Bài tổng quan
Nguyên Nhân Động Mộ, Bí Quyết Tu Bổ Và Việc Bồi Táng Mộ Tổ
Ngày Kỷ Tị tháng Mùi, một người đến hỏi về mồ mả tổ tiên. Năm xưa thầy địa lý quả quyết táng vào đất ấy sẽ phát đường khoa giáp, nhà có bốn anh em cùng theo nghiệp đèn sách, vậy mà không một ai đỗ đạt. Xem quẻ Tụy biến Cách xong, Dã Hạc lão nhân không đáp thẳng, chỉ hỏi ngược lại rằng bên mộ hẳn phải có cây to. Người kia giật mình thưa lúc chôn cây còn nhỏ, mấy năm nay đã cao lớn xum xuê. Rễ cây ăn vào bên áo quan, quan tài tổn hại đã lâu mà người sống không hề hay biết. Vậy phải đào thế nào để gỡ được rễ mà mộ vẫn yên, và khoa thi năm sau rốt cuộc ứng vào ai?
Nguyên Nhân Động Mộ: Kỵ Thần Khắc Hào Phụ Mẫu Chỉ Ra Điều Đang Phạm
Dã Hạc nói rằng: Cần phải xem riêng quẻ khác, không nên xem gộp với quẻ trên. Cần chú trọng đến Kỵ thần xung khắc Phụ Mẫu. Nếu sáu hào yên tĩnh, Phụ Mẫu hữu khí, là tượng yên ổn lâu dài, không cần sửa sang.
Khắc thần tại hỏa, hoặc tại Chu Tước, nguyên nhân là do hầm, lò.
Khắc thần tại thổ mà động, hoặc tại Huyền Vũ, ắt là do bị táng trộm.
Hổ tại kim là bị kinh động, Long tại mộc bị rễ cây đâm vào.
Khắc thần tại Đằng Xà, mộ có ổ rắn, tổ kiến.
Quỷ thổ tại Câu Trần, do đào bới mà động mộ.
Huyền Vũ tại thủy, do nước nhập quan tài.
Khắc thần tại hỏa, có lẽ gần phần mộ bị đào lò, làm bếp, hoặc có lửa đốt.
Nếu Phụ Mẫu bị hào thổ khắc, hoặc bị Huyền Vũ khắc, là phần mộ tổ tiên bị kẻ khác chôn trộm.
Nếu khắc thần tại Câu Trần, mộ bị động do đào bới, xây dựng.
Khắc thần tại Bạch Hổ kim, là do động đất, lở núi gây kinh động. Khắc thần tại Thanh Long mộc, là do chặt phá cây cối mà động đến mộ. Nếu Thanh Long tại mộc lại động, là huyệt mộ bị rễ cây đâm xuyên.
Đằng Xà hỏa động, trong mộ có ổ rắn, ổ kiến, mối. Huyền Vũ thủy khắc Phụ Mẫu, huyệt bị nước đen xâm nhập
Phụ Mẫu bị xung, nước lụt đất xốp.
Kim khắc Phụ Mẫu, vách núi, đá tảng.
Bị thủy xung khắc, trũng ngập, nước ngầm.
Mộc khắc Phụ Mẫu, cây cối xâm phạm.
Hỏa khắc Phụ Mẫu, huyệt có rắn, mối.
Thổ động tương khắc, xây dựng tường rào.
Nếu hào Phụ Mẫu bị Nhật, Nguyệt, hào động xung khắc, hoặc quẻ động hóa xung, ví dụ tại cung Cấn, Khôn, mà quẻ hiện tam hợp Hợi, Mão, Mùi thành mộc cục khắc Phụ, ắt có địa phong (khí đất) xung lệch quan tài; nếu tại cung Ly, mà quẻ hiện thủy cục Thân, Tý, Thìn khắc Phụ Mẫu, là huyệt bị nước xâm nhập, quan tài xô lệch; nếu tại cung Chấn, Tốn, Phụ Mẫu bị kim cục xung khắc, là do vách núi, đá tảng. Nếu tại cung Càn, Đoài, quẻ hiện hỏa cục xung khắc Phụ Mẫu, ắt kinh động bởi lửa lò, sấm sét. Trong quẻ có hào thủy động, do đất ngập, nước xâm; trong quẻ có hào mộc động, do gốc rễ cây đâm vào; hỏa chủ về rắn rết côn trùng; thổ chủ về động thổ. Nếu bị phạm phải, cần nhanh chóng sửa chữa tu bổ.
Tân bình thích: Ở đây giải thích lệch lạc, Phụ Mẫu là Dụng thần, tại cung Khôn Cấn thì Phụ Mẫu là hỏa, làm sao mà có thể bị mộc khắc được? Phần luận tiếp theo cũng như vậy, đều là những bình luận bừa bãi, không xuất phát từ thực tiễn.
Hào vô loạn động, tu quan ngũ hành chi hữu vô. Quái nhược an dật, hựu khán địa chi chi khuyết hãm.
Không có hào động, cần xem ngũ hành có hay không. Quẻ nếu tĩnh lặng, cần xem nơi địa chi khuyết hãm.
Nếu sáu hào đều yên tĩnh, lại không có hào nào xung khắc Phụ Mẫu, cần phải xem có thiếu ngũ hành nào hay không. Nếu trong quẻ không hiện hành thổ, cần phải xây dựng tường bao. Nếu không hiện hành kim, cần lập bia mộ. Nếu hành hỏa suy nhược, cần đặt lư hương, hoặc dựng nhà coi mộ. Nếu hành thủy không hiện, có thể đào ao, đào kênh. Nếu hành mộc không hiện, cần trồng cây cối. Không chỉ riêng trường hợp ngũ hành không hiện trong quẻ, mà có hiện trong quẻ nhưng Không, Phá, Mộ, Tuyệt, vô khí, cũng coi như không hiện.
Ngày Kỷ Tị tháng Mùi, xem được quẻ Tụy biến Cách:


Người này xem về mồ mả tổ tiên. Ta bèn hỏi: "Vì việc gì mà xem?" Người xem bèn đáp: "Năm xưa thầy địa lý nói, táng tại đất này sẽ phát về đường khoa giáp, nhà tôi có bốn anh em, đều theo nghiệp đèn sách, nhưng không ai đỗ đạt, không hiểu vì sao."
Ta bèn hỏi: "Bên mộ hẳn có cây to." Người này đáp: "Có! Lúc chôn còn nhỏ, nhưng mấy năm nay đã cao lớn xum xuê rồi." Ta bèn nói: "Rễ cây đã ăn vào bên áo quan, quan tài bị tổn hại rồi."
Người xem bèn hỏi: "Vậy phải làm thế nào?" Ta bèn giảng giải: "Đào một hố nhỏ bên cạnh mộ để thăm dò, nếu đúng là có rễ cây, thì đào một hố lớn ở phía xa, rồi từ dưới hố đào một đường hầm ngang đến bên quan tài, lấy xẻng gạt bỏ rễ cây ấy đi, như vậy mồ mả sẽ được yên. Còn muốn biết các anh em có phát đạt không, thì phải bảo họ đích thân gieo quẻ. Bản thân ông đến khoa thi năm sau, Thái Tuế ở Ngọ, trợ giúp hào Thế Quan Tị hỏa, chắc chắn sẽ đỗ cao."
Người này thực hiện y theo lời, quả nhiên đến năm Ngọ thi đỗ.
Bí Quyết Tu Bổ: Mỗi Điều Phạm Có Một Cách Chữa Riêng
Biết được rễ cây, ổ mối hay dòng nước ngầm rồi thì còn phải có tay mà gỡ.
Nếu mồ mả bị động bởi hầm lò, cần mời Đạo sĩ cúng tế thần lửa, cúng tế an mộ.
Nếu bị chôn trộm hoặc động thổ, cần mời Đạo sĩ cúng tế để làm yên thần Thổ địa.
Nếu bị kinh động, cần mời Đạo sĩ cúng tế để làm yên phần mộ.
Nếu bị rễ cây ăn vào, hoặc đá tảng phạm vào, cần đào một hố chừng ba thước bên mộ để thăm dò, nhẹ nhàng bỏ đi phần rễ cây hoặc đá, rồi mời Đạo sĩ đến hàn lại mộ.
Nếu vì rắn, mối làm tổ, nên trồng cây xoan bên mộ, rắn, mối sẽ tự bỏ đi. Không nên nghe lời xui dại mà đốt hang ổ của chúng, gây tội sát sinh. Ta từng thấy có hai nhà bị rắn làm ổ bên mộ, dùng lửa hun chết cả ổ rắn, sau con cháu ngày càng suy vi lụn bại.
Bị nước xâm nhập huyệt mộ, nếu có đường tiêu nước, thì tìm cách khơi nước thoát đi. Nếu phải chỗ đất trũng, không thể tiêu được nước, chỉ còn cách dời mộ đi nơi khác.
Nếu bị địa phong (khí đất) xô lệch quan tài, thì đào hai hố chừng một, hai thước ở phía trước và phía sau mộ để thăm dò, nếu quan tài bị lệch, phải xoay lại đúng hướng, rồi mời Đạo sĩ đến hàn lại mộ.
Tu Bổ Cát Hung: Hào Thế Định Chuyện Nên Sửa Hay Nên Dời
Chữa được hay không, và chữa rồi có lợi hay không, lại là hai việc khác nhau.
Tử Tôn trì Thế, Tử Tôn động dao, tu chi tắc cát.
Tử Tôn trì Thế, hào Tử phát động, tu bổ sẽ tốt.
Nếu hỏi xem việc tu bổ có lợi hay không, lấy hào Thế làm Dụng thần. Nếu được Tử Tôn trì Thế, Tử Tôn phát động, tu bổ sẽ được cát lợi.
Quan Quỷ khắc Thế, Phụ hào Không, thiên tắc hoạch phúc.
Quan Quỷ khắc Thế, hào Phụ Không Vong, dời đi sẽ lợi.
Nếu hào Quan Quỷ khắc Thế, sẽ có hại cho ta. Nếu hào Phụ Không, Phá, Mộ, Tuyệt, lại bị Nhật, Nguyệt, hào động thương khắc, tức mộ phần tổn thương rất nặng, có tu bổ cũng vô ích, chỉ có cách dời chuyển.
Giác Tử bàn rằng: Phép xưa cho rằng mộ phần cha mẹ bị tổn hại, con cái sẽ cảm ứng mà gặp phải tai họa, khi đó cần nhanh chóng dời mộ cải táng, nói như vậy là hữu lý. Nay ta thấy nhiều nhà giàu có nhưng không sang trọng, bèn cải táng mộ tổ để cầu vinh; có con cái nhưng không giàu, cũng cải táng mộ cha mẹ để cầu phát tài. Như vậy, thì coi hài cốt của cha mẹ khác gì món hàng ngoài chợ, lý trời chẳng dung, không những không được vinh hoa, mà còn gia tài khánh kiệt; không những không được giàu có, mà còn tuyệt tử tuyệt tôn. Ta đã tận mắt nhìn thấy rất nhiều trường hợp, nên kể ra đây để răn giới người đời.
Bồi Táng Bên Mộ Tổ: Khi Nào Người Sống Kẻ Chết Đều Được Yên
Mộ cũ đã yên, thì đến lượt người mới mất xin một chỗ nằm bên cạnh.
Lục xung biến xung, quẻ biến tuyệt khắc, Phụ Mẫu tổn thương, nội ngoại Phản ngâm, nên chôn chỗ khác.
Hào Thế chịu khắc, theo Quỷ nhập Mộ, giúp Quỷ hại thân, Thế động biến hung, hóa Khắc hóa Quỷ, không nên bồi táng.
Phụ Mẫu, Huynh Đệ, Thê Tài, Tử Tôn động mà hóa Quỷ, hóa Khắc, đều là tượng hình thương.
Tốt nhất là Thế cùng Lục thân không bị biến khắc, hoặc quẻ tĩnh, hoặc Lục hợp, người sống kẻ chết đều yên.
Ví dụ: Ngày Bính Thân tháng Tý, xem mai táng linh cữu của cha bên mộ tổ có nên không, được quẻ Phục biến Khôn:


Đoán rằng: Hào Thế bị khắc, không nên bồi táng. Nhưng người này không nghe, vẫn đem mai táng. Chôn được mấy ngày, thì lưng đau muốn chết, nên muốn dời mộ sang nơi khác. Ta bèn nói: Không nhất định phải dời mộ. Trong quẻ hào Thế bị khắc, nhưng may mà không vượng tướng. Thổ hồi đầu khắc thủy, nên mời Đạo sĩ đến cầu yên thần đất, mộ được yên mà bệnh khỏi. Ta bèn nói: "Trước mắt tuy chưa cần chuyển, nhưng về sau chắc chắn sẽ phải chuyển. Vì quẻ hóa Lục xung, là điềm không lâu dài." Quả nhiên đến năm Tý mẹ mất, nên phải đào hài cốt của cha lên, đem hợp táng nơi khác.
Lý Ngã Bình bàn rằng: "Hải để kinh" có viết: "Thế tại hào sơ, hào 2 sẽ sinh ra vương hầu; Thế tại hào 5, hào 6 sẽ sinh ra kẻ mồ côi góa bụa." Đây là những lời đồn nơi đầu đường xó chợ, sao có thể đem khắc in trong những sách Bốc dịch chính tông.
"Dịch mạo" viết rằng: "Hào Tử Tôn vượng mà Quan, Văn đắc địa, chủ về hiển quý. Hào Tử Tôn vượng mà hào Tài đắc địa, chủ về giàu có. Hào Tử Tôn vượng mà lâm Đế Vượng, chủ về nhiều con trai. Hào Tử Tôn vượng mà gặp Trường Sinh, chủ về sống thọ. Hào Tử Tôn vượng mà gặp Bạch Hổ, Dương Nhẫn, sẽ sinh ra kẻ võ biền. Hào Tử Tôn suy, phá, sẽ sinh ra người tàn tật. Hào Tử Tôn lâm Không, sẽ có người làm tăng ni, đạo sĩ." Ngờ rằng lập luận đó là đặt riêng cho các nhà đời đời độc đinh đơn truyền. Nếu như phải nhà có hơn chục đứa con, ắt hẳn có người giàu người sang, có người theo nghiệp văn, có người theo nghiệp võ, có người thọ người yểu, có người đông con, người hiếm muộn, có người lành lặn người tàn tật, cho dù cả sáu hào đều là Tử Tôn, cũng không đủ để sử dụng. Suy luận theo kiểu võ đoán, áp đặt này, mà tự lấy làm đắc ý, thực không hiểu được rằng, Chu Dịch chú trọng đến cái lý, không chuộng lời lẽ văn hoa. Những lập luận này tuy từ ngữ rườm rà, nhưng thực không thể khiến người ta tin phục.
Nguồn: Tăng San Bốc Dịch – Dã Hạc lão nhân (Vương Hồng Ứng bình thích)
