Bài tổng quan
Hào Nguyên Đường, ngôi nhà góc của quẻ Tiên Thiên, đếm theo giờ sinh
Mỗi lá số Hà Lạc có một ngôi nhà góc để từ đó đời người rẽ sang một vận mới. Ngôi nhà ấy chỉ do giờ sinh quyết định, theo một bài ca ngắn mà nghe qua tưởng đơn giản, nhưng có người phải đi nương nhờ hào của người khác mới tìm được chỗ ngồi...
Quẻ Tiên Thiên và quẻ Hậu Thiên của một lá số Hà Lạc
Khi con số Hà Lạc của một tuổi đã đổi ra quẻ Dịch, dù mới chỉ là cái tên, và khi hình thức của sáu mươi bốn quẻ đã quen thuộc, thì có thể an quẻ xuống giấy để tính nội dung theo lề lối riêng của môn số này. Nhưng trước khi hạ bút, nên biết quẻ ấy cần tính những việc gì, để việc an quẻ không bị vấp.
Có sáu việc phải tính: tìm quẻ Tiên Thiên và quẻ Hậu Thiên; tìm hào Nguyên Đường; biến Tiên Thiên thành Hậu Thiên; tìm quẻ Hỗ; tìm Đại vận; tìm Lưu niên.
Quẻ Tiên Thiên là quẻ Dịch đầu tiên do Bát Tự chuyển ra mà có. Nó chỉ chi phối tiền vận của đời mình, từ một tuổi cho đến tuổi nào đó do hào quyết định. Quẻ Hậu Thiên do Tiên Thiên sinh ra, và phải biết Nguyên Đường nằm ở đâu thì mới an được quẻ Hậu Thiên; cũng phải biết Nguyên Đường thì mới tính được Đại vận. Cần nhớ rằng Tiên Thiên và Hậu Thiên của số Hà Lạc khác hẳn Tiên Thiên và Hậu Thiên của Bát Quái trong Dịch.
Nguyên Đường: ngôi nhà góc của cả cuộc đời
Mọi lá số đều có một ngôi nhà góc, và từ ngôi nhà ấy người ta nhìn ra con đường đi của tiền vận lẫn hậu vận.
Sau khi xác định được quẻ Tiên Thiên thì phải tính hào Nguyên Đường và quẻ Hậu Thiên. Hào Nguyên Đường, gọi là nhà góc, là hào chủ mệnh của tiền vận (gắn với quẻ Tiên Thiên) hoặc hậu vận (gắn với quẻ Hậu Thiên) trong đời người. Nguyên Đường của Hà Lạc giống như cung Mệnh, cung Thân trong thuật Tử Vi. Nguyên Đường tốt xấu ảnh hưởng đến cả đời người. Nguyên Đường quyết định vận hạn đời người bắt đầu từ thời vận nào trong một quẻ Dịch, và Nguyên Đường của tiền vận sẽ quyết định Nguyên Đường của hậu vận.
Cách xác định Nguyên Đường không khó lắm nhưng có một số trường hợp dễ nhầm. Phải có quẻ Tiên Thiên trước rồi mới xác định hào Nguyên Đường, và hào ấy được quyết định từ giờ sinh. Trước hết phải xét giờ sinh thuộc giờ khí Dương hay giờ khí Âm, không phân biệt nam nữ.
Giờ khí Dương và giờ khí Âm
Sinh giờ khí Dương là sinh vào các giờ Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tị, sáu giờ khí dương nhiều. Sinh giờ khí Âm là sinh vào các giờ Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi, sáu giờ khí âm nhiều.
Nếu sinh giờ khí Dương thì tìm hào Nguyên Đường bắt đầu từ hào Dương trong quẻ Tiên Thiên sáu hào, đếm theo hệ Địa Chi. Đếm từ hào Dương dưới cùng, đi từ dưới lên, khởi đầu từ Tý, thoạt tiên chỉ đếm các hào Dương, đếm đến hào nào trùng với giờ sinh thì dừng lại và lấy hào đó làm hào Nguyên Đường. Nếu hết các hào Dương mà chưa gặp thì đếm sang các hào Âm, cũng từ dưới lên, lúc ấy chỉ đếm hào Âm, đến hào nào trùng với giờ sinh thì đó là hào Nguyên Đường.
Nếu sinh giờ khí Âm thì làm ngược lại: bắt đầu từ hào Âm dưới cùng, đi từ dưới lên, khởi đầu từ Ngọ, thoạt tiên chỉ đếm các hào Âm; hết hào Âm mà chưa gặp giờ sinh thì đếm sang các hào Dương, từ dưới lên, chỉ đếm hào Dương.
Năm loại quẻ, mười cách đếm
Nguyên tắc chung ở trên được vận dụng vào năm loại quẻ, tương ứng mười cách đếm thứ tự, tùy quẻ Tiên Thiên có bao nhiêu hào Âm và bao nhiêu hào Dương.
Quẻ một hào Âm, năm hào Dương
Sinh giờ khí Dương: đếm từ hào Dương dưới cùng, khởi từ Tý, chỉ đếm các hào Dương; hết năm hào Dương mà chưa gặp giờ sinh thì quay về hào Âm, đó là hào Nguyên Đường. Sinh giờ khí Âm: đếm từ hào Âm duy nhất ấy, khởi từ Ngọ, đếm hai lần trên chính hào Âm này (Ngọ, Mùi); chưa gặp giờ sinh thì đếm tiếp sang các hào Dương, từ hào Dương dưới cùng, chỉ đếm hào Dương, gặp hào nào trùng với giờ sinh thì đó là hào Nguyên Đường.
Quẻ một hào Dương, năm hào Âm
Sinh giờ khí Dương: đếm từ hào Dương duy nhất, khởi từ Tý, đếm hai lần trên chính hào ấy (Tý, Sửu); chưa gặp giờ sinh thì đếm sang các hào Âm, từ hào Âm dưới cùng, chỉ đếm hào Âm. Sinh giờ khí Âm: đếm từ hào Âm dưới cùng, khởi từ Ngọ, chỉ đếm các hào Âm; hết năm hào Âm mà chưa gặp thì quay về hào Dương, đó là hào Nguyên Đường.
Quẻ hai hào Âm, bốn hào Dương
Sinh giờ khí Dương: đếm từ hào Dương dưới cùng, khởi từ Tý, chỉ đếm các hào Dương; hết bốn hào Dương mà chưa gặp thì quay về hào Âm dưới cùng, đếm tiếp, chỉ đếm hào Âm. Sinh giờ khí Âm: đếm từ hào Âm dưới cùng, khởi từ Ngọ, sang hào Âm thứ hai là Mùi, trở về hào Âm dưới cùng là Thân, sang hào Âm thứ hai là Dậu (nghĩa là hai hào Âm được đếm hai lần); nếu chưa gặp giờ sinh thì đếm tiếp sang hào Dương dưới cùng, đếm lên, Tuất rồi Hợi.
Quẻ hai hào Dương, bốn hào Âm
Sinh giờ khí Dương: đếm từ hào Dương dưới cùng, khởi từ Tý, sang hào Dương thứ hai là Sửu, trở về hào Dương dưới cùng là Dần, sang hào Dương thứ hai là Mão (hai hào Dương được đếm hai lần); nếu chưa gặp giờ sinh thì đếm tiếp sang các hào Âm, đếm lên, Thìn rồi Tị. Sinh giờ khí Âm: đếm từ hào Âm dưới cùng, khởi từ Ngọ, chỉ đếm các hào Âm; hết bốn hào Âm mà chưa gặp thì quay về hào Dương dưới cùng, đếm tiếp, chỉ đếm hào Dương.
Quẻ ba hào Âm, ba hào Dương
Sinh giờ khí Dương: đếm từ hào Dương dưới cùng, khởi từ Tý, chỉ đếm các hào Dương; nếu chưa gặp giờ sinh thì đếm thêm một lần nữa, nghĩa là các hào Dương được đếm hai lần. Sinh giờ khí Âm: đếm từ hào Âm dưới cùng, khởi từ Ngọ, chỉ đếm các hào Âm; nếu chưa gặp thì đếm thêm một lần nữa từ hào Âm, nghĩa là các hào Âm cũng được đếm hai lần. Vì ba hào đếm hai lượt vừa đủ sáu giờ nên không bao giờ phải sang loại hào kia.
Bài ca nhớ cách đếm
Cổ nhân gói cả mười cách đếm trong bốn câu ca, để thuộc lòng là dùng được.
Quẻ một, hai hào âm dương, đếm đi đếm lại chạy nương nhờ người.
Quẻ ba hào âm như dương, đếm đi đếm lại không nương nhờ người.
Quẻ âm dương bốn, năm hào, đã không đếm lại mà sao nhờ người.
Đến như hai quẻ thuần hào, nữ nam khác hẳn, đặt vào lệ riêng.
Sinh giờ Dương thì nhận họ nhà Dương và đếm xem quẻ có mấy hào Dương để biết áp dụng câu ca nào, khởi đếm giờ Tý từ hào Dương, đi từ dưới lên. Sinh giờ Âm thì nhận họ nhà Âm, đếm xem quẻ có mấy hào Âm, khởi đếm giờ Ngọ từ hào Âm, cũng đi từ dưới lên. Theo hai câu đầu, khi gặp quẻ có một, hai hay ba hào cùng loại thì chỉ được đếm hai lần trên hào của mình (một lượt đi, một lượt lại); nếu chưa hết thì phải đếm tiếp sang hào của người, và khi sang hào người thì mỗi hào chỉ đếm một lần. Theo câu thứ ba, khi gặp quẻ bốn hoặc năm hào cùng loại, cũng khởi đếm từ hào của mình nhưng chỉ đếm được một lần; nếu chưa hết thì đếm tiếp sang hào của người, và bao giờ cũng đi từ dưới lên.
Sáu lá số làm thử
Sinh giờ Dương, gặp quẻ Địa Thủy Sư có một hào Dương
Nhận họ Dương, khởi đếm giờ Tý từ hào Dương. Hào Dương duy nhất của quẻ Địa Thủy Sư nằm ở hào hai. Giờ Tý và Sửu: Nguyên Đường ở hào hai Dương, vì đếm đủ hai lần trên hào của mình. Giờ Dần: Nguyên Đường ở hào một Âm, vì đã hết hai lần phải sang hào Âm và đi từ dưới lên, mỗi hào đếm một lần. Giờ Mão: Nguyên Đường ở hào ba Âm, bỏ cách hào hai Dương. Giờ Thìn: hào bốn Âm. Giờ Tị: hào năm Âm. Cho nên nếu sinh giờ Tý hoặc Sửu thì Nguyên Đường còn được ngồi ở hào hai Dương, hào của mình; sinh từ Dần đến Tị thì phải chạy sang hào Âm, nghĩa là phải đi nương nhờ người.
Sinh giờ Âm, gặp quẻ Phong Thiên Tiểu Súc có một hào Âm
Nhận họ Âm, khởi đếm giờ Ngọ từ hào Âm duy nhất, nằm ở hào bốn. Giờ Ngọ và Mùi: Nguyên Đường ở hào bốn Âm, hào của mình. Giờ Thân: hào một Dương, vì hết hai lần đã phải sang hào Dương, mỗi hào đếm một lần. Giờ Dậu: hào hai Dương. Giờ Tuất: hào ba Dương. Giờ Hợi: hào năm Dương, bỏ cách hào bốn Âm. Sinh giờ Ngọ hoặc Mùi thì Nguyên Đường còn ngồi ở hào bốn Âm là hào của mình; sinh từ Thân đến Hợi thì phải chạy sang hào Dương, nghĩa là phải đi nương nhờ người.
Sinh giờ Dương, gặp quẻ Trạch Địa Tụy có hai hào Dương
Nhận họ Dương, khởi đếm giờ Tý từ hào Dương, vẫn áp dụng câu ca thứ nhất. Hai hào Dương của quẻ này nằm ở hào bốn và hào năm. Đếm đi: Tý ở hào bốn Dương, Sửu ở hào năm Dương. Chưa hết thì đếm lại: Dần ở hào bốn Dương, Mão ở hào năm Dương. Chưa hết nữa thì phải đếm sang Âm: Thìn ở hào một Âm, Tị ở hào hai Âm.
Sinh giờ Âm, gặp quẻ Thiên Lôi Vô Vọng có hai hào Âm
Nhận họ Âm, khởi đếm giờ Ngọ từ hào Âm, vẫn áp dụng câu ca thứ nhất. Hai hào Âm nằm ở hào hai và hào ba. Đếm đi: Ngọ ở hào hai Âm, Mùi ở hào ba Âm. Đếm lại: Thân ở hào hai Âm, Dậu ở hào ba Âm. Chưa hết nữa thì đếm sang Dương: Tuất ở hào một Dương, Hợi ở hào bốn Dương, bỏ cách hào hai và hào ba Âm.
Sinh giờ Dương, gặp quẻ Hỏa Sơn Lữ có ba hào Dương
Nhận họ Dương, khởi đếm giờ Tý từ hào Dương, áp dụng câu ca thứ hai: đếm đi đếm lại, không nương nhờ người. Ba hào Dương nằm ở hào ba, hào bốn và hào sáu. Đếm đi: Tý ở hào ba Dương, Sửu ở hào bốn Dương, Dần ở hào sáu Dương. Đếm lại: Mão ở hào ba Dương, Thìn ở hào bốn Dương, Tị ở hào sáu Dương. Ba hào Dương đủ chỗ cho sáu giờ Dương đếm hai lượt, nên không cần đếm sang hào Âm nữa; vì vậy câu ca nói là "không nương nhờ người".
Sinh giờ Âm, gặp quẻ Thủy Trạch Tiết có ba hào Âm
Nhận họ Âm, khởi đếm giờ Ngọ từ hào Âm, áp dụng câu ca thứ hai. Ba hào Âm nằm ở hào ba, hào bốn và hào sáu. Đếm đi: Ngọ ở hào ba Âm, Mùi ở hào bốn Âm, Thân ở hào sáu Âm. Đếm lại: Dậu ở hào ba Âm, Tuất ở hào bốn Âm, Hợi ở hào sáu Âm. Ba hào Âm đủ cho sáu giờ Âm đếm hai lượt, nên cũng không cần đếm sang hào Dương nữa.
Nguồn: Giáo trình Bát Tự Hà Lạc.
