Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tăng San Bốc Dịch

Bài tổng quan

Thi Võ, Nhập Ngũ Và Tấu Sớ Kêu Oan: Vinh Nhục Chốn Quan Trường

Bói Dịch - Tăng San Bốc Dịch19/09/202617 phút đọc6 lượt đọc
Thi Võ, Nhập Ngũ Và Tấu Sớ Kêu Oan: Vinh Nhục Chốn Quan Trường

Một người muốn dâng sớ hạch tội một gian thần thế lực lớn, sợ vạ lây đến thân, bèn nhờ Dã Hạc lão nhân xem hộ. Ông đáp ngay: thế lực kẻ kia tuy từng vững vàng, nhưng nay đã suy, cứ dâng sớ mà không lo họa. Quả nhiên tấu được chuẩn, gian thần bị trừ. Một viên quan khác lo đợt khảo hạch sắp tới sẽ mất chức, quẻ hiện hào Thế ám động khó lường — tuy không bị luận tội, nhưng vẫn phải rời chức, may được triệu về kinh nhận chức khác. Tăng San Bốc Dịch đi trọn một quãng quan trường đầy bất trắc: từ kỳ thi võ chọn tướng tài, việc nhập ngũ tòng quân, đến lúc dâng sớ, kêu oan hay chịu hạch tội. Vì sao cùng một hào Thế vượng tướng, có lúc đủ yên thân, có lúc lại mất chức?


Thi Võ Và Nhập Ngũ: Hào Quan Định Đường Binh Nghiệp

(CÓ THỂ KẾT HỢP VỚI CÁC CHƯƠNG VỀ THI VĂN)

Xem về thi văn, thì hào Quan và hào Văn ( Phụ Mẫu) đều phải xem trọng; xem về thi võ, thì hào Quan là quan trọng nhất.

Thế Phá Quan Không hưu chỉ vọng; Quan hưng Tài vượng diệc kham đồ.

Thế phá Quan không đừng trông đợi; Quan cùng Tài vượng có cơ may.

Xem về thi võ không xem trọng hào Phụ, ta chiêm nghiệm nhiều lần thấy rằng, nếu Quan, Phụ đều vượng, sẽ được đỗ đầu.

Cũng có trường hợp Tài động sinh Quan, mà vẫn trúng tuyển, là vì sao? Việc trúng tuyển này chắc hẳn có nguyên nhân sâu xa.

Không phó võ vi, giai vi Tử Tôn trì Thế.

Đi thi uổng công, đều vì Tử Tôn trì Thế;

Hào Tử Tôn trì Thế, hoặc Tử Tôn phát động, cho dù có tài năng và sức khoẻ hơn người, đi thi cũng chỉ uổng công, không được trúng tuyển.

Thí kỳ bệnh trở, nãi nhân Quan Quỷ thương thân.

Ốm không thi được, là do Quan Quỷ hại thân.

Hào Quan Quỷ trì Thế, hoặc Nhật, Nguyệt, hào động khắc Thế, hoặc hào Thế động hóa Quỷ, hóa hồi đầu khắc, nếu không đau ốm lúc dự thi, cũng là gặp tai nạn.

NHẬP TRƯỜNG QUÂN SỰ

Quan nên vượng tướng, không nên Không, Phá, Hưu, Tù; Tài, Thế hai hào, kỵ gặp Hình, Xung, Khắc, Phá.

Thế cùng Quan tinh, đều nên vượng mà hóa cát; Tài là nguồn lộc, chớ để Nhật Nguyệt hình xung.

Hào Thế thất hãm, hoặc động mà biến hung, có thân khó giữ;

Quan tinh thất hãm, hoặc động mà biến hung, chẳng được thành danh.

Hào Tài thất hãm, hoặc động mà biến hung, lương ít lộc không. Cho dù Quan vượng, bếp lạnh tro tàn.

Tốt nhất là được Quan tinh trì thế, Tài động mà tương sinh. Hoặc hào Tài trì Thế, Quan động mà tương hợp. Hoặc Quan, Thế lâm Nhật Nguyệt, hoặc Tuế, Nguyệt, Nhật tương sinh. Hoặc Thế động mà hóa cát. Là tượng ngày sau quyền cao chức trọng, chẳng phải chức quan quèn.

Giác Tử bàn rằng: Tuy đoán theo đó, không lần nào không linh nghiệm, nhưng cần phải hiểu được ý tứ của người đến xem. Nếu như người xem muốn hỏi về danh lợi, thì quyết đoán theo đó là đúng. Nhưng nếu họ chưa được nhập ngũ, nhập trường, hỏi xem có được lấy vào hay không, thì lại phải dùng Quan tinh để xét xem có được tuyển dụng hay không; nếu hào Quan sinh hợp hào Thế, sẽ được tuyển dụng; nếu hào Quan khắc Thế, hoặc gặp Không, Phá, sẽ không được tuyển dụng. Nếu không biết được bí quyết này, mà vẫn dùng Quan tinh để đoán về công danh, thì suy đoán sẽ sai lầm.

Nhờ Người Mua Chức Quan: Một Đề Mục Sách Bỏ Ngỏ

Dã Hạc lão nhân chỉ để lại tên gọi cho việc nhờ người mua chức, không viết thêm lời giải — có lẽ vì cách xem đã gói trọn trong phép Viện Lệ.

Tấu Sớ, Kêu Oan, Điều Trần, Hạch Tội: Hào Phụ, Hào Thế Và Văn Thư

Một chặng khác của quan trường lại xoay quanh giấy tờ, tấu chương và những lời kêu oan gửi lên bề trên.

(XEM VỀ VĂN THƯ ĐỀU THUỘC LOẠI NÀY)

Vượng Phụ trì Thế, nghi Nhật Nguyệt Tuế ngũ dĩ duy trì.

Phụ vượng trì Thế nên được Nhật, Nguyệt, Tuế ngũ trợ giúp cho;

Hào Phụ tượng trưng cho văn thư, tấu biểu, nếu trì Thế hợp Thế, tấu biểu ắt sẽ được phê chuẩn. Nếu lại được Tuế ngũ, Nhật thần, Nguyệt kiến hoặc hào động sinh hợp, thì chắc chắn sẽ được chấp thuận.

Huynh Đệ lâm thân, hỷ Phụ Mẫu hóa cát nhi củng hợp.

Huynh Đệ trì Thế, mừng được Phụ Mẫu hóa cát mà củng hợp.

Hào Huynh Đệ trì Thế, được Nhật Nguyệt tương sinh, hoặc hào Thế, hào Phụ Mẫu động mà hóa cát, hoặc Thế hóa Phụ Mẫu hồi đầu sinh Thế, đều là tượng văn thư khiến cấp trên hài lòng, nhờ văn thư mà được cất nhắc, bổ nhiệm.

Tài hào trì Thế phá văn thư.

Hào Tài trì Thế, hại văn thư.

Hào Tài trì Thế, hào Tài phát động, sẽ khắc phá văn thư, dâng biểu, tấu trình, báo cáo đều vô ích.

Nếu được Phụ Mẫu trì Thế, hào Tài hào Quan cùng động, lại là điềm tốt. Bởi vì Tài động sinh Quan, Quan động sinh Thế.

Tử Phúc lâm thân, phòng giáng phạt.

Phúc đức tại thân, phòng trách phạt.

Tử Tôn là thần khắc Quan, nếu là người có chức tước dâng văn thư tấu biểu, gặp được Tử Tôn trì Thế, hoặc phát động là điềm xấu, nhẹ thì bị giáng cấp, nặng thì bị cách chức. Nếu là người không có chức tước thì có hai cách suy luận: Cần biết rõ ý định của người xem, nếu làm việc này nhằm mục đích cầu danh, chắc chắn sẽ không được thành danh; còn nếu định dâng tấu biểu mà sợ gặp họa, được quẻ này là điểm không có tai họa.

Thế lâm Không Phá, nan dĩ hồi thiên.

Thế lâm Không Phá, sự việc khó thành.

Hào Thế lâm Tuần Không, Nguyệt phá, hoặc lâm Tuyệt, hóa Tuyệt, hoặc nhập Tam Mộ, tấu biểu văn chương sẽ không được phê chuẩn, cần sớm biết thời cơ. Hào Thế động biến hung, hoặc Tuế ngũ, Nhật thần, Nguyệt kiến, hào động xung khắc hào Thế, không những vô ích, mà còn đề phòng có tai họa bất trắc.

Tử động lâm thân, lực năng chiết hạm.

Tử động lâm thân, có thể can gián.

Có người hỏi: "Phần trước đây có nói rằng, Tử Tôn động sẽ khắc Quan, không nên xuất hiện, sao câu này lại nói rằng Tử Tôn trì Thế là tốt?"

Dã Hạc đáp rằng: "Cần xem sự việc là lớn hay nhỏ. Nếu người dâng biểu có chức tước, gặp quẻ này, ắt sự việc không được phê chuẩn, nhưng cùng lắm cũng chỉ bị cách chức mà thôi. Vì Tử Tôn là thần khắc Quan. Nếu muốn bảo toàn công danh mà gặp Tử Tôn động, thì không nên làm. Nếu là việc điều trần quan lại, can gián nhà vua mà được phê chuẩn, ắt lưu danh thiên cổ; không được phê chuẩn, sẽ rước họa vào thân. Cho nên nếu gặp được Tử Tôn trì Thế lại là tốt, cho dù được phê chuẩn hay không, cũng đều không gặp họa."

Phép xưa cho rằng Tử động ở cung Càn mới tốt, như thế là sai. Vì Tử vốn là Phúc thần khắc chế Quỷ, chứ không phải chỉ ở cung Càn mới là Phúc thần.

Ví dụ: Ngày Đinh Mão tháng Tị năm Tị, xem về dâng tấu hạch tội, được quẻ Lữ:

Quẻ Hỏa Sơn Lữ

Dã Hạc nói: Có người mang quẻ này đến hỏi ta rằng: "Tôi muốn hạch tội gian thần, nhưng sợ rằng thế lực của hắn quá lớn, sẽ hại đến thân, nhờ ông xem hộ quẻ này ra sao!" Ta đáp: "Người này tuy thế lực lớn, nhưng nay đã suy rồi."

Người xem hỏi: "Tại sao ông biết?" Ta bèn đáp: "Hào Ứng là Dậu kim, gặp Trường Sinh tại tháng Tị năm Tị, chẳng phải là thế lực vững vàng hay sao? Nhưng nay bị Thái Tuế, Nguyệt kiến Tị hỏa tương khắc, bị Nhật thần Mão tương xung, bị tổn thương mà không được ứng cứu, nên quyền lực của hắn đã suy yếu."

Người xem bèn hỏi: "Tôi có gặp họa gì không?" Ta đáp: "Hào Tử Tôn trì Thế, không có gì đáng lo!"

Quả nhiên sau được chuẩn tấu, mà gian thần bị tiêu diệt.

Tối kỵ Quan hào khắc Thế; vưu hiềm trợ Quỷ thương thân.

Kỵ nhất hào Quan khắc Thế; lại hiềm giúp Quỷ hại thân.

Hào Quan Quỷ khắc Thế là điềm hung hại, lại thêm hào Tài động trợ giúp cho hào Quỷ, khó tránh khỏi tai họa.

Hào Thế biến Quỷ, động hóa hồi đầu khắc, theo Quỷ nhập Mộ, hoặc gặp quẻ Phản ngâm, quẻ biến tuyệt, hoặc hào Thế bị xung khắc, nếu không phải là việc trọng đại, nên dừng lại là hơn.

Tuế ngũ sinh Thân phòng thụ chế; lục hào hoảng hốt thả hưu hành.

Tuế ngũ sinh thân phòng bị chế; sáu hào không rõ chớ thi hành.

Thái Tuế nếu sinh Thế thì nên nhập vào trong quẻ, nếu không hiện diện trong quẻ thì không thể sinh Thế. Như năm Tý xem quẻ, trong quẻ có hào Tý thủy là Thái Tuế nhập quẻ. Nếu được hào 5 sinh Thế là tốt, nhưng cũng nên đề phòng bị khắc hoặc gặp Không, Phá, Suy, Tuyệt, vì nếu như vậy tương sinh chỉ là hữu danh vô thực.

Ví dụ: Ngày Mậu Thìn tháng Thân, xem về việc dâng biểu, được quẻ Trung Phu biến Tổn:

Quẻ Phong Trạch Trung Phu
Quẻ biến Sơn Trạch Tổn

Đoán rằng: Hào 5 là Tị hỏa sinh Thế, nhưng hiềm vì hóa Tý thủy hồi đầu khắc Thế, tấu biểu này không nên dâng lên.

Người xem hỏi: "Có hại gì không?" Ta đáp: "Tị hỏa tuy không sinh Thế, nhưng trong quẻ cũng không có hào nào khắc Thế, nên không có lợi, cũng chẳng có hại."

Người này vẫn dâng tấu biểu lên, nhưng không được phê chuẩn.

Dã Hạc bàn rằng: Phàm việc dâng biểu, hạch tội đều là làm lợi, trừ hại, giúp ích cho nước nhà. Xả thân vì nước, dù nước sôi lửa bỏng cũng chẳng từ nan, thì cần gì phải xem. Nhưng nếu không phải chuyện quan trọng, hoặc do giận dữ bất bình, hoặc muốn báo thù, tức những việc làm cũng được, không làm cũng được, thì mới cần xem. Nếu hào Thế và hào Phụ không bị Hình, Xung, Khắc, Phá, lại được Tuế ngũ, Nhật, Nguyệt tương sinh, thì nên làm. Nếu các hào loạn động, Dụng thần, Nguyên thần không vượng cũng không suy, hoặc sinh ít khắc nhiều, tức là tượng sáu hào không rõ ràng, tốt nhất không nên thực hiện, vì sẽ rước họa vào thân, cần thận trọng.

Phụ vượng Quan sinh, đao mông tặng tước; vượng Quan trì Thế, bình bộ đăng vân.

Phụ vượng, Quan sinh, đội ơn phong tước; Quan vượng trì Thế, vững bước thăng quan.

Hào Phụ vượng trì Thế, được hào Quan động tương sinh; hoặc Quan vượng trì Thế, được Nhật, Nguyệt tương sinh, nếu là quan lại sẽ được thăng quan; nếu là kẻ sĩ, sẽ được ban tước; nếu là dân thường, sẽ được làm quan.

Dã Hạc bàn rằng: Đoán quẻ nên hiểu rõ ý muốn của người đến xem. Có người dâng tấu, hạch tội vì người khác, có người lại vì bản thân, có người vì muốn rửa oan cho cha mẹ, có người vì muốn bảo toàn công danh cho bản thân, có người vì tiền của lợi lộc, có người vì muốn tránh phải đền bù, có người vì muốn biện hộ cho thuộc hạ... Sự việc đa đoan, cần phải thông biến. Kẻ sĩ, dân thường dâng sớ, tuy cũng có người vì lòng trung với nước, cũng có kẻ muốn nhân cơ hội để cầu danh. Nếu được Quan vượng, mà Phụ không vượng, vẫn là được phong quan ban tước, là vì ý niệm của người xem là muốn cầu quan, văn chương chỉ là công cụ dẫn đường, nên trọng Quan mà không trọng Phụ.

Ngã niệm vị danh, kỵ Tử Tôn chi phát động; ngã niệm vị lợi, kỵ Huynh Đệ dĩ lâm thân.

Nếu bởi cầu danh, kỵ thấy Tử Tôn phát động; nếu vì cầu lợi, kỵ gặp Huynh Đệ lâm thân.

Ví dụ: Ngày Bính Thìn tháng Ngọ, xem về việc dâng biểu kêu oan, nhằm bảo toàn công danh, được quẻ Đại Tráng biến Quải:

Quẻ Lôi Thiên Đại Tráng
Quẻ biến Trạch Thiên Quải

Hào Phụ trì Thế lâm Nguyệt kiến, văn thư cực vượng, nhưng hiềm vì Tử Tôn động tổn thương đến Quan. Tháng bảy tháng tám là thời điểm Thân kim đắc lệnh, công danh sẽ hỏng. Quả nhiên tấu biểu trình lên không được phê chuẩn, đến tháng tám bị cách chức. Người này vì cầu công danh, nên Phụ văn vượng cũng vô ích.

Lại ví dụ: Ngày Tân Sửu tháng Mão, xem về việc dâng sớ xin kinh phí, được quẻ Tụng biến Lý:

Quẻ Thiên Thủy Tụng
Quẻ biến Thiên Trạch Lý

Đoán rằng: Hào Phụ vượng tuy sinh Thế, nhưng hiềm vì Huynh Đệ trì Thế, là tượng tấu sớ được thông qua, nhưng tài sản của bản thân bị hao tán. Sau quả nhiên được cấp trên trình đơn nhưng không được phê chuẩn cấp kinh phí.

Đề Phòng Bị Hạch Tội, Khảo Hạch Và Cách Giữ Được Chức Quan

Dâng sớ là chuyện chủ động, nhưng còn một nỗi lo khác nằm ngoài tầm tay: bị người khác hạch tội, khảo xét.

Xem về đề phòng bị hạch tội, lo lắng khảo hạch, hoặc bản thân gặp rắc rối nhưng chưa bị kết án:

Chú thích: Khảo hạch: Chế độ thanh tra, khảo sát quan lại các tỉnh dưới thời Minh, Thanh, tổ chức ba năm một lần.

Thế vượng Quan sùng, ưu tâm băng giải. Vượng Quan trì Thế, hỷ chiếu song mi.

Thế vượng Quan hưng, lo âu sẽ hết. Quan vượng trì Thế, mừng đón tin vui.

Hào Thế và hào Quan cùng vượng tướng, sẽ không có gì phải lo ngại. Nếu lại được Nhật, Nguyệt, hào động sinh phò, hoặc hào Thế, hào Quan lâm Nhật, Nguyệt, hoặc động mà hóa cát, thì không lo bị hạch tội. Cho dù đã bị hạch tội mà chưa kết án, cũng không đáng ngại. Nếu đang lo lắng về khảo hạch, không những không có gì đáng lo ngại, mà còn nhận được ân sủng lớn. Nếu được hào Quan vượng trì Thế cũng đoán như vậy.

Ví dụ: Ngày Mậu Thân tháng Mùi, xem về việc quân lương chậm trễ bị hạch tội, được quẻ Phong biến Lữ:

Quẻ Lôi Hỏa Phong
Quẻ biến Hỏa Sơn Lữ

Đoán rằng: Hào Thế lâm Nhật thần, được Nguyệt kiến tương sinh, lại được hào Quan động tương sinh, chức vị không có gì đáng lo. Mọi người đều không tin. Nào ngờ sau đó, nhờ lập công lớn, nên công danh được bảo toàn.

Có người hỏi rằng: "Hào Tử Tôn Mão mộc động, tại sao không khắc Quan? Ta đáp: "Mão mộc gặp Tuyệt ở Thân, nên không khắc nổi Quan vượng."

Tân bình thích: Tử Tôn tham hợp quên khắc, lại bị Không Vong cũng là một trong những nguyên nhân không mất quan.

Phúc Thế Tôn dao thân hóa Phúc, Quan Không Quỷ Phá biến hào thương.

Phúc lâm Thế, Tử Tôn động, thân được hóa Phúc; Quan lâm Không, Quỷ gặp phá, hào biến tổn thương.

Hào Tử Tôn trì Thế, Tử Tôn động trong quẻ, hoặc Thế động hóa Tử Tôn, hoặc hào Quan Không, Phá, hoặc Quan động hóa hồi đầu khắc, đều chủ về cách chức bãi quan.

Ví dụ: Ngày Đinh Tị tháng Dần, xem về khảo hạch, được quẻ Lữ biến Minh Di:

Quẻ Hỏa Sơn Lữ
Quẻ biến Địa Hỏa Minh Di

Đoán rằng: Hào Tử Tôn trì Thế, động hóa hồi đầu khắc, Thế lại bị Nguyệt kiến khắc. Quẻ ngoại Tị, Dậu, Sửu tuy hợp thành kim cục để tương sinh cho hào Quan phục, nhưng cũng vô ích. Sau quả nhiên bị cách chức.

Huynh động Tài Không, giảm lộc phạt bổng.

Huynh động, Tài Không, giảm lộc trừ lương.

Hào Huynh trì Thế, hào Huynh động, hoặc hào Tài Không, Phá, hoặc hào Tài động hóa hung, nếu hào Quan vượng tướng, thì chỉ bị cắt giảm bổng lộc mà thôi; nếu hào Quan thất hãm, thì mất cả chức lẫn lương.

Thân suy Quỷ khắc, biếm trách lăng nhục.

Thân suy, Quỷ khắc, quở trách lăng nhục.

Hào Thế suy không được sinh phò, lại bị Tuế ngũ, Nhật Nguyệt, hào động hình xung khắc Thế, hoặc hào Quan động khắc Thế, hoặc hào Thế theo Quỷ nhập Mộ, hoặc động hóa Quỷ, hóa hồi đầu khắc, hoặc Bạch Hổ, Đằng Xà hình khắc hào Thế, nhẹ thì bị quở trách, nặng thì hình ngục.

Có người hỏi: "Dựa vào đâu để phân nặng, nhẹ?" Ta đáp: "Nhẹ là hào Thế được cứu, còn nặng là hào Thế đã hưu tù lại bị hình thương xung khắc."

Tân bình thích: Cần phải kết hợp với lục thần mà phán đoán. Lâm Bạch Hổ thường là tai họa về bệnh tật, tổn thương, cũng có người phạm tội bị xử quyết. Lâm Đằng Xà, Câu Trần thường là hình ngục. Lâm Chu Tước thường là quan ti khẩu thiệt.

Quái tĩnh Thế Không Quan hựu hãm, chung tu lâm hạ tác nhàn nhân.

Quẻ tĩnh, Thế Không, Quan bị hãm, an phận thanh nhàn chốn núi rừng.

Hào Thế lâm Không là điềm về hưu. Hào Quan lại Không Phá, hưu tù, là điềm bị cách chức.

Thế hãm phùng sinh, sát hưng hà ngại?

Thế hãm được sinh, Kỵ thần động có gì đáng ngại?

Dã Hạc bàn rằng: Sách xưa cho rằng, hào Thế lâm Không, thần sát động là điềm tránh họa, ta cho rằng như vậy là không đúng. Nói vậy là không hiểu được rằng, Kỵ thần động trong quẻ, nếu hào Thế lâm Không, đợi đến ngày, tháng xuất Không sẽ bị hại, vẫn không thể tránh được tai họa.

Chỉ khi hào Thế lâm Không lại được Nguyên thần động tương sinh, thì trong quẻ tuy có Kỵ thần phát động cũng vô hại, đợi đến ngày hào Thế xuất Không, Kỵ thần sẽ quay lại sinh Nguyên thần để sinh Thế.

Quan long Thế hãm, thân nhục quan tồn.

Quan vượng, Thế hãm, thân chịu nhục mà chức quan còn.

Xưa lại cho rằng nếu Quan phục ở Thế, nếu chẳng lâm Không thì chức vị còn. Gặp việc hung mà Quan trì Thế, hay Quan vượng phục dưới Thế thì tuy bị trách phạt nhưng chức vị vẫn còn.

Dã Hạc nói: Hào Thế bị hào 5 khắc, nếu được Quan vượng sinh hợp hào Thế, cùng Quan vượng trì Thế, tuy bị nhục nhưng được phục hồi quan chức.

Ví dụ: Ngày Mậu Thìn tháng Sửu, xem bị hạch tội, được quẻ Tỉnh biến Trung Phu:

Quẻ Thủy Phong Tỉnh
Quẻ biến Phong Trạch Trung Phu

Người này vì mới thay quan Đốc phủ mới, đề phòng bị hạch tội. Ta xem quẻ nói rằng: "Quẻ này rất lạ, hào Thế lâm Không mà bị Nhật thần xung, nên lại không bị Không. Hào Thế không bị khắc mà ám động, tuy không bị luận tội, nhưng khó tránh khỏi mất chức." Người xem bèn hỏi: "Đã không bị luận tội, làm sao lại mất chức?" Ta đáp: "Hào Thế ám động, nên chủ về dao động bất ổn. Quẻ nội Tị Dậu Sửu hợp thành Quan cục mà tương sinh hào Ứng, nên chức vị này sẽ thuộc về người khác." Sau vì cắt bỏ chức quan ở chỗ khác, quan trên điều quan ở nơi khác về điền vào chỗ khuyết của người này, triệu người này về kinh bổ nhiệm chức khác. Đây cũng là chuyện hiếm gặp, nên biết được cơ trời, là thần linh vậy.

Thân thực Quan hãm, vị khứ thân an.

Thân vượng Quan hãm, thân yên ổn mà chức vị mất.

Hào Thế vượng tướng, không bị khắc thương; hào Quan Không, Phá, hoặc bị hình xung khắc hại, hoặc động mà biến hung, là tượng quan, lộc tổn thất, nhưng thân được yên ổn.

Tử vượng Tử hưng, tất năng toại nguyện; Quan khắc Quan Thế, tổng bất như tâm.

Tử vượng, Tử phát động, ắt được toại nguyện; Quan khắc, Quan trì Thế, chẳng được hài lòng.


Nguồn: Tăng San Bốc Dịch – Dã Hạc lão nhân (Vương Hồng Ứng bình thích)

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tăng San Bốc Dịch