Bài tổng quan
Rồng nằm trên đất bằng: lấy dòng nước chỉ lối tìm huyệt
Giữa cánh đồng không một ngọn núi, thầy địa lý vẫn đi tìm rồng. Họ không ngước lên trời mà cúi xuống nhìn từng tấc đất, vì có huyệt quý nằm ngay dưới chân người đi qua. Chỉ cần một gò đất nhô lên đúng chỗ…
Giữa một cánh đồng mênh mông không có nổi một ngọn núi, người xem đất vẫn đi tìm rồng. Rồng ở đây không còn là dải núi trập trùng mà là một đường gò thấp, nhấp nhô bí ẩn, và muốn tìm ra nó người xưa phải nhìn xuống chân mình: cao hơn một tấc là rồng, thấp đi một tấc là nước.
Chi long: cành nhánh nhiều vô kể, chỉ cần phân thật giả
Chi long là những nhánh tách ra từ thân núi lớn. Can long rất ít mà chi long rất nhiều, nên khi luận về địa khí chỉ cần xét thật hay giả, không cần câu nệ lớn hay nhỏ. Một bài luận cổ nói về những thế đất nhỏ chỉ có ba, bốn, năm, sáu đốt long, chưa thể nói là gần tim rồng hay không, cũng không giới hạn ở đầu rồng hay chân rồng. Chỉ cần địa hình có đốt long vươn ra là có thể kết huyệt, vì chỗ ấy vẫn có núi triều bái đối diện, hai bên có núi hộ vệ, như vậy đã có thể an táng. Sau khi táng có thể xuất hiện vài bậc tôn quý, sự giàu sang giữ được vài chục năm; nhiều ít còn tùy tinh khí trong đó chứa bao nhiêu.
Bất kể là đại chi, tiểu chi hay bàng chi, nếu tinh khí tự kết bên trong thì đừng bỏ qua. Điều kiện là phía trên có tinh tú sáng sủa, hình trạng phân minh, đường đi vu hồi khúc triết mà quân bình; dàn trải ra ngoài chỉnh tề có thứ tự thì nơi đó ắt có huyệt ẩn. Điềm báo rất rõ ràng: phía trước có núi nghênh tiếp triều bái, phía sau có núi tiễn đưa, địa thế hai bên phân lớp lang, minh đường bằng phẳng ngay ngắn, xung quanh có thủy thành ôm lấy minh đường, bốn loài thú cương mãnh uy vũ, sa phía dưới vững chắc, thủy khẩu bịt kín, la thành trùng trùng điệp điệp, đó mới là đất tốt. Ngược lại, thân long không lượn sóng, tinh tú không sáng, cục thế huyệt không phân minh, sa thủy tán loạn, sa phía dưới không vững, minh đường gồ ghề, thủy khẩu lại quá rộng thì tinh khí chẳng tụ ở đó, không cần để tâm.
Còn một loại đất tuyệt diệu: long chỉ vươn ra vài đốt đã thành thế kết huyệt, không phải can long cũng không phải chi long, gọi là tủy long huyệt, thường nằm sát tỉnh thành, phủ quận. Quanh nơi đại can long kết huyệt thường có rất nhiều sơn và thủy tụ lại, mạch khí rất vượng, mỗi tấc đất đều có thể là yếu huyệt, nên không thể không tìm long ở đó. Đôi khi chỉ vài đốt long đã kết đại huyệt; nó chung tổ tông với đại can long, lai lịch tôn quý, tinh khí ẩn bên trong cũng vượng, như những bậc quý nhân đứng cạnh bậc đế vương.
Long trên đất bằng và long trên núi cao
Chi long là long trên bình địa, còn lũng long là long trên núi cao. Chi long trong phạm vi ngàn dặm thì rộng mênh mông khó thấy chỗ tận cùng, nên long mạch cũng khó nhận. Có chỗ giữa vọt cao lên, đường phân thủy rõ, sống lưng của mạch phân minh, đó là long tốt. Nếu cao thấp không đều, mạch thế đột nhiên đứt đoạn, đường phân thủy mơ hồ thì là long giả.
Họ Ngô nói chi long cúi đầu như ngủ, đến nơi có cát tinh chiếu thì ngẩng đầu lên. "Táng Kinh" dạy muốn chiêm bốc chi long thì tới đầu long, muốn chiêm bốc lũng long thì tới chân long; táng trên thân chi long thì táng ở chỗ cao nhất, còn với lũng long thì chôn dưới chân núi. Đất lành thường là nơi bằng phẳng rộng rãi, chỗ chi long bắt đầu duỗi thân, và đất lành cũng dàn trải theo tinh khí của chi long. Cách quan sát là xem long có nhấp nhô uyển chuyển, lộ vẻ huyền diệu hay không; nếu có cát khí, đất lành sẽ nổi lên theo. Chi long chứa tinh khí sung mãn thì sông nước cũng đi theo bên cạnh, khí thế thuận đạt, sơn thế linh động; táng ở huyệt theo phép ấy thì vĩnh viễn cát tường, không lo hung hiểm.
Dương công tả địa thế quanh chi long như một vùng nước mênh mông cuồn cuộn, khiến chi long như chìm trong đại bình nguyên nước nối liền trời đất. Chi long uốn mình ngoằn ngoèo, có lúc nổi như sợi chỉ mảnh, có lúc chìm đi, đứt rồi lại nổi lên. Phía trước sẽ gặp chỗ nước hội lưu, và ở đó phải có cách định huyệt phân minh. Chi long từ chỗ cao hội tụ xuống chỗ bằng, hai phân chi sa và thủy tương nghênh hai bên, từ phía trước mà tới.
Bài "Thập Lục Mạch" nói tới mạch "tiên chưởng" mà rất ít người biết: dù ở đất bằng cũng không sợ gió từ bốn phương tám hướng, chỉ cần xét xem tinh khí có tàng ở chân mạch hay không, khỏi nghe người ta nói tốt xấu. Thủy bao long, long cũng bao thủy thì chọn nơi kết huyệt ở đâu cũng được. Bài "Tam Thập Lục Huyệt" dạy tìm huyệt trên đại bình nguyên thì đến chỗ nào thấy địa hình nổi cao lên, trên đỉnh nó thực sự tuyệt diệu; an táng ở đỉnh là hay nhất, dòng nước tương nghênh xung quanh sẽ từ phía trước tới triều bái.
Bình nguyên mênh mông chẳng thấy Long Hổ, muốn tìm long mạch hỏi đâu? Thầy địa lý cứ lấy dòng nước làm chỉ dấu; nơi hai dòng hội lưu chính là long mạch.
Bài "Nhập Thức Ca" cũng dặn lấy hà lưu làm chân long, đem hài cốt táng trong cát huyệt thì về sau sinh quý nhân làm đến chức Tam Công. Liêu công bàn thêm cục thế đại bình nguyên: tinh thần vốn xuất ở chỗ núi cao, long mạch cũng rời khỏi chỗ núi cao; quy luật long đi dưới bình nguyên cũng giống như vậy. Nhưng khi long rời hẳn bình nguyên thì có điểm bất đồng, tuyệt đối không được để mất tông tích thật của nó. Trên đất bằng có chỗ cao chỗ thấp như sơn và thủy, đốt và mắt đều nằm trên cùng một chi long, núi xa thủy gần đều hộ tống hai bên. Long mạch như ngó sen đứt còn vương tơ, thân long lúc nổi lúc chìm, khi nhô lên khi lặn xuống. Tìm được long như thế thì quý hơn ngàn vàng. Hình dạng long bình địa cần xem khí thế dòng nước, dựa vào nước đến mà nhận long thì không bao giờ lầm. Ông ví long như chuỗi ngọc quý nằm dưới đất rộng; thấy chỗ nào cứ nhấp nhô lồi lên thì đó chính là nó.
Một gò đất thấp hơn ngàn trượng núi cao
Có người tìm long cả đời trên đỉnh núi, mà chỗ kỳ diệu nhất lại nằm ngay dưới chân họ, trên một bãi đất phẳng.
Họ Bốc nói tìm long, leo núi cao ngàn trượng không bằng tìm một cái gò đồi dưới bình nguyên. Thủy tinh đa phần nằm nơi bình địa, đất lành cũng ở đấy. Long duỗi thân uốn lượn giữa đại bình nguyên bao la, thấy chỗ nào từ từ nhô lên thì chính là nơi kỳ diệu. Long mạch ở đây chợt cao chợt thấp, uốn lượn khúc triết; chỗ lõm xuống nhất định phải kỵ suối chảy. Ở nơi đất bằng bỗng nổi lên một cái gò cao, hai phía đông tây đều là bình địa thì phải khảo sát kỹ, không nên đào khoét tới chỗ có nước chảy. Đất cát lún xuống, nước cứ đọng lại, bờ đất nổi lên đập đềnh như sóng, tính cách của nó không sợ gió thổi, vậy hà tất phải lên tận núi cao? Long mạch giống như một sợi dây lưng, hà tất phải tìm mãi trên đỉnh núi chót vót?
Bài "Huyệt Pháp" cho rằng dưới đất bằng có địa thế nổi cao thì tinh khí ắt toát ra, tuyệt đối hơn hẳn nơi núi cao ngàn trượng, dù thần tiên cũng chẳng nhận ra. Chỉ cần xem thủy thế là biết ngay tinh túy thật sự: nếu nước chảy đi mà không hề chảy vòng lại thì khỏi tìm địa huyệt.
Đào công mô tả sơn thế chi long tương đối bình hoãn như rễ cỏ, hình như long co móng vuốt vào thân, ẩn ẩn hiện hiện không thấy đầu mặt. Nhưng khi gặp thủy lưu thì tuyệt diệu vô cùng, như rồng gặp mây. Vừa nhìn đại bình nguyên thấy địa thể uốn lượn nhấp nhô, triều bái bốn phía, vừa đắc thủy vừa tàng phong, thật là địa thế người đời hiếm gặp. Xung quanh có tiếng gà gáy chó sủa, thị trấn thôn trang huyên náo, nhưng lúc nhô cao lúc xuống thấp, ở giữa có chỗ đứt rồi lại nhô lên. Long mạch có hình dạng đặc biệt ly kỳ như chuỗi ngọc rơi vung vãi, tinh túy ẩn hiện, có khi đứng ngay bên cạnh địa huyệt mà chẳng biết. Long mạch vốn dùng để bù chỗ khiếm khuyết, là chỗ tạo hóa sinh sản, chỉ dành cho bậc đại thánh nhân, dù hiền nhân tiền bối cũng khó biết.
Tử Vi nói long đi tới vùng bình địa Trung Nguyên thì mất hút, khó tìm; dù tìm ra cũng không biết kết huyệt ở đâu vì trước mặt là đại bình nguyên bao la, không tìm ra địa nhương tương ứng. Địa thế kiểu này gọi là "Thiên Bình", chỉ có thể xem thủy thế; nơi thủy lưu quanh co uốn lượn chính là cát huyệt. Nếu bỏ thủy đi tìm địa huyệt khác thì xung quanh đều là bình địa, căn bản không có tông tích cố định. Long huyệt gặp thủy lưu thì huyệt sẽ vuông vắn, còn không có thủy lưu đến cắt long mạch thì đừng bận tâm nữa. Loại long mạch này không giống long mạch của sông lớn núi cao.
Trương Lạc Phách nói long mạch trên bình địa khí thế dàn trải hòa hoãn, thoáng đãng như ô quy ẩn nấp trong bùn. Có lúc long mạch lặn sâu xuống mặt đất, có khi lẩn tránh khiến ta không thấy tung tích. Gặp trường hợp ấy phải dựa vào trí lực, tâm cơ và sự am hiểu địa lý mà tra xét cho rõ: địa thế cao hơn một tấc là long, thấp đi một tấc là thủy; phải nhìn rõ chi long khởi đầu từ đâu và kết thúc tại chỗ nào. Nếu long mạch kết thúc mà cũng là chỗ tận cùng của dòng nước, ranh giới phân minh, thì đây chính là nơi kết huyệt.
Luận về lũng long thì dưỡng ra phải rộng lớn, khí thế phải hùng vĩ, tinh phong phải thanh tú đẹp đẽ. Địa thế khi hành tiến phải khúc chiết uốn lượn, sơn mạch hộ tống có thứ tự, địa huyệt phải có tinh khí tụ kết, khí thế xung quanh bình ổn hòa hoãn. Khi hành long tán ra trên bình địa mà nhấp nhô uốn lượn khúc chiết, thế đến thẳng thắn thì là cát. Nếu long mạch gấp khúc đứt đoạn, địa thế dị dạng, sơn thạch hỗn loạn thì là hung.
Long chính và long phụ: một thân núi, nhiều mạch cùng đi
Long có bàng long và chính long. Chính long thừa hưởng tinh khí trời đất mà tiến về trước, sơn mạch bốn phía đều tới ủng hộ, hộ tống; vì thế dưới một tổ sơn ắt có vài mạch long, và người xem long phải phân biệt đâu là chính long, đâu là bàng long cùng các sơn mạch theo hộ. "Táng Kinh" nói nơi núi cao đẹp đẽ có quần long hội tụ bốn phía. Ngô công nói ba, năm hoặc bảy long mạch cùng tiến tới thì chính long ắt ở giữa, lại xét về tinh tú sẽ hiểu thêm sự đặc biệt của chính long; quan sát chính long xuyên qua khe núi thì hai bên ắt có sơn mạch hộ tống.
Nhất Hạnh thiền sư dạy xem ngắn dài, cao thấp để thấy đâu là chính long: nếu nó ngắn thì xét từ chỗ dài, nếu nó dài thì xét từ đoạn ngắn, và mỗi cách cao thấp đều có khẩu quyết. Nhưng chỉ cần xem các sơn mạch triều bái là được; nếu sơn mạch triều bái không tương ứng với long mạch thì đó chính là bàng long.
Long thật và long giả
Long cũng có chân long và giả long. Nếu thấy tinh tú linh động, cấu tạo huyệt phân minh, minh đường rộng rãi, trước mặt thông thoáng khoáng đạt, thủy thành và thủy khẩu đều hợp với phép tắc, đó mới là chân long. "Ngọc Tủy Kinh" nói cũng có long mạch hùng vĩ cao vút từng không, tinh tú bên trên cũng đẹp, long mạch uyển chuyển khúc chiết, nhưng nó không kết huyệt; đó là giả long. Một câu quyết khác nhận định nhiều người bị ngộ nhận giữa chân long và giả long, vì sơn thể giả long hùng vĩ, hàm tinh khí khiến ta chú ý, trông gần giống chân long; song giả long chỉ là một huyệt xấu trên mình chân long mà thôi.
Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 1.
