Bài tổng quan
Ngựa đá sang sông và những tấm bia Trạng Trình khắc sẵn
Cả làng Vĩnh Lại chờ suốt mấy trăm năm để xem con ngựa đá bên bờ sông bao giờ lội sang bên kia. Rồi một hôm, ngựa đá đã nằm ở bờ bên kia thật, và cái giá của lời hứa khắc trên lưng nó khiến cả làng không ai còn muốn nhắc lại…
Con ngựa đá bên bờ sông Vĩnh Lại
Dân miền Vĩnh Lại, quê hương Trạng Trình, vốn hiếu học và trọng khoa cử. Nhưng học thì nhiều mà đỗ đạt thì ít, chẳng mấy người làm nên sự nghiệp lớn, trong khi các vùng quanh đó thi nhau sinh ra anh hùng hào kiệt: văn thì tiến sĩ, hoàng giáp, võ thì đô đốc, quận công. Thấy thế, dân Vĩnh Lại ấm ức, rủ nhau đến hỏi ông xem vì sao. Ông không đáp, chỉ nói rằng thiên cơ không thể tiết lộ.
Người ta không hài lòng với câu trả lời ấy, còn cho rằng ông thâm hiểm, biết mà không chịu chỉ. Nghe phong thanh chuyện đó, ông cho làm một con ngựa bằng đá đặt bên này bờ sông Vĩnh Lại, rồi bảo thợ khắc lên lưng ngựa hai câu chữ Hán, kèm hai câu Nôm dịch ý.
Hà thời thạch mã độ giang,
Thử thời Vĩnh Lại nghênh ngang công hầu.
Bao giờ ngựa đá sang sông,
Thì dân Vĩnh Lại quận công cả làng.
Ngày con ngựa đá được dựng lên, mọi người kéo đến xem. Từ đó đời này sang đời khác, dân làng ngóng chờ xem bao giờ ngựa đá lội sang sông, để biết làng mình có phát ra đô đốc, quận công hay không. Cũng có người đoán ý ông là nhắc dân Vĩnh Lại rằng chuyện ấy không bao giờ có, cũng như câu tục ngữ: bao giờ rau diếp làm đình, gỗ lim ăn ghém thì mình lấy ta. Rau diếp làm sao dựng đình, gỗ lim làm sao ăn ghém, thì ngựa đá làm sao lội qua sông được mà mong chức quận công, đô đốc.
Ngày tháng trôi, dòng sông Vĩnh Lại mỗi ngày lở thêm một bên, bồi thêm một bên. Đến cuối đời Hậu Lê, bờ bãi hai bên đổi thay, và con ngựa đá, không cần chạy bước nào, hóa ra đã nằm ở phía bên kia sông. Dân làng nhao lên chờ tin mừng, ai cũng hy vọng một chức quận công hay đô đốc sắp đến với đời mình. Dân các làng khác nghe tin cũng nể sợ. Tiếng tăm Trạng Trình lại vang dậy khắp nơi, người ta bàn tán mãi chuyện con ngựa đá bờ sông. Con gái các vùng đua nhau về làm dâu Vĩnh Lại, thầm mong mình sẽ thành bà đô đốc, bà quận công. Trai Vĩnh Lại lên mặt ngang tàng, trai làng khác không ai dám đụng vào, sợ rằng nay mai các cậu làm nên thì mình toi cơm.
Giữa lúc ấy, cơn giông của thời cuộc kéo đến từ phương Nam.
Một đêm thành quận công cả làng
Cuộc chiến giữa Tây Sơn và chúa Nguyễn trong Nam nổ ra. Chẳng bao lâu quân Tây Sơn thắng, diệt chúa Nguyễn, thừa thắng đem quân ra Bắc diệt luôn chúa Trịnh, rồi trả quyền lại cho nhà Lê. Vua Lê thoát khỏi nạn chúa Trịnh chuyên quyền. Nhưng sau khi vua Hiển Tông mất, vua Chiêu Thống lên ngôi, dòng dõi họ Trịnh lại trỗi dậy. Nhà vua phải mật triệu Nguyễn Hữu Chỉnh ở Nghệ An ra giúp. Chỉnh đánh tan đám con cháu họ Trịnh còn sót lại, nhưng rồi cũng chuyên quyền, lại còn ra mặt chống Tây Sơn.
Nguyễn Huệ thấy vậy, sai tướng Vũ Văn Nhậm đem quân ra đánh Chỉnh. Quân Nhậm tiến gần Thăng Long, Chỉnh mang vua chạy trốn nhưng giữa đường bị bắt sống. Nhà vua thoát được, nhưng phải cải trang làm dân thường, giấu ấn tín trong người mà chạy. Quân Tây Sơn đuổi theo, vua đành vượt sông Vĩnh Lại và dừng chân ở làng này.
Dân làng cho đó là điềm trời xui khiến, rước vua về đình, thảo hịch chiêu mộ quân sĩ để chống Tây Sơn. Thấy trong người vua còn mang ấn tín, dân làng ép vua ký giấy phong tước cho mình. Tội nghiệp nhà vua, lúc ấy còn quyền uy gì nữa, lại nằm trong tay người làng Vĩnh Lại. Ngai vàng cung điện còn chẳng tiếc được, huống chi mấy chức nọ tước kia. Vua đành chiều ý. Người này xin, người kia đòi, chỉ trong mấy đêm, mấy ngày, các cụ già, các đinh tráng trong làng ai nấy đều thành quận công, đô đốc. Chỉ những ai chưa đến tuổi trưởng thành là vẫn phải làm bạch đinh. Các bà thì đều được phong phu nhân.
Phong tước xong, vua từ giã chạy sang nơi khác. Cả làng chỉ sau mấy ngày đã thành quận công đô đốc, và toàn dân đinh đứng dậy phù nhà Lê chống Tây Sơn. Nghe tin, Vũ Văn Nhậm đem quân tràn sang. Dân Vĩnh Lại chống cự không nổi. Bao nhiêu đô đốc, quận công ấy đều bị giết hoặc bị bắt. Tai họa giáng xuống cả làng, thảm thương vô hạn.
Hai câu sấm trên lưng con ngựa đá hóa ra đã ứng, theo một cách mà chẳng ai trong làng muốn đón nhận. Và những tấm đá khắc chữ của vị Trạng ấy còn nằm lại ở nhiều nơi khác.
Tấm bia nơi mộ ông đánh ngã
Sau khi Trạng mất, làng Cổ Am lập đền thờ ông. Một hôm có hai cha con anh Khả đi bắt chuột bên ngôi mộ, vô ý làm đổ tấm bia trên mộ. Dân làng bắt cả hai về đình, phạt ba quan tiền, bởi khi bia đổ xuống người ta thấy phía sau có khắc mấy dòng thơ.
Cha con thằng Khả
Đánh ngã bia tao
Làng xóm xôn xao
Bắt đền tam quán.
Hai cha con chạy vạy mãi chỉ gom được một quan tám, dân làng không chịu. Anh Khả cãi: cha con tôi lỡ lầm nên Cụ Trạng chê bắt phạt có quan tám. Cụ đã biết trước cha con tôi chỉ chạy được chừng ấy nên mới nói bắt đền "tam quán". Nói lái "tam quán" thì thành "quan tám", chứ không phải ba quan. Nếu không thế thì cả bài thơ không có chữ Nho nào, sao lại dùng hai chữ Nho ở cuối? Theo chúng con, "tam quán" là chữ Nôm nói lái mà ra. Dân làng không tin thì cứ vào đền xin âm dương mà xem.
Túng thế, hai cha con cãi liều, nhưng dân làng nghe cũng thấy có lý, bèn vào đền lễ Cụ, xin âm dương. Hễ khấn ba quan thì hai đồng tiền cứ khi sấp cả, khi ngửa cả, không thành. Đến khi khấn quan tám thì mới được một đồng sấp, một đồng ngửa. Mọi người càng thêm tin phục Cụ Trạng.
"Thánh nhân mắt mù" và cái huyệt ở đằng chân
Lúc sắp mất, Trạng ghi vào gia phả và dặn con cháu: ta có sẵn một tấm bia đá đã sơn. Khi ta nhắm mắt, hạ quan tài xuống thì phải đặt tấm bia ấy lên nắp rồi mới lấp đất. Hễ có người lạ đến viếng mộ ta mà nói "thánh nhân mắt mù", thì phải lập tức mời người ấy về nhà, nhờ họ chỉnh lại hướng ngôi mộ cho ta. Phải nhớ canh chừng, không được tự ý cải táng. Trái lời ta, dòng dõi sau này sẽ suy đồi lụn bại.
Con cháu làm đúng như lời dặn. Năm mươi năm sau, một người Trung Hoa đến nhìn ngôi mộ một lúc rồi nói: cái huyệt ở đằng chân sờ sờ thế kia mà không biết, lại đem đặt mả thế này, vậy mà gọi là thánh nhân, hay là thánh nhân mắt mù. Người trong họ nghe được, chạy về báo ông trưởng tộc. Ông vội ra mời vị khách về nhà, xin ông giúp xoay lại ngôi mộ. Hóa ra vị khách là một nhà phong thủy nổi tiếng bên Trung Hoa, vừa sang xem di tích Cụ Trạng vì bấy lâu nghe tiếng đồn. Ông ta sẵn lòng sửa mộ, lại còn tự đắc cho mình giỏi hơn Trạng: với Cụ Trạng thì chỉ nghe người ta đồn thôi, đến tận nơi xem thì có gì là giỏi đâu. Ông bảo chẳng cần đi đâu xa, chỉ cần đào lên, xoay lại và nhích đi một chút.
Ông trưởng tộc mừng rỡ, tụ họp con cháu, mời thầy địa lý đến cải mộ. Khi đào tới tấm bia đá, ông thầy lấy làm lạ, lòng hiếu kỳ nổi lên, bảo đem rửa sạch xem có gì. Lớp sơn lúc ấy cũng đã mục. Rửa xong, những dòng thơ hiện ra.
Ngũ thập niên tiền mạch tại đầu,
Ngũ thập niên hậu mạch quy túc,
Hậu sinh nhĩ bối ná năng tri?
Hà vị thánh nhân vô nhĩ mục?
Nghĩa là: năm mươi năm trước mạch ở đầu, năm mươi năm sau mạch dồn xuống chân. Kẻ sinh sau các ngươi biết gì? Thánh nhân mắt có mù đâu bao giờ. Đọc xong, ông thầy Trung Hoa mới phục là thánh thật, tiên tri thật, bởi nếu không thì làm sao biết trước được lời mình sẽ nói. Ông nhận mình chỉ xứng làm học trò của Cụ.
Có một giai thoại khác kể rằng quan Tổng đốc Hải Dương một lần về thăm quê Trạng, đi dọc sông Tuyết Giang thì thấy ngôi mộ lớn đang có nguy cơ sụp lở. Hỏi ra mới biết đó là mộ thân phụ Trạng Trình. Quan hết sức ngạc nhiên: Trạng là bậc thầy lý số số một mà sao lại đặt mộ cha ở nơi thế này? Ông bàn với con cháu Trạng rồi quyết định dời mộ sang chỗ khác, ngầm ý sửa cái lỗi xưa của Trạng. Nào ngờ khi đào gần đến hộp quách thì thấy một tảng đá lớn, lật lên thì có tấm bia khắc hai dòng chữ.
Bát thập niên tiền khí chung vũ tả,
Bát thập niên hậu khí nhập ư trung.
Nghĩa là: tám mươi năm trước khí tốt dồn bên trái, tám mươi năm sau khí tốt rời vào giữa.
Có tấm đá lại không nằm dưới mộ mà nằm dưới bát hương, và nó cứu con cháu ông qua hai lần hoạn nạn.
Chiếc ống tre và tấm bia dưới bát hương
Cũng lúc sắp mất, Trạng giao cho con cháu một chiếc ống tre sơn son thếp vàng, bịt kín hai đầu. Ông dặn: đến đúng năm, tháng, ngày, giờ đã ghi, phải đặt ống vào kiệu rước lên dinh quan Tổng đốc Hải Dương, trao tận tay quan thì sẽ cứu vãn được gia cảnh. Tuyệt đối không ai được mở xem, ngoại trừ quan Tổng đốc.
Chiếc ống truyền đến người cháu bảy đời của Cụ thì mới được rước lên dinh Tổng đốc, đúng ngày giờ đã ghi trong gia phả. Quan mở ống ra, thấy một cuộn giấy với hai câu chữ Hán.
Ngã cứu nhĩ thượng lương chi ách,
Nhĩ cứu ngã thất thế chi bần.
Nghĩa là: ta cứu mày khỏi nạn sà nhà đổ, mày cứu ta cháu bảy đời nghèo. Đang bận việc, quan thấy hai câu xấc xược dám gọi mình bằng "mày", nổi giận, cầm quạt đứng dậy chạy lại định đánh người cháu của Cụ. Nhưng vừa bước khỏi chiếc sập thì cây sà nhà từ trên đỉnh đầu rơi xuống đánh rầm một tiếng. Nhờ phúc lớn nên quan vừa ra khỏi chỗ ngồi mà thoát chết.
Lúc ấy quan Tổng đốc giật mình, hiểu ra Cụ Trạng đã cứu mình khỏi cái chết bất đắc kỳ tử. Ông ân cần xin lỗi người cháu của Cụ, mời về dinh đãi cơm rượu, lại đưa một số tiền giúp con cháu Cụ vượt qua cảnh túng thiếu.
Chuyện nữa xảy ra vào năm Minh Mạng thứ mười bốn, khi quan Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ đi khai khẩn vùng Hải Dương. Có lúc ông thấy cần đào một con sông ở làng Cụ, mà muốn đào như ý thì phải phá đền thờ Cụ Trạng. Dân làng ra xin không được. Ông Trứ cho rằng mình vâng mệnh nhà vua, mà nhà vua còn phong sắc cho cả trăm vị thần, huống chi là một vị Trạng. Ông ra lệnh dân phu phá đền ngay để nhường chỗ đào sông.
Khi dân phu dỡ bát hương ra, người ta thấy dưới bát hương có một tấm bia đá phủ vải điều. Ông Trứ sai giở vải ra xem thì thấy mấy câu thơ.
Minh Mạng, thập tứ,
Thằng Trứ phá đền.
Phá đền thời phải làm đền,
Nào ai đụng đến Doanh điền nhà bay.
Đọc xong, Nguyễn Công Trứ sợ toát mồ hôi, liền cho sửa soạn lại đền thờ Cụ, không dám nghĩ đến chuyện phá đền đào sông nữa.
Nguồn: Nguyễn Nghiệp (sưu tầm), Trạng Trình – Sấm và Ký.
