Bài tổng quan
Tiết hậu của long, sa phong và phép huyệt ăn nước
Chỗ nhô lên gọi là tiết, chỗ chúi xuống gọi là hậu, và mỗi tiết ứng với một đời người. Núi dày dặn thì người béo tốt, núi cằn cỗi thì người gầy đói. Long sơn Hổ sơn như hai cánh tay đưa đồ ăn lên miệng, vậy dòng nước phải chảy theo chiều nào thì huyệt mới được ăn?
Mục lục · 9 phần
- 01Đếm tiết hậu của long để biết thuần hay tạp
- 02Huyệt kín đầu và huyệt dựa dẫm
- 03Sa phong: triều, tống và tên gọi các dáng núi
- 04Khi long không cát, hình núi đẹp cũng hóa hung
- 05Sơn dày người béo, sơn cằn người gầy
- 06Sa là chỗ thấy trong huyệt, Long sơn Hổ sơn là hai vai hai tay
- 07Huyệt ăn nước: Long Hổ phải nghịch chiều dòng chảy
- 08Thế nào mới gọi là đắc thủy
- 09Long Hổ như hai cánh tay giang ra
Đếm tiết hậu của long để biết thuần hay tạp
Muốn đoán định huyệt, trước hết phải tra cứu núi tổ tông: thạch cốt của nó thế nào, tinh tú đi theo độ nào, tinh tú nào làm tổ sơn rồi giáng thế, long vào huyệt ra sao, có mấy tiết hậu, khoảng giữa là thuần sắc hay tạp sắc.
Chỗ nhô lên gọi là tiết, chỗ chúi xuống gọi là hậu. Trong một tiết một hậu có thể thấy được sự thuần hay tạp của long. Một tiết ở sau huyệt ứng với người đã mất, một tiết ở trước huyệt ứng với con cháu. Mỗi tiết là một đời; thuần thì là phúc, tạp thì là họa.
Mạch núi chạy trong phạm vi mười dặm, hoặc vài trăm bước, dù chỉ lộ chút dấu vết cũng giúp ta nắm được. Quá mười dặm hay quá ngàn bước thì phải dò sự khớp nhau của các tiết hậu rồi mới đến được chỗ cơ yếu. Khi ấy muốn cát lợi thì được cát lợi, muốn hung hiểm thì thành hung hiểm, cát hung tốt xấu cùng đi bên nhau.
Huyệt kín đầu và huyệt dựa dẫm
Huyệt đặt giữa hay đặt bên cạnh quyết định phát sớm hay phát muộn, bền hay không bền.
Khí bên trong của long ngừng sinh thì báo long đã dừng. Khí bên ngoài còn lưu động thì báo sự suy giảm. Huyệt ở giữa là chính thụ, gọi là cái niêm huyệt, tức huyệt kín đầu, chủ phát muộn nhưng lâu dài. Huyệt ở hai bên tả hữu là bàng thụ, gọi là y chương huyệt, tức huyệt dựa dẫm, chủ phát sớm nhưng không lâu dài.
Nếu bên tả là chính long thì chân khí tụ ở huyệt bên hữu, lấy khí bên tả rót sang bên hữu để phát, đó là chính long. Nếu chân khí tụ ở huyệt bên tả thì lấy khí bên hữu rót sang bên tả. Huyệt tả hữu thụ khí không nên thành cặp; nếu có chỗ phù hợp thì nhất định có bên thắng bên thua. Việc long tiến thẳng hay rẽ ngoặt đều phải tùy theo chỗ thụ khí rồi mới phát, vì chỗ thụ khí của long huyệt khác nhau: có huyệt ở trên tai, có huyệt ở dưới eo.
Long huyệt là thể, sa nước là dụng. Hai khí âm dương là thể, ngũ hành là dụng. Hai mươi bốn long là thể, một trăm hai mươi phân kim là dụng. Long, huyệt, sa, nước đều là thể, còn năm, tháng, ngày, giờ đều là dụng. Thể và dụng cùng một nguồn nên có thể thừa hưởng sinh khí.
Sa phong: triều, tống và tên gọi các dáng núi
Núi tiền nghênh hậu tống của long, la thành thủy khẩu có quan quỷ, cầm diệu quan tiệt trấn giữ, núi bày la liệt như môn đường, tất cả đều là sa phong. Minh sơn bảo giám viết: núi thuộc hai mươi bốn phương vị, từ phía trước đến gọi là triều, từ phía sau đến gọi là tống. Nơi long thành tạo huyệt, phải dùng triều tống để bổ khuyết cho nhau, đó là bảo địa thượng đẳng.
Núi hình đoan chính phúc hậu mà xâm lên trời cao, nếu đến từ phía sau thì gọi là bảo điện, hô ứng từ phía trước thì gọi là long lâu. Núi thon nhọn tú mỹ gọi là bút, tròn nhẵn tú mỹ gọi là tiễn, vuông vắn tú mỹ gọi là hốt. Núi có chân chạy gọi là kỳ, cao nghênh gọi là mã, liên tiếp nhau gọi là la, trùng trùng điệp điệp gọi là đội binh. Vuông vắn xinh nhỏ gọi là kim tương, tròn nhẵn xinh nhỏ gọi là ngọc ấn, nhọn sắc gọi là nha đao, ngang thẳng gọi là nha trượng.
Bảo địa của thần tiên thì núi hình như tầng mây chồng chất. Bảo địa của thừa tướng thì núi hình như khuê bích. Bảo địa phú quý thì núi như kho đụn. Nơi thị tứ thì núi giống đàn kiến tụ tập. Những sa phong kể trên đều là chỗ tốt của công hầu phú quý.
Khi long không cát, hình núi đẹp cũng hóa hung
Nếu bản thân long mạch không cát lợi thì những hình núi kỳ diệu kia ngược lại thành hung ác, tự nhiên quay lưng bỏ đi. Núi hình cờ thì là cờ gãy. Núi hình ấn thì là ấn giả. Nha đao hóa sát đao. Nha trượng hóa gậy của kẻ côn đồ đạo tặc. Đỉnh núi tròn nhẵn thì như nhà ngục, khiến người khó sinh đẻ. Núi dáng gầy yếu chủ lao thương. Núi dáng mập tròn chủ bệnh hư thũng. Núi tựa ngựa ngã ngựa quỵ chủ điên loạn, sét đánh thương tổn. Núi như rắn chuột ẩn náu chủ cường đạo gian tà. Núi hình nón che và viện thuốc chủ tổn thương vì thuốc độc. Núi hình thịt ngỗng gà trâu bò chủ chết chém ở pháp trường. Đá tròn không đều chủ sinh mụn nhọt. Cây cối bò lan chủ bệnh nặng. Núi dáng cô độc trơ trọi chủ rụng răng.
Núi hình người mà vùng mắt có sa xấu thì tổn thương mắt. Ở vùng cổ thì thương ở cổ, trước ngực thì mắc bệnh lao, ở ngực thì lưng gù, ở lưng thì thân hình cong vẹo, ở cánh tay thì chủ gãy tay, ở chân thì mệt mỏi không dứt. Những hình sa này đều rất hung hiểm, gây họa cho cả dòng họ.
Hình sa cát hung như vậy, hơn ba nghìn thành thị nổi tiếng đều không trái với lý luận ấy, hầu hết đều đủ cơ ứng biến. Đất bằng thì nước chảy chậm, đất đồi núi thì nước chảy xiết, đó đều là hình thế tự nhiên. Như tinh thần có thanh có trọc, hình thế có đẹp có xấu, có cát có hung, có nghèo có giàu, có quý có tiện, đều do hình thế. Cho nên người phương đông nhân nghĩa, phương nam trí tuệ, phương tây nghĩa khí, phương bắc hào kiệt, miền trung thành tín, mỗi nơi một khác.
Sơn dày người béo, sơn cằn người gầy
Mệnh là thiên mệnh. Nơi dựng mộ là gốc nền dài lâu, nơi dương trạch là chỗ nuôi dưỡng. Nếu khí mạch của núi nước đi ngược, long thần không hướng vào, tình trời không chiếu tới thì tự nhiên không cát lợi.
Sơn dày dặn người cũng béo tốt, sơn cằn cỗi người cũng gầy đói, sơn thanh bạch người cũng bần khổ, sơn bị phá người cũng bại hoại, sơn thế tới người cũng hội tụ, sơn thế đi xa người cũng ly tán.
Sơn thế dài người cũng dũng cảm, sơn thế ủy nhược người cũng thấp lùn, sơn thế sáng láng người cũng thông minh, sơn thế hôn ám người cũng mê loạn, sơn thế thuận thông người cũng trường thọ, sơn thế nghịch đảo người cũng phản trắc.
Đó là lời của Tầm long toàn thư. Hình núi và nước là hai thứ đi theo nhau, gốc của cát hung họa phúc là như vậy.
Đổng công nói rằng núi sa phong phú quý mà bản thân long mạch không cát thì trái lại thành nơi hung ác và phản bội, đó cũng là ý của câu sa phong như mỹ nữ, sang hèn tùy người chồng. Nhưng người xưa còn nói: hình thế của núi bất kể cát hay hung, nếu sa phong đoan chính thì cũng khiến cái hung ác trở lại phú quý; nhưng sa phong bị phá vỡ, như mũi nhọn bắn thẳng, thì dù ở huyệt cát cũng suy vong. Lời nói ấy lại bị các thuật sư luận sinh mượn để dùng phép sa mà đánh lừa người. Lời của Đổng công là chính luận, còn lời người xưa chỉ chuyên nói về sa phong, tuyệt nhiên không nói đến tình trạng của long.
Sa là chỗ thấy trong huyệt, Long sơn Hổ sơn là hai vai hai tay
Gọi tên đúng thì hiểu đúng: sa không phải là ngọn núi nguy nga, và Long Hổ không phải vật từ ngoài đến.
Sa là thứ nhìn thấy được trong huyệt. Huyệt là thể, sa phong là dụng. Sở dĩ lấy chữ sa làm tên là nói theo hình tượng thấp bằng, bao quanh, thu nước, hoàn toàn không phải đem núi nguy nga cao lớn mà gọi là sa. Người đời sau gọi núi chầu, núi án đều là sơn, như thế là nhầm, không đúng với ý định danh lúc đầu.
Người xưa gọi núi ở hai bên huyệt là Long sơn và Hổ sơn. Người đời sau câu nệ tên ấy, cho rằng Long sơn Hổ sơn là vật từ ngoài đến, không biết rằng núi hai bên huyệt cũng như hai vai, hai tay, đều mọc ra từ thân thể. Nhìn kỹ hai vai, hai cánh tay thì thấy chúng không thể lệch so với đỉnh đầu. Nếu hai vai hai tay một gần một xa, một trước một sau thì không phải thật mà là giả, đến đỉnh đầu cũng giả luôn.
Huyệt ăn nước: Long Hổ phải nghịch chiều dòng chảy
Cổ nhân có câu trương sơn thực thủy, nghĩa là nuốt hết nước chảy từ bên ngoài vào, không phải uống hết nước trong huyệt. Nước trong huyệt như bầu vú của mẹ, huyệt như đứa bé đang bú. Nước ở giữa Long sơn và Hổ sơn giống như đồ ăn, nhất định phải có hai tay đưa lên miệng. Không dùng tay thì đồ ăn không vào miệng. Long sơn, Hổ sơn phải nghịch chiều với nước thì đồ ăn mới vào miệng, nếu thuận chiều thì không.
Nhìn chỗ Long sơn, Hổ sơn mà thấy nước chảy ngang qua thì biết. Núi nếu từ bên tả vào thì nước trước huyệt nhất định theo núi chảy từ bên tả tới. Long sơn đến trước, đến chỗ Hổ sơn nghiêng vào trong thì nghịch với nước đến. Hổ sơn đến sau, tới mé ngoài Long sơn thì đón ngoại thủy chảy ngang từ bên tả, như vậy nước bên trong nghịch chiều với Long sơn rất vững. Núi từ bên hữu đến cũng thế. Khi ấy Long sơn Hổ sơn đều được dùng, huyệt cũng ăn được nước. Đó là cái lý không đổi.
Nếu núi nước bên tả đến mà Hổ sơn nghiêng vào trong, Long sơn nghiêng ra ngoài thì Long sơn thuận nước mà bị giữ lại. Hoặc núi nước bên hữu đến mà Long sơn nghiêng vào trong, Hổ sơn nghiêng ra ngoài thì Hổ sơn thuận nước mà bị giữ lại. Nếu một bên Long Hổ bị ngoại thủy kéo đi thì trong ngoài trở thành thuận chiều.
Nếu huyệt là thật thì Long sơn, Hổ sơn nhất định không thuận chiều nước. Nếu huyệt là giả thì Long, Hổ nhất định không nghịch. Long Hổ mà vươn thẳng hai cánh tay ra trước mấy chục trượng, thấp dần và không khoanh lại thì gần đó phải có núi án che mới cắm được huyệt. Lại có huyệt được hai dòng nước kèm hai bên, không có Long Hổ riêng mà mượn núi hai bên dòng nước cách trở để giữ nước trước huyệt làm Long Hổ, cũng cắm được.
Thế nào mới gọi là đắc thủy
Cổ ngữ có câu đắc thủy vi sơn, được nước làm núi. Nhưng ngoài sông, hồ, kênh, mương thì không thể nói là có đắc thủy. Nước phải nghịch với long mạch, với sa phong, với huyệt, hơn nữa phải từ chỗ sinh vượng chảy đến, từ chỗ hưu tù chảy đi thì mới gọi là đắc thủy. Người thời nay nói thủy pháp chỉ biết uốn lượn lắng đọng, đến đi vòng vèo quanh co, mà không biết rằng phải nghịch chiều mới đúng thủy pháp.
Đại địa nhất định có nước nghịch long, đất tốt nhất định có nước nghịch sa. Nghịch với long là hay nhất, nghịch với sa là hay nhì. Nói đắc thủy, chủ yếu là chỉ nghịch long, nghịch sa. Sa phong và nước là sự phối hợp lớn: núi được nước, nước được núi là phối hợp vợ chồng; nước nghịch núi, núi nghịch nước là vợ chồng giao cảm. Nếu núi nước thuận chiều thì tuy có phối hợp nhưng không có giao cảm, không phải chỗ thành long.
Long Hổ như hai cánh tay giang ra
Hai cánh tay giang ra, thân long đẻ nhánh bao kín huyệt, không để gió thổi làm sinh khí tản đi. Nếu phản nghịch, nhọn hoắt, nham nhở hoặc hai cánh cung cùng đến thì đều nên tránh. Tay dưới nghịch nước mà cong lên thì lực nặng, tay trên thuận nước mà vòng lại thì lực nhẹ. Bên trong Long Hổ không thể bao tròn, cũng không thể giao nhau. Sa phong nhọn hoắt là điềm hung ác.
Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 2.
