Bài tổng quan
Định Huyệt, Tranh Đất Chôn Mộ Và Phép Xem Phần Mộ Tổ Tiên
Một mảnh đất được nhiều thầy phong thủy khen là đất tốt, xem quẻ nhiều lần đều được quẻ lành, vậy mà đào mãi chỉ gặp toàn đá tảng, không sao tìm ra huyệt. Chủ nhà đành mời Dã Hạc lão nhân đến gieo một quẻ, được quẻ Đại Tráng. Hào Thế nằm ở hào tư nên huyệt phải ở đoạn giữa; Ngọ hỏa trì Thế nên chỗ ấy tất là nơi cỏ cây khô héo. Quả nhiên giữa sườn đất có một khoảnh cây cỏ úa vàng, lơ thơ mấy đóa hoa dại màu đỏ, những nơi khác đều không có. Người nhà vẫn ngờ vực, nên phải có một phép thử trước hương án để thần linh tự chỉ chỗ. Đồng tiền chấm chu sa ấy rơi xuống nơi nào?
Định Huyệt: Vị Trí Hào Thế Và Ngũ Hành Chỉ Ra Chỗ Đặt Quan Tài
Thế tại hào sơ hào 2, huyệt ở dưới.
Thế tại hào 6 hào 5, huyệt ở phía trên.
Tại hào 3 hào 4, huyệt nên ở giữa.
Thủy tại hào Thế, huyệt ở gần nước hoặc hố, vực.
Thế nằm tại thổ, nên tìm huyệt ở chỗ cao.
Thế tại Dần mộc, là nơi cây cỏ um tùm.
Thân Dậu trì Thế, tại nơi đá tảng chất chồng.
Hỏa là khô cháy, tại nơi bùn đỏ đất khô, hoặc nơi cỏ cây khô héo cằn cỗi.
Ví dụ: Ngày Ất Tị tháng Mùi, xem về huyệt mộ, được quẻ Đại Tráng:

Đất này được nhiều thầy địa lý phong thủy cho là đất tốt. Xem về đất này nhiều lần, đều được quẻ tốt. Nhưng vì đào nhiều lần đều gặp đá, không tìm được huyệt, nên mời ta đến nhà xem giúp một quẻ. Ta nói: Hào Thế tại hào 4, nên huyệt ở giữa. Do Ngọ hỏa trì Thế, nên xem ở đoạn giữa, thấy có một chỗ cỏ cây khô héo, có mấy đóa hoa dại màu đỏ, trong khi những nơi khác đều không có. Ta bèn nói: "Chính là huyệt này! Đào lên sẽ gặp huyệt đất."
Nhưng người nhà vẫn ngờ vực. Ta bèn có một cách, lấy một đồng tiền, chấm chu sa lên trên, rồi để lẫn với vài trăm đồng tiền khác, bảo người này lập hương án cầu khấn trước trời đất, nếu được đồng tiền có chu sa, thì đây chính là huyệt. Bèn làm theo, rồi cho người rắc tiền khắp nơi, quả nhiên đồng tiền có dấu chu sa rơi vào ngay bên dưới khóm hoa đỏ. Đào lên, thì thấy trong khoảng hơn một trượng toàn là bùn đất, những chỗ còn lại đều là đá tảng. Mai táng xong, đến năm sau người này được lập phủ riêng, hai con trai trong vòng năm năm đều thi đỗ.
Tranh Đất Chôn Mộ: Trước Có Tâm Địa, Sau Mới Có Ấm Địa
Huyệt đã định được rồi, nhưng mảnh đất ấy có thật là của mình hay không lại là chuyện khác.
Giác Tử nói rằng: Lấy đất người khác để chôn mộ, là hành động ích kỷ hại nhân. Đem cái việc táng tận lương tâm ấy để hỏi thần linh, mà quẻ được linh nghiệm, lẽ nào thần linh lại dạy người ta làm việc thất đức? Chẳng lẽ chưa từng nghe câu, trước có tâm địa, sau mới có ấm địa hay sao? Xưa có người cậy tiền cậy thế, ức hiếp người nghèo, dùng âm mưu chiếm đoạt đất của người ta để chôn cất người thân, sau gặp người hiểu biết nói rằng: Nếu đất này không phát, thì không có địa lý; nếu đất này được phát, thì thiên lý không còn. Nếu thiên lý còn tồn tại, ắt có quả báo tuần hoàn, loại người này không thể phát đạt lâu dài được.
Phần Mộ Tổ Tiên: Hỏi Rõ Duyên Cớ Rồi Mới Lấy Hào Phụ Mẫu Mà Đoán
Đất của mình, mộ của tổ tiên mình, vậy mà nhà cửa vẫn lụn bại thì phải lần về tận nấm mồ cũ.
Phần mộ của tổ tiên, hoặc chôn cất đã lâu, hoặc mới mai táng, chỉ cần xem quẻ, ắt có nguyên nhân. Nên trước tiên, cần hỏi rõ nguyên nhân xem quẻ, mới có thể quyết đoán chính xác.
Hoặc do gia đình nhiều năm cực nhọc khốn khổ, ngờ rằng mộ tổ bất lợi.
Hoặc do thi cử nhiều lần không đỗ đạt, hoặc là con đã nhập trường, nhưng băn khoăn không biết phong thủy có phát đường khoa giáp hay không? Nếu vì bản thân, cần phải tự gieo quẻ. Nếu vì con cái, cần bảo con cái đích thân đến xem.
Có người vì con cái chết yểu, ngờ rằng có liên quan đến phong thủy.
Có người do cha mẹ, anh em, vợ con, hoặc bản thân mắc nhiều tai họa, bệnh tật; có người vì thường xuyên gặp kiện tụng, hỏa hoạn, trộm cướp, nên ngờ rằng do phong thủy bất lợi.
Có người do phong thủy âm trạch bị tổn thương, hỏi xem có cách cứu chữa không.
Có người muốn hỏi xem mộ tổ có được mạch đất không? Có người muốn hỏi xem mộ tổ có bị động không?
Xem về mộ tổ, đều lấy hào Phụ Mẫu làm Dụng thần.
Gặp quẻ Lục xung, không được mạch đất.
Quẻ biến hóa tuyệt, tình thế nguy nan.
Quẻ gặp Phục ngâm, muốn chuyển khó thành.
Quẻ hiện Phản ngâm, không chuyển phải chuyển.
Quẻ biến Lục xung long đã mất, con cháu dễ bị lăng nhục;
Trong xung biến hợp vận sắp về, hậu thế sẽ được phục hưng.
Quẻ chính là Lục xung, quẻ biến là Lục xung, là tượng hoàn toàn không có khí mạch. Quẻ biến hóa khắc, là rất nguy cấp, tai ương sẽ ập đến nhanh chóng.
Gặp quẻ Phục ngâm, long mạch hoàn toàn không có, tuy muốn dời mộ, nhưng lại không dời được.
Gặp quẻ Phản ngâm, tuy không muốn dời, nhưng vẫn phải dời đi.
Quẻ biến Lục xung, long mạch đã đi mất, con cháu bắt đầu suy vi.
Quẻ Lục xung biến hợp, trước vốn không có long mạch, nay vận đất bắt đầu hưng thịnh, con cháu sẽ được phát đạt.
Phụ Mẫu vượng tướng, tổ phần an nhiên; Mộ Tuyệt Hưu Tù, hậu duệ linh lạc.
Phụ Mẫu vượng tướng, mộ tổ bình yên; Mộ, Tuyệt, Hưu, Tù, hậu duệ suy bại.
Xem về mộ đã mai táng, lấy hào Phụ Mẫu làm Dụng thần, nên vượng tướng hoặc được Nhật, Nguyệt, hào động sinh phò, hoặc động mà hóa sinh, hóa Nhật thần, Nguyệt kiến, hóa tỷ trợ, hóa Tiến thần, thì phần mộ được nơi cát địa, chủ về cháu con vượng phát, người chết được yên ổn, người sống được an lạc.
Nếu Phụ Mẫu vượng mà gặp Đế Vượng, Trường Sinh, thì lai long được lâu dài, đời đời phát đạt.
Nếu Phụ Mẫu gặp Mộ, Tuyệt, Không, Phá, hoặc động mà phá tán, hoặc hóa Phá tán, hoặc hóa Thoái thần, hóa Mộ Tuyệt, hóa hồi đầu khắc, hóa Tuần Không, hóa hung, thì người chết không được yên, người sống ngày một suy vi lụn bại.
Thế hào biến Quỷ, chiêm giả bất tường; Quỷ hóa Lục thân, các thuộc bất cát.
Hào Thế biến Quỷ, người xem không may; Quỷ hóa Lục thân, đều là không tốt.
Nếu hào Thế biến Quỷ, hoặc theo Quỷ nhập Mộ, hoặc giúp Quỷ hại thân, thì người gieo quẻ sẽ gặp bất lợi.
Nếu Huynh Đệ, Thê Tài, Tử Tôn động hóa Quỷ, hoặc Quỷ hóa Huynh Đệ, Phụ Mẫu, Thê Tài, Tử Tôn, thì căn cứ vào chỗ phạm khắc mà suy đoán.
Lại như nếu hào Tý hóa Quỷ, người tuổi Tý sẽ gặp tai ương; hào Ngọ hóa Quỷ, người tuổi Ngọ sẽ bất lợi. Những trường hợp khác cũng loại suy từ đó.
Dã Hạc bàn rằng: Sách xưa cho rằng, hào Phụ không nên vượng tướng, Phụ vượng Phụ động, con cái sẽ bất an, ta cho rằng như thế là sai lầm. Xem về mộ đã chôn, lấy hào Phụ Mẫu làm Dụng thần, Phụ Mẫu vượng tướng, hoặc động mà hóa cát, là mộ tổ yên ổn. Nếu lại nói sang chuyện tổn thương con cái, thì hào Phụ Mẫu rốt cục nên vượng hay không nên vượng đây. Chỉ khi Tử Tôn động mà hóa Quỷ, hoặc Phụ động hóa Tử Tôn, mới là bất lợi cho con cháu.
Nguồn: Tăng San Bốc Dịch – Dã Hạc lão nhân (Vương Hồng Ứng bình thích)
