Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Đạo Gia

Bài tổng quan

Địa bàn, thiên bàn và cát hung của sơn hướng thượng nguyên

Đạo Học - Đạo Gia09/10/202616 phút đọc2 lượt đọc
Địa bàn, thiên bàn và cát hung của sơn hướng thượng nguyên

Một ngôi nhà ngồi Tý trông Ngọ gặp vận một thì tổn người, sang vận hai thì hao của, vận ba lại tổn người như cũ. Hai mươi bốn sơn đứng yên trên địa bàn, chỉ có vận tinh dời chỗ, và mỗi lần dời là một lần thế nhà đổi cát hung…


Địa bàn: hai mươi bốn sơn ngồi yên trong tám quẻ

Bát quái hậu thiên được trải ra tám phương theo Lạc Thư, còn Ngũ đứng giữa với tên Hoàng Cực Mậu Kỷ. Mỗi quẻ làm chủ và thống lĩnh ba sơn, cộng lại thành hai mươi bốn sơn: Nhâm, Tý, Quý thuộc Khảm Nhất; Sửu, Cấn, Dần thuộc Cấn Bát; Giáp, Mão, Ất thuộc Chấn Tam; Thìn, Tốn, Tỵ thuộc Tốn Tứ; Bính, Ngọ, Đinh thuộc Ly Cửu; Mùi, Khôn, Thân thuộc Khôn Nhị; Canh, Dậu, Tân thuộc Đoài Thất; Tuất, Kiền, Hợi thuộc Kiền Lục.

Cách xếp mười hai địa chi và tám quẻ vào các phương hướng như vậy không bao giờ đổi, cho nên được gọi là địa bàn, còn có tên khác là nguyên đán bàn.

Ba nguyên long: thiên, địa, nhân

Hai mươi bốn sơn lại chia theo tam nguyên thiên, địa, nhân. Tý, Ngọ, Mão, Dậu, Kiền, Tốn, Cấn, Khôn là thiên nguyên long; đó là phần trung khí do quẻ thống lĩnh, gọi là phụ mẫu. Giáp, Canh, Nhâm, Bính, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là địa nguyên long; vì không đi cùng đường với phụ mẫu nên gọi là nghịch tử. Ất, Tân, Đinh, Quý, Dần, Thân, Tỵ, Hợi là nhân nguyên long; vì đi cùng đường với phụ mẫu nên gọi là thuận tử.

Họ Ôn dùng chính cách chia này để giải câu trong Thiên Ngọc kinh:

Hai mươi bốn long cai quản ba quẻ.

Cùng đường nghĩa là cùng âm dương với phụ mẫu, thuận nghịch chung một lối. Tý, Ngọ, Mão, Dậu, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, Ất, Tân, Đinh, Quý thuộc âm; Kiền, Tốn, Cấn, Khôn, Giáp, Canh, Nhâm, Bính, Dần, Thân, Tỵ, Hợi thuộc dương. Tính âm dương của tám can, bốn duy, mười hai chi này không bao giờ thay đổi.

Ngũ hành cũng được gắn lên cửu cung: Khảm Nhất thuộc thủy, Ly Cửu thuộc hỏa, Chấn Tam và Tốn Tứ thuộc mộc, Kiền Lục và Đoài Thất thuộc kim, trung cung Ngũ thuộc thổ. Ngũ hành, bát quái và cửu tinh nối thành một mạch xuyên suốt của lý thuyết Huyền Không. Vạch bát quái cho một vùng đất là căn cơ của Lý Khí, cũng là chuẩn tắc để so đo; muốn nhìn xa hơn thì phải bàn tới tam nguyên cửu vận.

Thiên bàn: chín vận chia thành ba nguyên

Muốn chia tam nguyên bằng cách bố sao ở thiên bàn thì có thượng nguyên, trung nguyên, hạ nguyên. Thượng nguyên thống lĩnh Nhất Bạch, Nhị Hắc, Tam Bích; trung nguyên thống lĩnh Tứ Lục, Ngũ Hoàng, Lục Bạch; hạ nguyên thống lĩnh Thất Xích, Bát Bạch, Cửu Tử.

Mỗi nguyên gồm ba vận và đi hết một vòng lục thập hoa giáp, nên mỗi vận dài hai mươi năm. Hai tuần Giáp Tý, Giáp Tuất làm cuộc khởi đầu, gồm các nhóm bắt đầu từ vận 1, 4, 7. Hai tuần Giáp Thân, Giáp Ngọ làm cuộc giữa, gồm các nhóm bắt đầu từ vận 2, 5, 8. Hai tuần Giáp Thìn, Giáp Dần làm cuộc cuối, gồm các nhóm bắt đầu từ vận 3, 6, 9. Tam nguyên cửu vận cộng lại một trăm tám mươi năm, đi hết một vòng thì quay về đầu, tuần hoàn không ngừng.

Thiên bàn là vận tinh được khởi ngay trên bàn tay. Trong môn địa lý, mọi chuyện rốt cuộc quy về hai chữ âm dương. Phái Huyền Không không dừng ở âm dương của thế đất khi vạch bát quái, mà tùy lúc, tùy nơi định ra sự tiêu trưởng, vãng lai của âm dương. Vì thế đầu mối nằm ở chỗ các vận đổi dời và cửu cung xoay vòng; đó là căn do dựng nên thiên bàn. Phép làm rất gọn: tới vận nào thì vận tinh của vận ấy nhập trung cung, rồi các sao còn lại bay thuận theo thứ tự bát quái.

Vận 1 thì Nhất nhập trung cung, Nhị bố ở Kiền, Tam ở Đoài, Tứ ở Cấn, Ngũ ở Ly, Lục ở Khảm, Thất ở Khôn, Bát tới Chấn, Cửu dừng ở Tốn. Vận 2 thì Nhị vào giữa, Tam tới Kiền, Tứ bay tới Đoài; cứ theo thứ tự ấy mà suy ra, các vận còn lại đều như vậy.

Thiên bàn là bước đầu để đưa hai sao sơn và hướng vào trung cung, từ đó mới hiển lộ diệu dụng suy vượng sinh tử. Vì vậy phải dựa vào tính liền mạch của phi tinh mà đoán cát hung. Lấy chữ của thiên bàn rơi vào cung sơn và cung hướng, ghi vào trung cung: gặp dương thì bay thuận, gặp âm thì bay nghịch.

Một thế cụ thể: vận 1, tọa Tý hướng Ngọ

Vận tinh rơi vào cung sơn (Khảm) là Lục. Lục thuộc thiên nguyên long Kiền, mang tính dương, nên Lục nhập trung cung và bay thuận: Thất tới Kiền, Bát tới Đoài, Cửu tới Cấn, Nhất tới Ly, Nhị tới sơn (Khảm), Tam tới Khôn, Tứ tới Chấn, Ngũ tới Tốn thì dừng.

Vận tinh rơi vào cung hướng (Ly) là Ngũ. Ngũ không cố định là âm hay dương, mà phải xem âm dương của sơn và hướng để định. Trong hai nguyên thiên và nhân, tứ chính thuộc âm thì Ngũ thuộc âm, tứ duy thuộc dương thì Ngũ cũng thuộc dương; địa nguyên thì ngược lại. Ngọ là thiên nguyên long, thuộc âm, nên Ngũ nhập trung cung và bay nghịch: Tứ tới Kiền, Tam tới Đoài, Nhị tới Cấn, Nhất tới hướng (Ly), Cửu tới Khảm, Bát tới Khôn, Thất tới Chấn, Lục tới Tốn.

Các vận khác, các hướng khác cứ theo cách này mà suy ra, không khó. Hiểu rõ chỗ này là đã nắm hết phép bố sao của hạ quái, bước đầu để bước vào cửa phái Lý Khí. Còn khi lập hướng kiêm thì phải dùng bí quyết Khôn Nhâm Ất để tìm sao thế, gọi là khởi tinh. Khởi tinh về cơ bản không khác thiên bàn, chỉ riêng việc đưa sao sơn và sao hướng vào trung cung là cần dựa vào bí quyết tìm thế mà thôi.

Chính hướng: phép bay sao của hạ quái

Chính hướng còn gọi là hạ quái. Cách làm: lấy vận tinh nhập vào giữa, bố theo thứ tự lên tám phương; xem cung sơn nhận được chữ gì thì lấy chữ ấy nhập vào giữa, gặp âm bay nghịch, gặp dương bố thuận. Rồi xem cung hướng nhận được chữ gì, cũng lấy chữ ấy nhập vào giữa, và phân dương thuận âm nghịch mà bố. Đó là phép đảo điên.

Với chữ nhập vào giữa, âm là quý còn dương là tiện. Gặp âm thì bố nghịch, vượng tinh ắt đáo sơn đáo hướng. Gặp dương thì bố thuận, vượng tinh ắt thượng sơn hạ thủy. Cho nên gặp nghịch thì cát, gặp thuận thì hung. Vượng tinh là sao đương lệnh hợp với vận: Nhất của vận 1, Nhị của vận 2, cho tới Cửu của vận 9. Khi vượng tinh đáo sơn đáo hướng lại gặp thế đất phía sau tọa có núi, ở hướng có nước, thì chủ tài lộc nhân đinh đều vượng.

Thượng nguyên: vận 1, vận 2, vận 3 của hai mươi bốn sơn

Thượng nguyên thống lĩnh Nhất, Nhị, Tam, nên mỗi tuyến được xét qua ba vận 1, 2, 3. Các tuyến đi lần lượt theo thiên nguyên long, địa nguyên long, nhân nguyên long, và mỗi dòng nói theo một thứ tự cố định: thế sơn hướng, tinh vận toàn cuộc, đả kiếp cùng quẻ phụ mẫu tam ban, thành môn, phản phục ngâm, cuối cùng là vận nhập tù.

Thiên nguyên long: 8 tuyến sơn hướng

Tý, Ngọ, Mão, Dậu là bốn sơn chính, Kiền, Tốn, Cấn, Khôn là bốn sơn duy; cả tám giữ vai trung khí của quẻ, nên gọi là phụ mẫu.

Tý tọa, Ngọ hướng

Sơn Tý hướng Ngọ. Vận 1 hạ thủy, chủ tổn nhân đinh; cung Ly là chân đả kiếp, quẻ phụ mẫu tam ban là Ly, Kiền, Chấn ứng bộ 1-4-7; thành môn ở Tốn và Khôn; nhập tù ở vận 9. Vận 2 thượng sơn, chủ phá tài lộc; thành môn ở Tốn; nhập tù ở vận 6. Vận 3 hạ thủy, chủ tổn nhân đinh; cung Ly là chân đả kiếp, quẻ phụ mẫu tam ban là Ly, Kiền, Chấn ứng bộ 3-6-9; thành môn ở Khôn; nhập tù ở vận 2.

Ngọ tọa, Tý hướng

Sơn Ngọ hướng Tý. Vận 1 thượng sơn, chủ phá tài lộc; nhập tù ở vận 6. Vận 2 hạ thủy, chủ tổn nhân đinh; cung Khảm là giả đả kiếp, quẻ phụ mẫu tam ban là Khảm, Đoài, Tốn ứng bộ 2-5-8; thành môn ở Kiền; nhập tù ở vận 3. Vận 3 thượng sơn, chủ phá tài lộc; tinh vận toàn cuộc hợp thập; nhập tù ở vận 8.

Mão tọa, Dậu hướng

Sơn Mão hướng Dậu. Vận 1 hạ thủy, chủ tổn nhân đinh; cung Khảm là giả đả kiếp, quẻ phụ mẫu tam ban là Khảm, Đoài, Tốn ứng bộ 1-4-7; thành môn ở Khôn; nhập tù ở vận 5. Vận 2 thượng sơn, chủ phá tài lộc; thành môn ở Kiền; nhập tù ở vận 4. Vận 3 đáo sơn đáo hướng, nhân đinh tài lộc đều vượng; thành môn ở Khôn; nhập tù ở vận 5.

Dậu tọa, Mão hướng

Sơn Dậu hướng Mão. Vận 1 thượng sơn, chủ phá tài lộc; thành môn ở Tốn; nhập tù ở vận 8. Vận 2 hạ thủy, chủ tổn nhân đinh; cung Ly là chân đả kiếp, quẻ phụ mẫu tam ban là Chấn, Ly, Kiền ứng bộ 2-5-8; thành môn ở Tốn; nhập tù ở vận 7. Vận 3 đáo sơn đáo hướng, nhân đinh tài lộc đều vượng; nhập tù ở vận 1.

Kiền tọa, Tốn hướng

Sơn Kiền hướng Tốn. Vận 1 hạ thủy, chủ tổn nhân đinh; tinh vận toàn cuộc hợp thập; cung Khảm là giả đả kiếp, quẻ phụ mẫu tam ban là Tốn, Khảm, Đoài ứng bộ 1-4-7; nhập tù ở vận 8. Vận 2 đáo sơn đáo hướng, nhân đinh tài lộc đều vượng; thành môn ở Mão; nhập tù ở vận 1. Vận 3 thượng sơn hạ thủy; thành môn ở Ngọ và Mão; nhập tù ở vận 2.

Tốn tọa, Kiền hướng

Sơn Tốn hướng Kiền. Vận 1 thượng sơn, chủ phá tài lộc; tinh vận toàn cuộc hợp thập; thành môn ở Dậu; nhập tù ở vận 2. Vận 2 đáo sơn đáo hướng, nhân đinh tài lộc đều vượng; thành môn ở Tý; nhập tù ở vận 3. Vận 3 thượng sơn hạ thủy; thành môn ở Dậu; nhập tù ở vận 4.

Cấn tọa, Khôn hướng

Sơn Cấn hướng Khôn. Vận 1 hạ thủy, chủ tổn nhân đinh; thành môn ở Dậu và Ngọ; nhập tù ở vận 7. Vận 2 thượng sơn hạ thủy; tinh vận toàn cuộc thành tam ban; phạm phản phục; nhập tù ở vận 8. Vận 3 hạ thủy, chủ tổn nhân đinh; thành môn ở Dậu và Ngọ; nhập tù ở vận 9.

Khôn tọa, Cấn hướng

Sơn Khôn hướng Cấn. Vận 1 thượng sơn, chủ phá tài lộc; nhập tù ở vận 4. Vận 2 thượng sơn hạ thủy; tinh vận toàn cuộc thành tam ban; thành môn ở Tý và Mão; phạm phản phục; nhập tù ở vận 5. Vận 3 thượng sơn, chủ phá tài lộc; thành môn ở Mão; nhập tù ở vận 6.

Địa nguyên long: 8 tuyến sơn hướng

Giáp, Canh, Nhâm, Bính, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi không cùng đường âm dương với phụ mẫu, nên được gọi là nghịch tử.

Thìn tọa, Tuất hướng

Sơn Thìn hướng Tuất. Vận 1 hạ thủy, chủ tổn nhân đinh; cung Ly là chân đả kiếp, quẻ phụ mẫu tam ban là Kiền, Chấn, Ly ứng bộ 1-4-7; thành môn ở Nhâm; nhập tù ở vận 3. Vận 2 thượng sơn hạ thủy; thành môn ở Canh; nhập tù ở vận 3. Vận 3 đáo sơn đáo hướng, nhân đinh tài lộc đều vượng; thành môn ở Nhâm; nhập tù ở vận 4.

Tuất tọa, Thìn hướng

Sơn Tuất hướng Thìn. Vận 1 thượng sơn, chủ phá tài lộc; thành môn ở Giáp; nhập tù ở vận 9. Vận 2 thượng sơn hạ thủy; thành môn ở Bính; nhập tù ở vận 1. Vận 3 đáo sơn đáo hướng, nhân đinh tài lộc đều vượng; nhập tù ở vận 2.

Sửu tọa, Mùi hướng

Sơn Sửu hướng Mùi. Vận 1 thượng sơn, chủ phá tài lộc; nhập tù ở vận 7. Vận 2 đáo sơn đáo hướng, nhân đinh tài lộc đều vượng; tinh vận toàn cuộc hợp thập; thành môn ở Canh và Bính; nhập tù ở vận 8. Vận 3 thượng sơn, chủ phá tài lộc; nhập tù ở vận 9.

Mùi tọa, Sửu hướng

Sơn Mùi hướng Sửu. Vận 1 hạ thủy, chủ tổn nhân đinh; thành môn ở Giáp và Nhâm; nhập tù ở vận 4. Vận 2 đáo sơn đáo hướng, nhân đinh tài lộc đều vượng; tinh vận toàn cuộc hợp thập; nhập tù ở vận 5. Vận 3 hạ thủy, chủ tổn nhân đinh; thành môn ở Nhâm; nhập tù ở vận 6.

Giáp tọa, Canh hướng

Sơn Giáp hướng Canh. Vận 1 thượng sơn, chủ phá tài lộc; thành môn ở Tuất; nhập tù ở vận 3. Vận 2 hạ thủy, chủ tổn nhân đinh; cung Khảm là giả đả kiếp, quẻ phụ mẫu tam ban là Đoài, Tốn, Khảm ứng bộ 2-5-8; thành môn ở Mùi; nhập tù ở vận 6. Vận 3 thượng sơn hạ thủy; thành môn ở Tuất; phạm phản phục; nhập tù ở vận 5.

Canh tọa, Giáp hướng

Sơn Canh hướng Giáp. Vận 1 hạ thủy, chủ tổn nhân đinh; cung Ly là chân đả kiếp, quẻ phụ mẫu tam ban là Chấn, Ly, Kiền ứng bộ 1-4-7; thành môn ở Sửu; nhập tù ở vận 6. Vận 2 thượng sơn, chủ phá tài lộc; thành môn ở Sửu; nhập tù ở vận 9. Vận 3 thượng sơn hạ thủy; thành môn ở Sửu và Thìn; phạm phản phục; nhập tù ở vận 1.

Nhâm tọa, Bính hướng

Sơn Nhâm hướng Bính. Vận 1 thượng sơn, chủ phá tài lộc; phạm phục ngâm; nhập tù ở vận 5. Vận 2 hạ thủy, chủ tổn nhân đinh; cung Ly là chân đả kiếp, quẻ phụ mẫu tam ban là Ly, Kiền, Chấn ứng bộ 2-5-8; thành môn ở Mùi; nhập tù ở vận 1. Vận 3 thượng sơn, chủ phá tài lộc; thành môn ở Thìn; nhập tù ở vận 7.

Bính tọa, Nhâm hướng

Sơn Bính hướng Nhâm. Vận 1 hạ thủy, chủ tổn nhân đinh; cung Khảm là giả đả kiếp, quẻ phụ mẫu tam ban là Khảm, Đoài, Tốn ứng bộ 1-4-7; thành môn ở Tuất và Sửu; phạm phục ngâm; nhập tù ở vận 2. Vận 2 thượng sơn, chủ phá tài lộc; thành môn ở Sửu; nhập tù ở vận 7. Vận 3 hạ thủy, chủ tổn nhân đinh; cung Khảm là giả đả kiếp, quẻ phụ mẫu tam ban là Khảm, Đoài, Tốn ứng bộ 3-6-9; thành môn ở Tuất và Sửu; nhập tù ở vận 4.

Nhân nguyên long: 8 tuyến sơn hướng

Ất, Tân, Đinh, Quý, Dần, Thân, Tỵ, Hợi cùng đường âm dương với phụ mẫu, nên được gọi là thuận tử.

Ất tọa, Tân hướng

Sơn Ất hướng Tân. Vận 1 hạ thủy, chủ tổn nhân đinh; cung Khảm là giả đả kiếp, quẻ phụ mẫu tam ban là Đoài, Tốn, Khảm ứng bộ 1-4-7; thành môn ở Thân; nhập tù ở vận 5. Vận 2 thượng sơn, chủ phá tài lộc; thành môn ở Hợi; nhập tù ở vận 4. Vận 3 đáo sơn đáo hướng, nhân đinh tài lộc đều vượng; thành môn ở Thân; nhập tù ở vận 5.

Tân tọa, Ất hướng

Sơn Tân hướng Ất. Vận 1 thượng sơn, chủ phá tài lộc; thành môn ở Tỵ; nhập tù ở vận 6. Vận 2 hạ thủy, chủ tổn nhân đinh; cung Ly là chân đả kiếp, quẻ phụ mẫu tam ban là Chấn, Ly, Kiền ứng bộ 2-5-8; thành môn ở Tỵ; nhập tù ở vận 7. Vận 3 đáo sơn đáo hướng, nhân đinh tài lộc đều vượng; nhập tù ở vận 1.

Đinh tọa, Quý hướng

Sơn Đinh hướng Quý. Vận 1 thượng sơn, chủ phá tài lộc; cung Khảm là giả đả kiếp; nhập tù ở vận 6. Vận 2 hạ thủy, chủ tổn nhân đinh; quẻ phụ mẫu tam ban là Khảm, Đoài, Tốn ứng bộ 2-5-8; thành môn ở Hợi; nhập tù ở vận 3. Vận 3 thượng sơn, chủ phá tài lộc; tinh vận toàn cuộc hợp thập; cung Khảm là giả đả kiếp; nhập tù ở vận 8.

Quý tọa, Đinh hướng

Sơn Quý hướng Đinh. Vận 1 hạ thủy, chủ tổn nhân đinh; cung Khảm là giả đả kiếp, quẻ phụ mẫu tam ban là Ly, Kiền, Chấn ứng bộ 1-4-7; thành môn ở Tỵ và Thân; nhập tù ở vận 9. Vận 2 thượng sơn, chủ phá tài lộc; thành môn ở Tỵ; nhập tù ở vận 6. Vận 3 hạ thủy, chủ tổn nhân đinh; tinh vận toàn cuộc hợp thập; quẻ phụ mẫu tam ban là Ly, Kiền, Chấn ứng bộ 3-6-9; thành môn ở Thân; nhập tù ở vận 2.

Dần tọa, Thân hướng

Sơn Dần hướng Thân. Vận 1 hạ thủy, chủ tổn nhân đinh; thành môn ở Tân; nhập tù ở vận 7. Vận 2 thượng sơn hạ thủy; tinh vận toàn cuộc thành tam ban; cung Ly là chân đả kiếp, quẻ phụ mẫu tam ban là Chấn, Ly, Kiền ứng bộ 2-5-8; phạm phản phục; nhập tù ở vận 8. Vận 3 hạ thủy, chủ tổn nhân đinh; thành môn ở Tân và Đinh; nhập tù ở vận 9.

Thân tọa, Dần hướng

Sơn Thân hướng Dần. Vận 1 thượng sơn, chủ phá tài lộc; nhập tù ở vận 4. Vận 2 thượng sơn hạ thủy; tinh vận toàn cuộc thành tam ban; thành môn ở Ất và Quý; phạm phản phục; nhập tù ở vận 5. Vận 3 thượng sơn, chủ phá tài lộc; thành môn ở Ất; nhập tù ở vận 6.

Tỵ tọa, Hợi hướng

Sơn Tỵ hướng Hợi. Vận 1 thượng sơn, chủ phá tài lộc; tinh vận toàn cuộc hợp thập; thành môn ở Tân; nhập tù ở vận 2. Vận 2 đáo sơn đáo hướng, nhân đinh tài lộc đều vượng; thành môn ở Quý; nhập tù ở vận 3. Vận 3 thượng sơn hạ thủy; thành môn ở Tân; nhập tù ở vận 4.

Hợi tọa, Tỵ hướng

Sơn Hợi hướng Tỵ. Vận 1 hạ thủy, chủ tổn nhân đinh; tinh vận toàn cuộc hợp thập; cung Khảm là giả đả kiếp, quẻ phụ mẫu tam ban là Tốn, Khảm, Đoài ứng bộ 1-4-7; thành môn ở Đinh; nhập tù ở vận 8. Vận 2 đáo sơn đáo hướng, nhân đinh tài lộc đều vượng; thành môn ở Ất; nhập tù ở vận 1. Vận 3 thượng sơn hạ thủy; thành môn ở Đinh và Ất; nhập tù ở vận 2.

Nguồn: Nguyễn Vũ Anh, Thẩm Thị Huyền Không Học – Phong Thủy Trong Bối Cảnh Kiến Trúc Hiện Đại.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Đạo Gia