Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Tám ký hiệu bát quái và cách người xưa đọc vạn vật qua chúng

Bói Dịch - Nhập môn02/10/202610 phút đọc4 lượt đọc
Tám ký hiệu bát quái và cách người xưa đọc vạn vật qua chúng

Chỉ một vạch liền và một vạch đứt, xếp chồng lên nhau ba lần, người xưa đã dựng được tám hình vẽ ôm trọn trời, đất, sấm, gió, nước, lửa, núi và đầm. Không một chữ nào được viết thêm mà ý vẫn nói đủ. Vì sao tám ký hiệu nhỏ ấy lại làm được điều mà cả một thư viện chữ nghĩa cũng khó làm…


Một tiếng nói thốt ra, một dòng chữ viết xuống, đều chỉ giữ lại được một phần nhỏ của điều ta muốn kể. Người xưa gặp bức tường ấy và rẽ sang lối khác: thay vì viết thêm chữ, họ vẽ ký hiệu. Chỉ bằng vạch liền và vạch đứt, tám hình vẽ nhỏ đã ôm được cả trời lẫn đất.

Khi ký hiệu làm thay việc của lời nói

Có những điều chữ nghĩa vừa chạm tới đã méo đi, nên cần một cách diễn đạt đứng ngoài từ ngữ.

Lão Tử từng mở đầu Đạo Đức Kinh bằng lời cảnh báo rằng đạo nói ra được thì chưa phải đạo thường hằng. Mỗi người nhìn từ một góc, hiểu ở một tầm, diễn đạt theo một cách, nên câu chữ luôn lệch đi so với diện mạo gốc của sự vật. Cái hữu hạn của ngôn từ không bọc nổi cái vô hạn của vũ trụ.

Truyền thuyết kể rằng Phục Hy dựng tượng để nói hết ý và lập quẻ để bày hết tình của vạn vật. Những ký hiệu ấy không mang nghĩa đen như một từ vựng, nhưng chứa một lượng thông tin rất lớn, và giữa chúng còn có những quan hệ đối ứng, giúp mô tả quy luật vận hành của mọi sự vật mà không bị trói vào một thứ tiếng nói cụ thể. Đến nay, dù khoa học đã đi rất xa, vẫn khó tìm một hệ ký hiệu nào khác vừa gọn vừa đủ như thế.

Bát quái thông thần minh chi đức, loại vạn vật chi tình.

Tám quẻ suốt thấu cái đức của thần minh và phân loại được cái tình của muôn vật. Chữ “quái” còn có nghĩa là treo: người xưa treo những hiện tượng của trời đất lên để báo điềm lành dữ cho người. Quẻ vì thế không giống bài toán cần giải, mà giống tấm gương treo sẵn để soi.

Từ hai vạch đến tám quẻ đơn

Mọi thứ bắt đầu từ một lần chia đôi, rồi chia đôi nữa, cho tới khi hiện ra tám hình dáng.

Người xưa tóm gọn nguồn gốc ấy trong một chuỗi: Thái Cực sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh Bát Quái. Thái Cực là thể thống nhất của âm và dương. Nhìn từ một góc nào đó, vật gì cũng gồm hai mặt âm dương, nên vật gì cũng có thể gọi là một Thái Cực nhỏ.

Chia Thái Cực làm hai thì được hai ký hiệu cơ bản gọi là hào. Hào dương là vạch liền, tính cứng. Hào âm là vạch đứt ở giữa, tính mềm. Trong âm lại có âm dương, trong dương lại có âm dương, nên hai thành bốn tượng. Người xưa còn cho rằng bản chất của vạn vật gồm ba tầng, nên xếp hào chồng lên nhau ba lần, và có đúng tám cách xếp khác nhau.

Tám cách xếp ấy là tám quẻ đơn, gọi là Càn, Đoài, Ly, Chấn, Tốn, Khảm, Cấn, Khôn, ứng với trời, đầm, lửa, sấm, gió, nước, núi, đất. Con số tám ở đây không phải số đếm của đời thường, mà là tên của một chỉnh thể rộng lớn, khớp với ý Lão Tử rằng một sinh hai, hai sinh ba, ba sinh vạn vật.

Càn tam liên, Khôn lục đoạn, Chấn ngưỡng vu, Cấn phúc uyển, Ly trung hư, Khảm trung mãn, Đoài thượng khuyết, Tốn hạ đoạn.

Bài vè này giúp nhớ hình dạng: Càn ba vạch liền, Khôn ba vạch đứt, Chấn như cái bát ngửa, Cấn như cái bát úp, Ly rỗng giữa, Khảm đầy giữa, Đoài khuyết trên, Tốn đứt dưới. Nhìn chỗ vạch đứt nằm ở đâu là gọi được tên quẻ.

Bốn quẻ dương, bốn quẻ âm, và tám tính nết

Càn, Chấn, Khảm, Cấn là bốn quẻ dương; Khôn, Tốn, Ly, Đoài là bốn quẻ âm. Chúng đứng thành từng đôi đối nhau: trời với đất, sấm với gió, nước với lửa, núi với đầm. Cặp nào cũng vừa trái ngược vừa nương tựa vào nhau, và từ sự đối đầu ấy mới nảy sinh biến hóa. Mỗi quẻ có một tính nết riêng: Càn cứng mạnh, Khôn thuận theo, Chấn động, Tốn đi vào, Khảm sa xuống chỗ hiểm, Ly bám vào, Cấn dừng lại, Đoài vui vẻ.

Sáu mươi tư quẻ do hai quẻ đơn chồng lên nhau

Hai hình ảnh gặp nhau thì câu chuyện bắt đầu có chuyển động và có nhân vật.

Đặt một quẻ đơn lên trên một quẻ đơn khác thì được quẻ sáu hào, còn gọi là quẻ kép, tất cả có sáu mươi tư. Quẻ đơn nằm trên gọi là thượng quái hay ngoại quái, quẻ nằm dưới gọi là hạ quái hay nội quái. Sáu mươi tư quẻ chia vào tám cung, mỗi cung tám quẻ, và quẻ nào cũng có tên riêng.

Cách đọc tên quẻ gần như tự nhiên: đọc tượng của quẻ trên, rồi tượng của quẻ dưới, rồi tới tên quẻ. Lấy Hoán làm ví dụ: trên là Tốn, tượng gió; dưới là Khảm, tượng nước; vậy đọc là Phong Thủy Hoán. Gió trải trên mặt nước, hoặc nghĩ theo cách khác, Tốn là gỗ còn Khảm là nước nên có hình ảnh con thuyền lướt trên sông. Cái tên vừa là nhãn gọi, vừa là một bức tranh nhỏ. Người mới không cần học thuộc từng quẻ, vì đã quen tượng của tám quẻ đơn thì phần lớn quẻ kép tự dễ hiểu.

Tiên thiên và hậu thiên: cùng hình quẻ, khác chỗ đứng

Cùng một bộ tám quẻ, xếp theo hai cách sẽ kể hai câu chuyện không giống nhau.

Bát quái có hai cách bày trận. Cách thứ nhất gọi là bát quái tiên thiên, tương truyền do Phục Hy làm ra. Cách thứ hai gọi là bát quái hậu thiên, tương truyền do Văn Vương nhà Chu sắp lại. Hình quẻ và tượng quẻ giống hệt nhau, khác nhau ở vị trí và thứ tự.

Ở tiên thiên, Càn đứng phương Nam, Khôn phương Bắc, Ly phương Đông, Khảm phương Tây. Ở hậu thiên, Ly chuyển sang Nam, Khảm sang Bắc, Chấn ở Đông, Đoài ở Tây. Cách đặt hướng này còn ngược với tấm bản đồ quen thuộc, vì bản đồ để Bắc ở trên, Nam ở dưới, Tây bên trái, Đông bên phải, còn bát quái để Nam ở trên, Bắc ở dưới, Đông bên trái, Tây bên phải. Chi tiết nhỏ này cần ghi nhớ ngay từ đầu, bởi mọi phép đoán về phương hướng sau này đều dựa vào nó.

Tiên thiên được coi là sản phẩm của việc quan sát tự nhiên: ngẩng nhìn thiên văn, cúi xem đất, gần thì lấy từ thân mình, xa thì lấy từ vạn vật. Vì thế ban đầu chưa có lời quẻ lời hào, chỉ có hình tượng để suy ra nguồn gốc. Khi đã có hậu thiên, việc xem quẻ mới cần lời quẻ và lời hào làm điểm tựa. Với phép đoán bằng tượng và số, người ta lấy số của tiên thiên và dùng phương vị của hậu thiên.

Hai kiểu tượng: vật tượng và quẻ tượng

Giữa thế giới thật và những ký hiệu có một cây cầu hai chiều, đi qua hướng nào cũng được.

Dịch học chia tượng làm hai loại. Vật tượng là hình dạng thật của sự vật, có trước con số rồi mới sinh quẻ. Quẻ tượng là hình dạng của quẻ, xuất hiện sau con số. Đọc quẻ là đi một vòng: từ vật tượng hoặc con số tìm ra quẻ tượng, rồi từ quẻ tượng quay ngược để dịch lại thành vật tượng, nhờ đó thấy được mối liên hệ giữa quẻ và sự việc cùng xu hướng phát triển của nó.

Câu “Dịch giả, tượng dã” ý nói Dịch chính là tượng, mà tượng nghĩa là giống nhau. Quẻ giống sự vật ở một điểm nào đó, nên từ quẻ suy sang vật được. Người xưa nhìn quẻ như một cái cây, đi từ gốc Thái Cực đến cành lá, chứ không phải một bảng tra cứu rời rạc: Thái Cực chia động tĩnh thành hai nghi, hai nghi sinh bốn tượng, bốn tượng sinh bát quái, bát quái định lành dữ, lành dữ nảy sinh nên đại nghiệp.

Tên gọi là Dịch, nghĩa là dễ

Nhiều người nhìn quẻ như một vực sâu, trong khi cái tên của bộ kinh ấy đã trả lời trước.

Bộ kinh này được gọi là Dịch, chữ có nghĩa là đơn giản dễ làm, chứ không gọi là Nan, nghĩa là khó. Người ta dùng nó hằng ngày mà không biết, và nắm được phương pháp rồi mới thấy nó dễ học. Giống như một vị lãnh đạo mà ta chưa gặp thì ngại tiếp cận, nhưng trò chuyện vài lần mới thấy người ấy cởi mở.

Từ xưa đã có ba bộ Dịch là Liên Sơn, Quy Tàng và Chu Dịch, khác nhau ở ký hiệu, tên quẻ và thứ tự sắp xếp. Bộ lưu truyền đến nay là Chu Dịch, tương truyền do Văn Vương viết trong lúc bị giam, gồm hai phần lớn là bản kinh và phần truyện giải thích. Kinh Dịch lấy trời đất làm chuẩn mực, bao quát quy luật biến hóa của muôn vật trong vũ trụ lẫn quy luật của nhân sự, nên được xem là báu vật của văn hóa Trung Hoa và là kết tinh trí tuệ của người xưa.

Phần lời trong Kinh Dịch do Văn Vương, Chu Công và về sau cả Khổng Tử bổ sung, là tổng kết quý giá của người đi trước. Nhưng đừng vì thế mà thần thánh hóa nó tới mức cho rằng Dịch quá cao thâm không với tới. Chỉ cần quen bát quái và các loại tượng của bát quái thì có thể nhìn ra biến hóa của sự việc bằng cách quan sát hình tượng, không nhất thiết phải suy luận rườm rà. Người biết nhạc nhìn nốt là hát ra giai điệu; người biết tiếng Anh nhìn câu là hiểu nghĩa. Bát quái cũng là một thứ chữ viết và tiếng nói của riêng nó.

Đừng để chữ nghĩa cổ trói tay

Cái bẫy quen thuộc nhất của người học Dịch là dừng lại ở mặt chữ thay vì đi vào hình tượng.

Kính trọng cổ nhân là điều nên làm, nhưng nếu bị phạm vi tư tưởng của họ giam giữ, không dám bước ra ngoài, thì lại đi ngược với tinh thần “pháp vô định pháp” của chính Dịch. Đó cũng là lý do nhiều người nghiên cứu rất lâu mà khó có bước đột phá: họ đi mãi theo lối mòn nên dễ sa vào cảnh bế tắc.

Cách tiếp cận lành mạnh hơn là quan sát kỹ ký hiệu bát quái, tìm ra mối quan hệ cụ thể bên trong giữa quẻ tượng và việc được hỏi, từ đó hiểu lý lẽ, biết trước kết cục tất nhiên và định được lành dữ. Dịch đơn giản đến vậy, và “thiên nhân hợp nhất” cũng bình dị đến vậy.

Khi nhìn quẻ, thứ đáng giữ lại không phải tên sáu mươi tư quẻ, mà là tinh thần giản dị đứng đằng sau chúng. Quẻ trên nói điều gì, quẻ dưới nói điều gì, cả quẻ gợi bức tranh nào. Bức tranh rõ rồi thì phép tính và lý lẽ mới có chỗ bám. Ngược lại, vội chất thêm quy tắc khi chưa nhìn ra hình, người học rất dễ tự làm khó mình.

Người xưa để lại cả hệ thống ấy với một mong muốn rất thực tế: dạy ta nhìn thế giới như một thể hữu cơ, trong đó việc gì cũng có dấu hiệu báo trước, và con người có thể đọc các dấu hiệu ấy để chọn việc nên làm. Tám ký hiệu nhỏ bé vì vậy vừa là công cụ nhận thức, vừa là một cách ngồi lại lắng nghe trời đất.

Nguồn: Hoàng Giám, Dịch Hồn – Bát Quái Tượng Số Dự Trắc Pháp.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn