Bài tổng quan
Thầy Thuốc Tự Xem Về Điều Trị Và Phép Xem Thuốc Dùng Được Hay Không
Ngày Giáp Dần tháng Ngọ, một người bệnh đã nguy ngập, thầy thuốc bó tay không chịu điều trị nữa. Người em gieo quẻ hỏi bệnh của anh, được quẻ Truân biến Trung Phu. Dã Hạc lão nhân xem xong chỉ cười: cứ yên tâm, nửa đêm nay sẽ thuyên giảm, giờ Mão ngày mai là dậy được. Cả nhà ngơ ngác, rồi mọi chuyện xảy ra đúng như thế. Lần khác, một cụ ông ngã trong vườn hoa, miệng méo mắt lệch, đờm dãi chảy ròng; người con gieo quẻ hỏi có dùng ngưu hoàng được không, thuốc vào là tỉnh. Tăng San Bốc Dịch dạy thầy thuốc tự gieo quẻ cho ca bệnh của mình, và xem cả thang thuốc trước khi kê. Dựa vào đâu mà dám nói chắc giờ nào người bệnh sẽ ngồi dậy?
Thầy Thuốc Tự Xem Về Điều Trị: Hào Thế Là Mình, Hào Ứng Là Người Bệnh
Đại khái tương tự với phép mời thầy chữa bệnh.
Hào Thế tượng trưng cho bản thân, hào Ứng tượng trưng cho người bệnh. Nếu được hào Thế vượng tướng, hào Tử Tôn, hào Tài trì Thế, hào Thế sinh Ứng, hào Thế động hóa Tiến thần, hóa hồi đầu sinh, Nhật Nguyệt hào động lâm Tài tinh, Tử Tôn sinh Thế, đều chủ về chữa trị thành công. Nếu là bệnh mới mắc, hào Ứng nên gặp Tuần Không, hoặc động mà hóa Không, hoặc hóa hồi đầu sinh, hóa vượng, hóa Thoái thần, hoặc Nhật, Nguyệt, hào động sinh hào Ứng, hoặc gặp quẻ Lục xung, hoặc quẻ biến Lục xung, đều nên nhanh chóng đi cứu chữa, đừng để người khác đến trước lập công.
Nếu là bệnh lâu ngày, gặp hào Ứng vượng tướng, hoặc gặp Nhật, Nguyệt, hào động tương sinh, hoặc động mà hóa sinh hóa vượng, hoặc hào Ứng lâm Tử Tôn, hoặc Ứng lâm Thê Tài động mà sinh Thế, tuy là bệnh lâu ngày, ta cũng có thể chữa dứt điểm. Ngoài những trường hợp trên, còn lại đều không chữa khỏi được.
Dã Hạc bàn rằng: Các sách đều coi hào Quan tượng trưng cho Quỷ, cho bệnh tật, hào Ứng tượng trưng cho thầy lang, hào Tử Tôn tượng trưng cho thuốc, nói như vậy cố nhiên là có lý. Nhưng hào Quan Quỷ không phải là chỉ Quỷ, chỉ bệnh, mà là tượng trưng cho thần ưu phiền. Nếu xem về bệnh của con, thì cha mẹ vốn yêu thương con, con chưa ốm đã lo con mắc bệnh, nữa là con cái ốm đau. Nếu tự xem về bệnh của mình, thì lo sợ vì tính mạng đang nguy trong gang tấc. Vả lại có một người đau ốm, cả nhà bất an, ai cũng ưu phiền lo lắng. Nên hào Quan Quỷ chính là thần ưu phiền của cả nhà. Cần phải nhờ vào hào Tử Tôn để giải tỏa ưu phiền.
Những Ca Bệnh Dã Hạc Lão Nhân Đích Thân Chứng Kiến
Lý lẽ nói suông chưa đủ, phải theo chân ông vào tận giường bệnh.
Ví dụ vào ngày Giáp Dần tháng Ngọ, có người bệnh đang nguy ngập, thầy thuốc không chịu điều trị, bèn mời ta đến nhà, thấy trong nhà có đến hơn ba mươi người, thân thích thì nước mắt đầm đìa, bạn bè thì mặt ủ mày chau, chẳng phải là cả nhà ưu phiền hay sao?
Khi đó, em trai xem về bệnh của anh, được quẻ Truân biến Trung Phu:


Ta cười mà nói rằng: "Các vị cứ yên tâm, đến nửa đêm hôm nay sẽ thuyên giảm, đến giờ Mão ngày mai sẽ dậy được." Cả nhà từ lớn đến bé lập tức đổi buồn thành vui. Trong quẻ này, hào Tử Tôn chỉ thuốc thang, là thần giải tỏa ưu phiền. Tại sao nhìn quẻ này có thể đoán là chóng khỏi? Là vì người này tuy mắc bệnh hiểm nghèo, nhưng là mới mắc bệnh. Hào Huynh Tý thủy gặp Tuần Không, bệnh gần gặp Không sẽ khỏi. Đến giờ Tý nửa đêm sẽ thực Không. Có người hỏi rằng, bệnh gần gặp Không, chẳng phải sẽ khỏi vào ngày xung Không là ngày Ngọ, ngày thực Không là ngày Tý hay sao? Ta đáp rằng: Do Tý thủy hóa thành Tử Tôn Mão mộc, hào Thế lại lâm Tử Tôn Dần mộc, hóa Tử Tôn Mão mộc, hôm sau lại là ngày Mão, đúng là lúc cả nhà giải tỏa được ưu phiền, bởi vậy nên mới đoán là bệnh thuyên giảm vào giờ Tý thực Không. Quả nhiên đến giờ Tý, bệnh không còn nguy kịch, đến hôm sau đã dậy được. Như vậy đâu phải dùng thuốc để chế ngự Quỷ. Ta sẽ lấy lại ví dụ về trường hợp trên thuyền xem gió, để thấy rõ hơn rằng, Tử Tôn chính là thần giải tỏa ưu phiền.
Có lần qua hồ Động Đình gặp gió chướng, có người đồng hành họ Chương xem ngày nào sẽ gặp gió thuận, xem vào ngày Tân Sửu tháng Mão, được quẻ Bác biến Quan:


Người này đem quẻ đến hỏi ta rằng: "Nếu hỏi về gió, mây, cần dựa vào Huynh Đệ. Sách xưa lại nói: Mộc động sinh gió, trong quẻ hào Dần mộc không động, nhưng may được vượng tướng, hào Huynh kim phục dưới hào Thế. Đến giờ Thân hôm nay, Phục thần xuất hiện mà xung động Dần mộc, chắc sẽ có gió thuận. Nếu không đến ngày mai là ngày Dần, xung khai hào Huynh Thân kim, chắc chắn sẽ có gió để xuôi thuyền."
Ta cười mà rằng: "Lúc này đang mưa to gió lớn, sao lại cho là không có gió?" Người này bèn đáp: "Nhưng tôi xem về gió thuận!" Ta bèn nói: "Cách suy đoán này khác gì gãi ngứa ngoài giày. Nếu là xem về thời tiết nắng hay hạn, mới lấy hào mộc hào Huynh làm tượng gió, mây. Nay đã lên thuyền, làm sao có thể áp dụng cách thức đó? Chúng ta vì gặp gió ngược mà phải dừng ở đây, lại lo sóng gió gây nguy hiểm, đêm sợ giặc cướp tấn công, mưa gió lạnh lùng, lòng như lửa đốt, nên chỉ có hào Tử Tôn mới giải trừ được nỗi lo lắng của ta. Trong quẻ này, Tử Tôn trì Thế mà hóa Không, là tượng mưa gió triền miên, đợi đến ngày xuất Không mới tạnh. Đến ngày Tử Tôn xuất Không, nỗi ưu phiền của ta sẽ được giải tỏa, thuyền có thể lên đường." Quả nhiên đến ngày Ất Tị trời tạnh ráo, gió yên sóng lặng, nhưng không có gió thuận.
Hôm sau nữa là ngày Bính Ngọ, gió thuận nổi cả ngày, vượt hồ thuận lợi, gió thuận nước xuôi, mọi người cùng vui vẻ, chẳng phải là nhờ vào Tử Tôn giải tỏa ưu phiền hay sao. Người này bèn nói rằng: "Các sách bốc dịch đều không có nói đền điều này, đây chắc chắn là bí truyền, nếu không thì sao được thần kỳ như thế." Ta bèn nói rằng: "Xưa kia ta cũng dựa vào hào mộc hào Huynh để đoán gió, nhưng thử nhiều lần không thấy ứng nghiệm, sau thấy đến ngày trực của Tử Tôn có gió thuận để lái thuyền, mới dần ngộ ra được cái lý này."
Người này lại hỏi: "Hào Tử Tôn Tý thủy hóa thành Tị hỏa lâm Không, lẽ ra đến ngày Tị thuyền sẽ đi được, sao lại phải đợi đến ngày Bính Ngọ mới có gió thuận?" Ta bèn đáp: "Quẻ này xem vào ngày Sửu, nên hào Tý thủy đến ngày Tị tuy được xuất Không, nhưng lại bị Nhật thần hợp mất, cần phải đợi ngày Bính Ngọ xung khai, mới có gió thuận."
Hào Tử Tôn này cũng tương tự như phép xem tật bệnh, lấy hào Tử Tôn làm thần hóa giải ưu phiền, cái lý ở đây cũng giống như vậy.
Lại có một ngày, mới đầu canh một, có người gõ cửa nói rằng: "Cậu chủ nhà tôi có bệnh, xin mời thầy đến xem giúp một quẻ." Ta hỏi xem mắc bệnh bao giờ? Đáp rằng từ Sơn Đông trở về liền mắc bệnh. Ta liền tự xem một quẻ, lúc đó ngày Nhâm Tý tháng Mùi, được quẻ Tiết biến Tỷ:


Hào Tài Tị hỏa trì Thế, được hào Tử Tôn động tương sinh, Tử Tôn là thần may mắn, nên đi sẽ có ích. Khi đến nhà người này, gặp lúc thầy lang đang bốc thuốc.
Ngày Nhâm Tý, cha xem về bệnh của con, được quẻ Giải biến Khảm:


Ta nhìn quẻ này thì sinh nghi, bệnh gần gặp quẻ Lục xung, sẽ không đến nỗi chết. Nhưng Tử Tôn lại biến Quỷ, lại chủ về ốm chết, nên không dám đoán ngay, mà lại bảo người thân xem lại. Chú xem về bệnh của cháu, được quẻ Khôn:

Lại gặp quẻ Lục xung, nên biết rằng bệnh này không thể chết được. Bèn hỏi xem trước đây có mắc bệnh gì không, người nhà bèn đáp rằng: Chưa hề mang bệnh. Suốt trên đường từ Sơn Đông về cũng không ốm đau gì. Đột nhiên đến chiều tối, lăn lộn khắp giường, cấm khẩu không nói được. Ta bèn nói: Nếu không phải là tái phát bệnh cũ, ta bảo đảm sẽ nhanh chóng khỏi bệnh.
Lại mời thầy lang xem quẻ, được Tỉnh biến Minh Di:


Hào Ứng chỉ bệnh nhân, hào Thế khắc hào Ứng, thì không đáng ngại, vì là khắc chế bệnh của bệnh nhân. Nhưng hiềm vì hào Ứng hóa hồi đầu khắc, nên chắc chắn là do dùng nhầm thuốc.
Ta bèn hỏi chủ nhà rằng: "Đã uống thuốc chưa?" Đáp rằng: "Chưa nấu xong." Ta lại hỏi thầy lang rằng: "Người này mắc bệnh gì, đã kê những vị thuốc gì?" Thầy lang bèn đáp: "Vào ngày Tam phục, do trên đường đi trúng nắng, nên chỉ khai đơn thuốc mát giải nhiệt." Ta bèn nói riêng với chủ nhà rằng: "Con trai ông đáng ra không chết, nhưng lại gặp quẻ phải chết, e rằng do thuốc không đúng bệnh, nên mời thầy thuốc xem lại."
Thầy lang nói, bệnh nhân liên tục lăn lộn, không bắt được mạch. Bèn hỏi gia nhân xem tình hình đi đường ra sao, người nhà bèn đáp: "Đến nhà thấy quá nóng nực, bèn chuyển giường ra chỗ đón gió tại hành lang, đặt hai tảng đá lạnh lớn ở phía dưới giường, sai nữ tì đến quạt, một chốc đã ngủ say. Bỗng dưng lăn lộn kêu lên mấy tiếng, rồi cấm khẩu không nói được."
Như vậy, người đang nóng bức mà nằm trên đá lạnh, đón gió, lại bảo nữ tì đứng quạt, nguyên nhân mắc bệnh vì đâu đã rõ. Thầy thuốc bèn nói: "Lúc tôi đến xem bệnh, đã dìu người bệnh vào trong phòng, nên không biết chuyện này, nếu thế thì không thể uống thuốc giải nhiệt được." Ta bèn nói: "Dùng phụ tử, nhục quế có thể chữa được", rồi bảo người cha xem một quẻ.
Xem Thuốc: Phụ Tử, Nhân Sâm, Ngưu Hoàng Dùng Được Hay Không
Chẩn đoán xong xuôi, câu hỏi khó nhất lại là đưa thang thuốc nào vào miệng người bệnh.
Ngày Nhâm Tý, xem dùng phụ tử có được không, được quẻ Đại Hữu biến Đại Súc:


Hào Tử Tôn lâm Nhật thần, được hào Huynh Dậu kim động mà tương sinh, nên đây là phương thuốc hữu hiệu, sẽ lập tức chữa khỏi bệnh. Thầy thuốc thử dùng nước gừng khô đổ cho, một lúc thì nói được, bảo rằng bụng đau kịch liệt. Ta bèn bảo: Mau cho uống thuốc. Thầy thuốc bèn chữa trị, gia giảm một đêm, đến sáng hôm sau thì khỏi hẳn. Người này không chết được, vì trước khi ta đến, đã xem được quẻ Tử Tôn phát động, về sau xem liền mấy quẻ, tổng hợp lại để suy đoán, mới dám dùng thuốc cực nhiệt, để cải tử hoàn sinh. Nếu không, cho bệnh nhân uống đơn thuốc giải nhiệt, đã hàn lại thêm hàn, sao có thể sống được.
Giác Tử bàn rằng: Quẻ này hào Huynh Dậu kim động mà sinh Tử Tôn, nên uống phương thuốc nhiệt đó sẽ khỏi bệnh. Nếu áp dụng phương pháp trong sách xưa mà xem quẻ này, ắt sẽ lấy hào Huynh Dậu kim là thuốc.
Phàm là xem về thuốc, cũng có các nguyên lý khác nhau. Có khi là thầy thuốc thấy chứng bệnh hiểm nghèo, đã khai đơn thuốc cứu chữa, nhưng e rằng có chút sơ sảy sẽ gây hậu quả lớn, khi đó nếu gieo quẻ mà được hào Tử Tôn phát động, là điềm may mắn, nên đó chính là phương thuốc hữu hiệu. Có khi mắc bệnh trên sông biển, hoặc đường xa vắng vẻ, không tìm được thầy thuốc, chỉ biết áp dụng các bài thuốc dân gian, hoặc sử dụng những phương thuốc sẵn có mang theo, không biết có đúng không, nên chỉ có cách gieo quẻ xem thử. Xem về thuốc đều lấy Tử Tôn làm Dụng thần, nếu được Tử Tôn trì Thế, Tử Tôn phát động, uống thuốc đó sẽ có tác dụng. Khi xem quẻ, hào Tử Tôn bất kể là kim, mộc, thủy, hỏa, thổ, chỉ cần vượng hoặc động, đều là thần hoan hỷ. Dùng thuốc có tác dụng, mới có thể vui mừng, giải tỏa ưu phiền được. Tuyệt đối không nên sử dụng phương pháp Tử Tôn thuộc kim thì dùng châm cứu, Tử Tôn thuộc hỏa thì đốt ngải, như vậy là hết sức sai lầm.
Một hôm, vào phủ quan, các môn khách bảo với ta rằng: Cụ ông tối qua đột ngột ngã trong vườn hoa, khi vực dậy thì miệng lảm nhảm không ngớt, đến bây giờ vẫn bất tĩnh nhân sự. Trong đám thầy thuốc, có người bảo uống nhân sâm sẽ tỉnh, có người lại nói uống nhân sâm sinh dòm sẽ khó điều trị. Ta bèn bảo rằng, hãy xem một quẻ xem nhân sâm có dùng được hay không.
Ngày Đinh Mão tháng Dần, con xem bệnh của cha có dùng nhân sâm được không, được quẻ Tụy biến Bĩ:


Xem về nhân sâm, phải lấy hào Tử Tôn làm Dụng thần. Nếu không biết thông biến, thấy trong quẻ hào Phụ động khắc Tử Tôn, sẽ suy đoán rằng không được dùng nhân sâm. Nhưng ta không đoán theo cách đó. Con xem về bệnh của cha, lấy hào Phụ làm Dụng thần, Phụ Mùi động hóa thành Phụ Tuất, Phụ Tuất gặp Tuần Không, thì nhân sâm không nên dùng, các loại thuốc khác đều không nên uống. Đến giờ Thìn hôm sau, xung Không sẽ khỏi bệnh. Quả nhiên đến gà gáy hôm sau thì tỉnh, hôm sau không uống thuốc cũng khỏi.
Lại có một hôm, đang ngồi cùng nhau, bỗng nhiên cụ chủ nhà miệng méo mắt lệch, đờm dãi chảy liên tục. Ta cũng ở đó, con trai ông cụ bèn hỏi: Trong nhà có ngưu hoàng, liệu có cho uống được không? Ta bèn bảo cậu ta gieo quẻ.
Ngày Tân Dậu tháng Hợi, con xem bệnh của cha có dùng ngưu hoàng được không, được quẻ Quải:

Ta bèn bảo rằng: "Cho uống thuốc này, sẽ lập tức khỏi bệnh". Bèn cho uống, quả nhiên ông cụ tỉnh lại. Ấy là do hào Tử Tôn trì Thế.
Trong quẻ trước, hào Phụ phát động, thần mách bảo thiên cơ ở hào động, nên dùng hào Phụ Mẫu để suy đoán. Trong quẻ này hào Tử Tôn trì Thế, gặp Nhật thần, Tử Tôn là thần hoan hỷ, do bệnh của cha khỏi nên mới được vui vẻ. Không có quẻ nào không linh nghiệm, đều dựa vào sự biến thông của con người.
Lại ví dụ: Ngày Quý Mão tháng Thân, do mắc bệnh giang mai, xem có chữa khỏi hay không, được quẻ Lý biến Bĩ:


Đoán rằng: Thầy thuốc này không nên mời, tuy là Tử Tôn trì Thế, hào Ứng chỉ thầy thuốc, nhưng hiềm vì hào Thế Thân kim bị hào sơ Tị hỏa khắc, lại thêm hào động Mão mộc sinh hỏa, nên hào Thế tuy vượng, đến ngày Tị chắc chắn sẽ ốm nặng hơn. Nhưng người nhà không nghe, vẫn mời thầy thuốc đấy đến chữa bệnh, uống thuốc trong hai ngày Mão, Thìn, bệnh tình vẫn bình thường, đến ngày Tị bỗng nhiên biến chứng, khắp người đau đớn khó chịu. Người bệnh hoảng hốt hỏi ta rằng: "Liệu có nguy đến tính mạng hay không?" Ta đáp: "Hào Thế gặp Nguyệt kiến, nên không tổn hại đến tính mạng. Mau uống thuốc giải, qua ngày Tị ngày Ngọ, sẽ hết đau." Người này bèn tìm thuốc giải uống, đến ngày Thân, thì khoẻ mạnh như thường.
Tử Tôn Trì Thế Chưa Chắc Đã Yên: Lời Bàn Của Các Nhà Bình Thích
Một câu quyết tưởng đã chắc nịch vẫn còn chỗ phải dè chừng.
Dã Hạc bàn rằng: Các phép trên đều nói rằng, Tử Tôn trì Thế thì bệnh sẽ khỏi, nhưng cũng cần có tiền đề là Tử Tôn không bị khắc, nên người học đợi sau cần hết sức chú ý.
Lý Ngã Bình bàn rằng: Trong phần này, thì hào Quan Quỷ là thần ưu phiền, hào Tử Tôn là thần hoan hỷ, có thể hóa giải phiền muộn. Tuy đây là phép xem quẻ đời xưa, nhưng cũng có thể sử dụng. Nếu không hợp với linh cơ của quỷ thần, thì không thể tưởng tượng ra được. Nhưng cũng có thuyết không cho rằng Quan Quỷ là thần ưu phiền, mà hoàn toàn căn cứ vào ý niệm của người đến xem. Nếu muốn hỏi xem bệnh lành hay dữ, mà gặp hào Quan Quỷ trì Thế, hoặc hào Quỷ động trong quẻ, đều tượng trưng cho sự ưu phiền. Nếu gặp hào Tử Tôn trì Thế, Tử Tôn phát động, tức gặp thần hoan hỷ, hóa giải phiền muộn. Nếu người đến xem hỏi xem mắc bệnh là phạm phải quỷ thần nào, mà trong quẻ xuất hiện Quỷ thuộc kim, là phạm phải thần võ; Quỷ thuộc thủy, là phạm phải thần sông... Nếu hỏi xem căn nguyên gây bệnh, mà gặp Quỷ thuộc hỏa, tức bệnh tại tâm kinh; Quỷ thuộc thủy, tức bệnh tại phần thận... Nếu Tử Tôn vượng mà động, bệnh không cần thuốc cũng khỏi, chứ không phải dạy người ta coi hào Tử Tôn làm thuốc trị bệnh, như Tử Tôn thuộc kim thì dùng châm cứu, Tử Tôn thuộc hỏa thì dùng đốt ngải... Nói như vậy là không hiểu rằng, nếu Tử Tôn vượng, bệnh sẽ tự khỏi, đâu cần phải dùng đến châm cứu. Nếu Tử Tôn gặp Tuần Không, Nguyệt phá, thì dùng châm cứu cũng có ích gì.
Các sách đều viết rằng: Quỷ thuộc thổ kỵ nhiệt, Quỷ thuộc thủy kỵ hàn. Quỷ thuộc thủy nếu gặp sinh vượng, cần dùng phương thuốc đại nhiệt để chữa trị; Quỷ thuộc hỏa vượng cần dùng phương thuốc đại hàn, không biết quan niệm của họ là như thế nào. Nếu như Dụng thần thuộc thổ, hoặc con xem về bệnh của cha, mà hào Phụ tại thổ, nếu trong quẻ có hào Quỷ hỏa phát động, thì lại là Nguyên thần sinh ra Dụng thần, làm sao lại có thể dùng phương thuốc đại hàn để điều trị Nguyên thần? Lại như vợ xem bệnh của chồng, lấy hào Quan Quỷ làm Dụng thần, nếu như Quỷ tại hào thủy, làm sao có thể dùng phương thuốc đại nhiệt để tấn công Dụng thần của chồng? Ta thấy nhiều vùng thôn quê hẻo lánh, không có thầy thuốc, chỉ nói rằng "Kinh Dịch" là sách vở của thánh hiền, tuân theo sẽ có ứng nghiệm. Kiểu xem thuốc đại hàn đại nhiệt như vậy, không biết đã chôn vùi biết bao nhiêu sinh mệnh. Lời nói đúng chỗ chính yếu, khi cuốn sách này xuất hiện, người ta không còn dám sử dụng khinh suất thuốc hàn thuốc nhiệt, từ đó dưới suối vàng không còn quỷ chết oan nữa.
Nguồn: Tăng San Bốc Dịch – Dã Hạc lão nhân (Vương Hồng Ứng bình thích)
