tôn quý, hiếm hoi, ngàn trường hợp mới gặp được một lần, vì nó chủ về đại huyệt địa của vương hầu. Hình dáng của nó tựa tướng quân, phán quan, tiểu quỷ, rồng nằm, phượng bay, chim ưng, hổ dữ, cờ giương, đao thương, bài phủ, giá bút, nhô lên sừng sững giữa thủy khẩu; có khi cao hàng ngàn thước, ngẩng nhìn lên thấy kinh dị, đứng cạnh nó thì hồn siêu phách lạc.
Dương công nói một bắc thần tinh giống như thống lĩnh vài vạn binh sĩ, có nhiều quý danh hơn cả phò mã, công hầu. Bắc thần tinh nhô lên cao vút tới mây trời thì nhất định sinh ra anh hùng hào kiệt, tranh thiên đoạt quốc; loại này tối tôn quý, như một đại tướng oai nghiêm. Bắc thần tinh thấp nhỏ thì cũng có thể sản sinh người làm quan trong triều. Hội Tiên nói các nhà phong thủy bàn về núi, coi bắc thần tinh là quan trọng nhất; thấy nó đứng cao lớn sừng sững giữa thủy khẩu là biết ngay huyệt địa đại quý, nhất định sản sinh bậc anh hùng thiên hạ có sức mạnh phi thường.
Ngô công nói thủy khẩu có quái thạch mọc lên ở giữa thì trước hết phải xem quái thạch ấy lớn hay nhỏ, cao hay thấp mà luận nặng nhẹ. Nếu bắc thần tinh cao lớn thì lấy làm bắc thần vị, nhất định sản sinh anh hùng hào kiệt. Núi đá nhô cao hơn trăm trượng là hạng lớn nhất. Thủy khẩu nếu có bắc thần trấn trụ, mỏm đá cao to nhô vọt lên hùng mạnh khiến lòng người khiếp đảm thì nhất định sản sinh bậc đế vương cùng nhiều quý nhân coi việc quốc gia đại sự. Nếu chỗ thủy khẩu có núi đá chọc thẳng lên mây xanh, vách dựng đứng, nhìn quần sơn xung quanh thì nơi ấy nhất định sản sinh văn võ quan quý đời đời kế tục làm quan trong triều, anh hùng hào kiệt khiến người người ngưỡng mộ. Thủy khẩu có tảng đá tròn, to nổi lên thì gọi là thạch ấn; địa thế lõm xuống cũng sẽ hưng thịnh. Núi lớn thô tráng, cao sừng sững thì nhất định sinh bậc nam nhi thống lĩnh trăm ngàn binh sĩ.
Tại sao Dương Quân Tùng tiên sinh lại cấm người ta bàn đến bắc thần tinh? Vì bắc thần tinh là loại sao tối tôn quý, đàm luận về nó e sẽ tiết lộ thiên cơ, hại cho chính người tiết lộ. Long thần trên đại địa cũng vậy, không cho kẻ phàm tục nói năng lung tung. Người xưa khuyên rằng nếu gặp bắc thần tinh thì nói ít, nhìn ít, cẩn thận e sợ mới là người thông minh.
La tinh: gò chốt giữa dòng, có đầu ngược nước, có đuôi chìm
La tinh là cái gò nổi lên giữa thủy khẩu để chốt chặn, có thể là đá hoặc đất, bề mặt tương đối bằng phẳng, ở giữa nhô cao, nước chảy quanh bốn phía. Gò đá thì hay nhất, gò đất kém hơn. Nếu huyệt vị ở bên ngoài La Thành thì tôn quý; nếu ở bên trong La Thành thì gọi là sơn bảo dưỡng đọa thai, tức sơn làm sảy thai.
Sách "Kinh" nói la tinh phải ở ngoại vi La Thành mới tốt; ở bên trong La Thành thì gọi là bảo dưỡng thai, hoặc hoạn nhân đọa thai sơn. Nếu la tinh nằm ngay chính thủy khẩu thì giống như măng mọc. Thủy khẩu mọc nhiều quái thạch thì nhất định có la tinh chắn thủy khẩu. Đó là nhìn phía trên, còn phải xét kỹ phía dưới. La tinh vốn cũng có thật có giả; thật hay giả, sức người khó biết. Nếu là la tinh thật thì nó có đầu, có đuôi: đầu ngước về phía thượng lưu, đuôi chìm trong nước. Khẩu quyết của la tinh như sau: một bên là nước, một bên là đất, trong đất có xương, xương mạch liền nhau; khi là khối đá, khi là đất cứng.
Tham Lang, Cự Môn và la tinh đều nhọn. Tả Phù, Hữu Bật và Vũ Khúc có khi tròn, có khi nghiêng vát. Lộc Tồn và Liêm Trinh thì núi đá nham nhở. Sơn Phá Quân nếu nham nhở là xấu nhất. Chỉ có la tinh tròn trặn hoặc nghiêng vát mới tốt. La tinh mà bốn bề đều là nước, hai ngọn núi liên kết quay vòng lại thì đại phú đại quý, hơn cả vạn ngọn núi.
Sách "Kinh" lại nói: khỏi cần bảo Liêm Trinh không có ích; nếu Liêm Trinh cao lớn thì có thể làm khanh tướng, công hầu. Sơn Lộc Tồn có thể phát tài giàu có. Sơn Phá Quân không tán tài cũng chỉ vì có ngăn trở. Núi ngăn trở thủy khẩu thì nhất định có la tinh ở giữa thủy khẩu. Giữa dòng Hoàng Hà có đá ngầm, thủy khẩu của Tứ Xuyên cũng có gò đất chồng chất; Trường Giang có núi lớn, núi nhỏ làm đập chắn phía trước. Hoàng Hà chảy đến vùng Kiệt Thạch là đã tới biển, và ở ngoài biên có mấy ngọn núi tạo thành viên cục. Còn có loại tập sơn và lợi thạch tuy đều là la tinh nhưng rất khác nhau; người phàm không dễ hiểu cách xác định la tinh. Người xưa phân chặn dòng nước thành bốn dạng: lan sa, lan thủy, vô lan và sơn lan.
Thủy khẩu và núi ngăn trở đều thuộc Phá Quân và Lộc Tồn; chúng không có tay chân nhưng lại giao kết với nhau. Núi chặn thủy khẩu có khi giống hổ phục, có khi giống trái dưa, quả bầu. Châu nào, huyện nào cũng có núi ngăn trở. Xưa vua Đại Vũ khai Long Môn cho dòng sông lớn chảy qua, bấy giờ đã có những nơi chặn thủy khẩu. Như núi Thái Hành chạy tới từ phủ Hà Trung, Hà Nam và Hà Bắc là hai chỗ ngăn trở. Dòng sông lớn từ phương bắc chảy xuống, ngoằn ngoèo ra phía đông, Tây Sơn nằm chắn giữa dòng nước như một con rồng ngủ. Mã Nhi sơn nhô đầu ở cửa sông, chỗ ấy có lập miếu thờ thần. Linh Bích sơn ngăn chặn dòng chảy của sông Hoài, không có tay chân mà vắt ngang dòng sông. Hải Môn sơn trấn giữ Chiết Giang, hai ngọn núi liền kề như chuỗi ngọc.
Càng có nhiều cửa ải trấn giữ thì nhất định có la tinh ở thủy khẩu ngăn chặn long khí, không cho dòng sông tự do trôi đi. Có hàng chục cửa ải chặn trong khoảng vài chục dặm thì nhất định trong phạm vi ấy xuất hiện quý nhân, vương hầu. Tiểu la tinh ở làng quê nhô đầu chắn dòng nước, trông tựa chiếc mộc, đá trồi lên mà không thấy tay chân, đó là la tinh; lớn hay nhỏ sẽ quyết định nơi ấy sinh ra tướng lĩnh hay người phò tá. Biết phân biệt núi ở thủy khẩu thì sẽ biết sơn Lộc Tồn và sơn Phá Quân.
Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 1.
