Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tăng San Bốc Dịch

Bài tổng quan

Người Đi Xa, Đề Phòng Kiện Tụng, Cạnh Tranh Và Án Trọng Tội

Bói Dịch - Tăng San Bốc Dịch20/09/202616 phút đọc3 lượt đọc
Người Đi Xa, Đề Phòng Kiện Tụng, Cạnh Tranh Và Án Trọng Tội

Một nô bộc gieo quẻ hỏi chủ nhân đi Hồ Bắc có bình yên, hào Phụ Mẫu gặp Chân Không, Dã Hạc lão nhân không dám đoán. Người em gieo quẻ hỏi anh, hào Huynh Đệ cũng Chân Không. Đến quẻ thứ ba mọi người mới yên tâm: thần linh hai lần mách bảo chuyện không ai hỏi, mãi lần sau cùng mới chịu hiển thị việc đang hỏi. Tăng San Bốc Dịch dành trọn một chương cho người đi xa, từ ngày về, tin dữ dọc đường cho tới ngọn gió thuận trên sông nước, rồi chuyển sang chốn công đường: đề phòng kiện tụng, tranh chấp thắng thua, đâm đơn khởi kiện và cả án trọng tội đã giải ra pháp trường. Vì sao phải gieo tới ba quẻ thần linh mới chịu nói thật?


Người Đi Xa: Dụng Thần Định Ngày Về Và Sự Bình Yên Dọc Đường

Xem người đi xa bao giờ trở về, có chia làm xa gần. Nếu xa thì ứng vào tháng, nếu gần thì ứng vào ngày. Cũng có trường hợp đi xa lâu ngày mà sắp trở về, cũng có thể ứng vào ngày.

Nếu muốn xem người đi xa có được bình yên hay không, cần xem thêm một quẻ khác, không thể dùng một quẻ để xem chung.

Nếu hào Thế khắc Dụng thần, thì người đi xa chưa lên đường trở về. Nếu Dụng thần khắc hào Thế, chắc chắn sẽ quay về.

Xem về người thân, cần xem kỹ phép chọn Dụng thần. Xem về người ngoài, lấy hào Ứng làm Dụng thần. Nếu hào Thế khắc Dụng thần, là người đi chưa có ý quay về. Nếu Dụng thần khắc hào Thế, thì người đi xa sắp về đến nơi. Ta xem thử nhiều lần, đều thấy ứng nghiệm.

Mộ Tuyệt Không Phá, ngày về còn xa; minh động ám động, ý về đã định.

Dụng thần phục tàng, đợi ngày xuất hiện; Dụng thần phát động, đợi ngày gặp hợp.

Động hóa Tiến thần, ý chưa muốn về; Dụng thần hóa Thoái, ngày về đã định.

Động gặp hợp, sẽ gặp cản trở; động hóa Quỷ, gặp họa bên ngoài.

Kỵ nhất là động hóa hồi đầu khắc; cũng nên phòng quẻ hóa thành Phản ngâm.

Hào Thế Không, là người đi sắp về đến nơi. Dụng thần tĩnh mà gặp hưu tù, Không, Phá, tức người đi chưa có ý quay về. Dụng thần động mà Không, vượng mà Không, đến ngày hoặc tháng thực Không, xung Không sẽ trở về. Kỵ nhất là quẻ biến Khắc, biến Tuyệt, hoặc gặp quẻ Phản ngâm, hoặc Dụng thần bị xung bị khắc, thì người đi xa khó mong có ngày về.

Dụng thần gặp Tam hợp cục, đợi ngày xung khai sẽ về đến nơi.

Gặp quẻ Lục xung, người đi xa vẫn còn vô định, mà không trở về.

Dụng thần tĩnh, đợi ngày xung động sẽ về đến nơi.

Dụng thần nhập Mộ, đợi đến ngày xung khai Mộ sẽ về đến nơi.

Dụng thần không có bệnh, sẽ đoán được ngày về. Dụng thần có bệnh, người đi xa không được bình yên.

Dã Hạc bàn rằng: Nếu Dụng thần Mộ, Tuyệt, Không, Phá, bị tổn thương, gọi là có bệnh. Nếu hỏi xem người đi xa có được bình yên không, cần xem Dụng thần có bệnh hay không; nếu hỏi người đi xa bao giờ trở về, cần phải xem tượng quẻ có hiện ngày hay không để suy đoán.

Những Quẻ Thực Chiêm Về Ngày Về Của Người Đi Xa

Lý lẽ đã rõ, chỉ còn cách đem soi vào từng quẻ cụ thể.

Ví dụ: Vào ngày Mậu Thân tháng Dậu, xem mẹ ở ngoài bao giờ sẽ trở về, được quẻ Lữ biến Cấn:

Quẻ Hỏa Sơn Lữ
Quẻ biến Cấn Vi Sơn

Nếu dùng quẻ này để xem cha mẹ ở bên ngoài có được bình an không, thì hào Phụ Mẫu Mão mộc bị Nhật thần Thân kim, Nguyệt kiến Dậu kim và hào động Dậu kim xung khắc, nên chủ về không bình yên. Nhưng vì người xem hỏi về ngày về của mẹ, nên không đoán như vậy, mà đoán rằng: Dụng thần phục tàng, lại bị khắc, nên mẹ không về. Lại là quẻ Lục hợp biến Lục xung, cũng là tượng không trở về. Sau quả nhiên mẹ không quay về nhà, nhưng vẫn được bình yên.

Lại ví dụ: Ngày Giáp Tý tháng Hợi, xem nô bộc bao giờ trở về, được quẻ Cách biến Quải:

Quẻ Trạch Hỏa Cách
Quẻ biến Trạch Thiên Quải

Nếu dùng quẻ này để đoán xem nô bộc ở bên ngoài có được bình an không, thì hào Tài hỏa phục tàng lại bị Nhật thần Tý thủy Nguyệt kiến Hợi thủy tương khắc, chủ về người này gặp nguy hiểm không thể quay về. Nhưng người xem hỏi về ngày trở về, nên không đoán như vậy. Hào Thế lâm Không tức là người này sắp trở về, đến ngày Kỷ Tị sẽ đến nơi. Ứng vào ngày Tị, vì là ngày xung Không. Tị hỏa lại là hào Tài. Quả nhiên nô bộc về đến nhà vào ngày Tị.

Ví dụ: Ngày Mậu Tuất tháng Mùi, xem người bác bao giờ về nhà, được quẻ Truân biến Tùy:

Quẻ Thủy Lôi Truân
Quẻ biến Trạch Lôi Tùy

Hào Phụ Mẫu làm Dụng thần, khắc hào Thế, nên chủ về sắp đến nơi, đến tháng bảy sẽ về đến nhà. Sau đến tháng Hợi mới về đến nơi. Ứng vào tháng Hợi, là vì ứng với hào biến Hợi thủy hóa ra từ hào Phụ Mẫu.

Ví dụ: Ngày Canh Ngọ tháng Sửu, xem cha đi xa bao giờ trở về, được quẻ Lý:

Quẻ Thiên Trạch Lý

Đoán rằng: Nhật thần là Ngọ hỏa, lâm Phụ Mẫu khắc Thế, nên trong ngày sẽ về đến nơi. Quả nhiên đến giờ Thân trong ngày về đến nhà.

Ví dụ: Ngày Quý Hợi tháng Dần, xem chủ nhân bao giờ trở về, được quẻ Đại Súc biến Tiểu Súc:

Quẻ Sơn Thiên Đại Súc
Quẻ biến Phong Thiên Tiểu Súc

Đoán rằng: Hào Tài Tý thủy, hóa thành Phụ Mẫu Tị hỏa, hào động không khắc được hào biến, nên đến ngày Tị sẽ về đến nơi. Quả nhiên đến ngày Tị về đến nhà.

Lại ví dụ: Ngày Đinh Sửu tháng Mùi, cha bao giờ về, được Đại Hữu biến Tỉnh:

Quẻ Hỏa Thiên Đại Hữu
Quẻ biến Thủy Phong Tỉnh

Lúc này là năm Thìn. Đoán rằng: Hào sơ Phụ Mẫu Sửu thổ tương hợp với Tý thủy, nên cha không trở về. Hào 5 Phụ Mẫu Mùi thổ biến Tiến thần, cũng chủ về không trở về. Người này bèn hỏi: "Vậy rốt cục cha tôi có trở về hay không?" Ta đáp: "Đến năm Ngọ sẽ về". Quả nhiên đến tháng Tuất năm Ngọ, người cha trở về. Sở dĩ ứng vào năm Ngọ, là vì hào Phụ Mùi thổ động, nên ứng vào năm hợp là năm Ngọ. Lại vì hào sơ Tử Tôn hợp với Phụ Sửu, nên cũng phải đợi đến năm Ngọ xung khai mới về được.

Lại ví dụ: Ngày Canh Dần tháng Dần, xem chủ nhân đi xuống vùng Hồ Bắc có được bình yên không, có đi sang tỉnh khác nữa không, được quẻ Quan:

Quẻ Phong Địa Quán

Hào Phụ Mẫu gặp Không, nên là điềm không may, nên ta không dám đoán. Lại nhờ người thân của chủ nhân gieo quẻ. Cùng ngày, em trai xem cho anh trai, được quẻ Trung Phu biến Lâm:

Quẻ Phong Trạch Trung Phu
Quẻ biến Địa Trạch Lâm

Quẻ trước là nô bộc xem cho chủ nhân, thì lấy hào Phụ Mẫu làm Dụng thần, Phụ Mẫu Chân Không. Quẻ này em xem cho anh, nên lấy hào Huynh Đệ làm Dụng thần, cũng gặp Chân Không, nên vẫn là điềm đại hung. Lại bảo người nhà xem tiếp, đến hôm sau ngày Tân Mão, nô bộc lại xem, được quẻ Khảm biến Khốn:

Quẻ Khảm Vi Thủy
Quẻ biến Trạch Thủy Khốn

Đoán rằng: Được quẻ này thì mọi người có thể yên tâm được rồi. Bởi vì hai quẻ trước, Dụng thần đều gặp Chân Không, là điềm hung vong. Nay được quẻ này, hào Phụ Mẫu Thân kim sinh Thế, đến tháng tư sẽ trở về. Người xem bèn hỏi: Vậy hai quẻ trước Phụ, Huynh Không Vong đều không chuẩn hay sao? Ta bèn nói rằng: Sao lại không chuẩn? Đó là vì chủ nhân của ngươi tuổi thọ không còn nhiều, nên thần linh mách bảo rằng sang năm Mùi sẽ chết, mà không báo chuyện trước mắt. Sở dĩ ứng vào năm Mùi, vì tại quẻ thứ nhất Phụ Mẫu tại Mùi thổ; tại quẻ thứ hai, Huynh Đệ cũng tại Mùi thổ, đều bị Nhật thần, Nguyệt kiến tương khắc. Do hai hào này gặp Tuần Không, nên trước mắt không gặp phải tai họa. Đến năm Mùi xuất Không, bị Nhật, Nguyệt thương khắc, nên chắc chắn sẽ gặp nguy hiểm. Xem vào năm Thìn, quả nhiên đến năm Mùi thì qua đời.

Dã Hạc bàn rằng: Xem liền hai quẻ, thần linh đều mách bảo về chuyện không hỏi. Đến quẻ thứ ba, mới hiển thị sự việc đang hỏi. Nên quy định chỉ dùng một quẻ để đoán cát hung của các hiền nhân thời trước thật đáng cười, không biết được rằng có những quẻ xem gần ứng xa, lại có quẻ xem xa ứng gần, nên thường xuyên đoán sai. Lại không biết tỉnh ngộ, mà dùng lời lẽ biện luận khiên cưỡng, vẫn lưu lại làm quy tắc cho người đời sau.

Ví dụ: Ngày Giáp Tý tháng Hợi, vợ xem chồng ở bên ngoài có phải đi sang tỉnh khác hay không, được quẻ Đại Tráng biến Đại Quá:

Quẻ Lôi Thiên Đại Tráng
Quẻ biến Trạch Phong Đại Quá

Đoán rằng, vợ xem về chồng, lấy hào Quan làm Dụng thần, bị hào động Thân kim tương khắc. Hào Quan Dần mộc tượng trưng cho chồng bị khắc, nên người chồng sẽ không đi sang nơi khác, mà sẽ nhanh chóng quay về. Người xem bèn hỏi: "Ngày nào sẽ về đến nơi?" Ta đáp rằng: "Đến ngày Tị sẽ đến nơi, vì Tị sẽ hợp lấy Thân kim." Quả nhiên đến ngày Tị, người chồng quay về.

Có người cho rằng: "Hào Dụng có bệnh, đừng hỏi ngày về. Quẻ này Thân kim hóa Tiến thần, lại khắc Dần mộc, làm sao vẫn đoán là người chồng quay về?" Ta bèn đáp: Nếu người vợ hỏi chồng có bình yên không, với tượng quẻ như thế chắc chắn sẽ bất lợi. Nhưng chị ta lại hỏi rằng chồng có đi nơi khác không, thì hào Quan bị khắc chế là chỉ không đi nơi khác. Nên khi đoán quẻ, phải căn cứ vào tình hình cụ thể để suy đoán.

Ví dụ: Ngày Bính Thân tháng Thìn, xem sai nô bộc đi lấy thư, có lấy được không? Ngày nào sẽ trở về? Được quẻ Tiệm biến Bác:

Quẻ Phong Sơn Tiệm
Quẻ biến Sơn Địa Bác

Đoán rằng: Thư không lấy được, nô bộc giờ Dậu hôm nay sẽ về đến nơi. Bởi vì hào Phụ Mẫu Tị hỏa chủ về văn thư động hóa hồi đầu khắc, nên văn thư không lấy được. Hào Tử Tôn Thân kim trì Thế hóa Quỷ Mão mộc, chủ về người không về, sẽ có tai ương. Nhưng giờ Dậu hôm nay xung mất Mão mộc, sẽ không đáng lo nữa. Quả nhiên đến giờ Dậu nô bộc trở về bẩm báo không lấy được thư.

Ví dụ: Ngày Quý Dậu tháng Dậu, xem anh trai ngày nào về, được Sư biến Lâm:

Quẻ Địa Thủy Sư
Quẻ biến Địa Trạch Lâm

Đoán rằng: Hào Huynh Đệ Hợi thủy, vượng tướng mà gặp Tuần Không, đợi ngày xuất Không sẽ về đến nơi. Người xem bèn nói: "Ngày kia là ngày Hợi. Nhà đã nhận được thư, có lẽ trong ngày hôm nay khởi hành, hơn hai nghìn dặm đường, ba ngày làm sao mà về đến được." Ta đáp: "Không chỉ có một mình ngày Hợi là xuất Không, nếu trong quẻ có Tử Tôn trì Thế, Tử Tôn động mà sinh hợp hào Thế, đều là hỷ thần. Đoán là ngày Hợi trở về, Dần hợp với Hợi, Hợi lại là ngày hợp với Tử Tôn, nên vẫn đoán là ngày Hợi sẽ trở về." Không ngờ người anh đi bằng đường thủy, gặp lúc thuận gió, thuyền đi liên tục ngày đêm, đến ngày Hợi đã về đến nhà.

Xem Gió Thuận Gió Ngược Khi Đi Thuyền: Hào Tử Tôn Là Gió Lành

Trên sông nước, ngày về lại treo vào một thứ vô hình mà định đoạt tất cả.

Giác Tử bàn rằng: Nếu xem về gió, thì hào Huynh động là tượng trưng cho gió, mộc động sẽ sinh gió, nhưng nếu đi thuyền mà xem về gió, phải xem hào Tử Tôn, nguyên nhân là vì đâu? Thuyền không thể đi ngược gió, nên trong lòng sẽ lo lắng. Đến ngày Tử Tôn phát động, sẽ được thuận gió, thuyền lướt như bay, không còn lo lắng nữa. Đây cũng là điều mà các sách xưa không thấy nói đến.

Ví dụ: Vào ngày Bính Tuất tháng Tuất, lên thuyền đi khỏi Giang Tây, xem trên đường có được bình an không, được quẻ Cổ biến Tốn:

Quẻ Sơn Phong Cổ
Quẻ biến Tốn Vi Phong

Ta ngờ rằng hào Quỷ Dậu kim trì Thế, là điềm lo lắng bất an, lúc ấy ta chưa biết đến việc xem ngược gió, thuận gió. Đến ngày Mậu Tý, mưa to gió lớn nổi lên, thuyền phải đỗ lại Nam Khang, lúc này mới ngộ ra cái lẽ đó: Hào Phụ Tý thủy động, là điềm ngày Tý có mưa gió. Lại hóa ra hào Tử Tôn Tị hỏa, biết rằng đến ngày Tị mới tạnh. Tránh gió suốt năm ngày, đến ngày Tị tạnh ráo, mới có gió thuận.

Từ đó ta mới ngộ ra rằng, hào Tử Tôn là chủ về gió thuận khi đi thuyền.

Ví dụ: Ngày Giáp Tuất tháng Thìn, đi thuyền, xem về gió thuận, được quẻ Thăng biến Hằng:

Quẻ Địa Phong Thăng
Quẻ biến Lôi Phong Hằng

Hào Ngọ hỏa Tử Tôn hồi đầu sinh Thế, đến giờ Ngọ trong ngày sẽ có gió thuận. Nhưng hiềm vì Tử Tôn Ngọ hỏa nhập Mộ tại Nhật thần Tuất, nên gió không được lâu. Quả nhiên đến giờ Ngọ, Tử Tôn đương lệnh, thuận gió xuôi thuyền, nhưng đến giờ Mùi thì gió lặng.

Lại ví dụ: Ngày Ất Hợi, sai thuyền phu gieo quẻ xem gió, được quẻ Phong biến Đại Tráng:

Quẻ Lôi Hỏa Phong
Quẻ biến Lôi Thiên Đại Tráng

Đoán rằng: Hào biến Tử Tôn Dần mộc khắc chế hào Quỷ Sửu thổ, đến ngày Dần sẽ có gió thuận. Quả nhiên đỗ thuyền ba ngày, đến ngày Mậu Dần, có gió thuận mà thuyền khởi hành.

Ví dụ: Ngày Quý Hợi tháng Hợi, xem về gió, được quẻ Vị Tế biến Cấn:

Quẻ Hỏa Thủy Vị Tế
Quẻ biến Cấn Vi Sơn

Có một ông cụ người Dương Châu, đi thuyền từ Hoài Nam về Dương Châu, ta đi cùng. Ông cụ vừa lên thuyền đã xem về gió, ta nói: "Giờ Thìn ngày mai sẽ có gió thuận, đến giờ Tuất sẽ đến nơi cụ cần đến." Ông cụ bèn hỏi: "Sao nhanh thế?" Ta đáp: "Hào 2 Tử Tôn Thìn thổ động, nên sẽ gặp gió thuận. Hào 4 Dậu kim hóa Tử Tôn Tuất thổ, là điềm về đến nhà." Quả nhiên đến giờ Thìn hôm sau nổi gió thuận, đi một mạch hơn ba trăm dặm, giờ Tuất đến nơi.

Ví dụ: Ngày Mậu Tý tháng Tuất, đang ở trên thuyền xem về gió, được quẻ Khôn biến Chấn:

Quẻ Khôn Vi Địa
Quẻ biến Chấn Vi Lôi

Hào Tử Tôn Dậu kim trì Thế, vì tĩnh nên đợi đến ngày xung, tức ngày Mão, sẽ có gió thuận.

Vào ngày Kỷ Sửu lại xem, được quẻ Quải:

Quẻ Trạch Thiên Quải

Vẫn là Tử Tôn Dậu kim trì Thế. Sau quả nhiên vào ngày Mão có gió thuận. Ngày Nhâm Thìn, xem về gió, được quẻ Đại Súc biến Thái:

Quẻ Sơn Thiên Đại Súc
Quẻ biến Địa Thiên Thái

Hào thượng Quỷ Dần mộc, hóa thành Tử Tôn Dậu kim, đến giờ Dậu ngày hôm sau sẽ có gió.

Ngày Quý Tị, lại xem về gió, được quẻ Cấu biến Tiểu Súc:

Quẻ Thiên Phong Cấu
Quẻ biến Phong Thiên Tiểu Súc

Có người hỏi rằng: Hôm qua xem, nói rằng giờ Dậu hôm nay có gió, sao trong quẻ này không hiện. Ta đáp: Lòng ta đã biết rõ, nên thần không báo nữa. Giờ Dậu ngày nay vẫn có gió, nhưng gió không lớn, nên thần báo về gió lớn của ngày hôm sau. Hào Tử Tôn Tý thủy tương hợp với hào Thế Sửu thổ, gặp hợp phải đợi ngày xung phá mới ứng nghiệm, đến giờ Ngọ hôm sau xung khai, sẽ có gió thuận. Quả nhiên hôm sau nổi gió lớn, thuyền đi ba trăm dặm.

Đề Phòng Kiện Tụng: Quan Không Phá Là Mừng, Tử Tôn Trì Thế Là Yên

Người về được đến nhà rồi, tai vạ lại chực chờ ngay trước cổng công đường.

Nếu lo lắng vì bị kiện tụng mà gieo quẻ, tốt nhất là gặp hào Quan Không, Phá. Tử Tôn động là tốt, nếu Tử Tôn trì Thế, sẽ tránh được kiện tụng.

Quan Quỷ, Chu Tước cùng động, điều tiếng thị phi khó tránh.

Quỷ tại Đằng Xà khắc Thế, tai họa triền miên.

Quỷ tại Huyền Vũ, ắt gặp rắc rối vì trộm cắp, đàn bà.

Quỷ tại Bạch Hổ, chắc chắn bị thương đổ máu.

Thế động khắc Ứng, là mình đâm đơn kiện đối phương, Ứng khắc Thế, là người khác kiện mình.

Tân bình thích: Phụ Mẫu lâm Tước Xà động cũng có quan ti khẩu thiệt.

Tử Tôn động, Tử Tôn trì Thế, sẽ không bị kiện tụng. Hào Quỷ trì Thế, Quỷ khắc Thế, Ứng động khắc Thế, chắc chắn sẽ bị kiện.

Cạnh Tranh: Hào Thế Hào Ứng Định Bên Thắng Bên Thua

Chưa tới mức đưa nhau ra cửa quan, hai bên vẫn còn một phen đọ sức.

Nếu hai bên vì việc gì đó mà tranh chấp, cần xem hào Thế, hào Ứng. Hai hào này xung khắc là xấu, tương sinh là tốt.

Nếu hào Thế bị Nhật thần, Nguyệt kiến khắc, là bản thân mình phải chịu nhục.

Nếu hào Ứng bị hào động tương khắc, thì đối phương sẽ phải chịu hình.

Nếu hào Ứng khắc hào Thế, đối phương sẽ thắng.

Nếu hào Thế khắc hào Ứng, mình sẽ thắng.

Nếu hào Thế Không, Phá, hào Thế động hóa Thoái thần, là bản thân đang khiếp sợ.

Nếu hào Ứng động, vượng, Ứng hóa Tiến thần, đối phương sẽ đắc thế.

Nếu gặp quẻ Lục xung, tranh chấp sẽ tan.

Nếu gặp quẻ Lục hợp, tranh chấp sẽ thành.

Cũng phải xem xét hào Tử Tôn. Nếu hào Tử Tôn phát động, việc tranh chấp sẽ không thành. Nhật, Nguyệt, hào động nên khắc hào Ứng, không nên khắc hào Thế. Hào Thế nên vượng, động khắc hào Ứng, hoặc động hóa cát, thì việc kiện tụng sẽ thắng.

Đâm Đơn Khởi Kiện: Hào Quan Hào Phụ Nói Lên Lẽ Phải Trái

Đọ sức không xong thì lá đơn được viết ra, và lẽ phải nằm trong tay hào nào.

Hào Quan, hào Phụ cùng động, là bản thân có lý.

Hào Quan, hào Phụ khắc Thế, chủ về bản thân phải chịu khuất, hàm oan.

Hào Thế hóa Thoái thần, hào Thế gặp Không Phá, hoặc gặp quẻ Lục xung, hoặc hào Thế bị hình xung, việc khởi kiện sẽ không thành. Hào Tài và hào Tử Tôn phát động là tượng khắc phá văn thư, Quan Quỷ, nên khởi kiện cũng không thành.

Bị Xử Trọng Tội: Tử Tôn Trì Thế Cứu Người Khỏi Pháp Trường

Có những vụ án đã đi tới chỗ tận cùng, nơi mạng sống chỉ còn treo vào một hào.

Phúc nên vượng tướng, tối kỵ Quan hưng.

Nếu trong quẻ có Tử Tôn trì Thế, Tử Tôn phát động, cho dù đã bị giải ra pháp trường, vẫn sẽ được xá tội.

Nếu trong quẻ có hào Quan Quỷ khắc Thế, hoặc Quan Quỷ trì Thế, lại bị Nhật, Nguyệt, hào động xung khắc, hoặc Thế động hoá hung, tuy trước mắt chỉ bị định tội nhẹ, nhưng phải đề phòng lại bị khép tội nặng hơn.


Nguồn: Tăng San Bốc Dịch – Dã Hạc lão nhân (Vương Hồng Ứng bình thích)

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tăng San Bốc Dịch