Bài tổng quan
Hồ lớn vận 9, thầy thuốc hưng gia, nước xung eo huyệt
Trước mộ là một hồ nước đẹp mà cả tài lẫn đinh đều rơi, bởi hai ngôi sao lửa cùng đổ dồn về đầu hướng. Có dòng họ nhờ một dòng nước gần huyệt mà sinh ra người làm thầy thuốc hưng gia. Có nhà lúc nào cũng thừa những người đàn bà ở góa, và người xem đất bảo chỉ cần dựng lại tấm bia đúng năm…
Mục lục · 6 phần
- 01Hồ lớn trước mặt ở vận 9 và hai ngôi sao lửa
- 02Thầy thuốc hưng gia ở vận 6 và gia môn không trong sạch ở vận 9
- 03Bốn phòng đều phát, chỉ thiếu niên mất sớm
- 04Lau sậy che ám, ba nam hai nữ ra đi trong hai năm liền
- 05Sơn Ất hướng Tân: vận 4 lắm góa phụ, qua vận vượng thì tu sửa bia
- 06Nước xung thẳng eo huyệt và chuyện trúng độc
Hồ lớn trước mặt ở vận 9 và hai ngôi sao lửa
Ngôi mộ họ Hứa lập sơn Đinh hướng Quý, vận 9. Long nhập thủ trên đất bằng; bên trái là ruộng thấp, bên phải là sông con, phía trước là hồ lớn. Chương Trọng Sơn nói cuộc này bại cả đinh lẫn tài vì hồ nước ở hướng bị sát chiếu.
Thẩm Trúc Nhưng đặt câu hỏi: mộ họ Trâu giảm sức vì vượng tinh không tới hướng, còn cuộc này vượng tinh đã đáo hướng, sao vẫn bại cả tài lẫn đinh? Ông thừa nhận vận 9 rất khó đoán. Ở hướng không có nước thì chắc chắn không tốt; nhưng nước ở hướng quá vượng, hỏa lại thêm sáng thì cũng không nên. Huống hồ phương Đoài có Tam Bích mộc sinh hỏa, phương Chấn có Thất Xích hỏa; lửa hội tụ về giúp đầu hướng nên càng dữ dội, cho thấy sự cấm kỵ của vượng tinh.
Ở vận Cửu Tử thường chỉ có hai sao tới hướng mà không thể tới sơn. Đại để ở sơn người ta lấy long Nhị Hắc, Bát Bạch nhập thủ. Vì thế nước ở hướng dùng nước ruộng, khe rạch, sông ngòi đều được. Ngoài ra, phương Nhất Bạch không thông khí thì đã không được, mà phương Nhất Bạch có nước lớn cũng sợ nước khắc hỏa; tóm lại là không nên thấy nước lớn.
Tắc Tiên nói hai vận Nhất và Cửu là những cuộc không có đáo sơn đáo hướng nên lập hướng rất khó. Khảm Nhất ở đầu thượng nguyên, thống lãnh các quẻ, rơi vào phương hướng thì không hẳn là không nên. Ly Cửu ở cuối hạ nguyên, khí của bản nguyên không trở lại để thông cho nó. Trong tam cát Nhất, Lục, Bát chỉ có một cát là Tham Lang, còn lại đều suy tử; cộng với hỏa tính mãnh liệt, hình và khí hòa trộn vào nhau, sự chế hóa gia giảm rất phức tạp, nên lập hướng ở vận 9 hết sức khó khăn. Đây là cuộc song tinh tụ hội ở hướng mà gặp hồ lớn thì hóa quá vượng. Long thần hạ thủy mà ngoài nước lại không có núi, nên bất lợi cho nhân đinh. Hướng tinh sắp nhập trung cung, qua vận 1 là nhập tù, hung là điều phải biết trước. Vì ở hướng có nước lớn nên có thể luận tù mà không trụ, nhưng song tinh tụ ở đầu hướng, lấy phi tinh ở hướng đáo sơn nhập trung cung là tù. Giả sử phía sau tọa có hồ lớn này thì mới có thể nghi là tù mà không trụ.
Bạch Hạc Minh nói trạch này hướng Quý thấy hồ lớn, nước được thêm sức mạnh của sao, song Cửu đáo hướng tức là hai hỏa tinh đến hướng nên phải luận hỏa tinh dữ dội. Nếu ở hướng chỉ có hồ nhỏ và sau hồ có núi thì song Cửu đáo hướng ở vận 9 vẫn luận cát, thành cách cuộc tài đinh đều vượng.
Thầy thuốc hưng gia ở vận 6 và gia môn không trong sạch ở vận 9
Một dòng nước nhỏ ở một phương có thể quyết định nghề nghiệp của cả dòng họ qua mấy vận.
Ngôi mộ họ Tiền lập sơn Đinh hướng Quý, vận 4. Các phương Giáp, Mão, Ất có nước phóng sáng. Chương Trọng Sơn nói sau khi táng, nhà dần dần khởi sắc; tới vận 6 có người làm thầy thuốc, gia nghiệp đại hưng; vận 7 và 8 bình bình; vận 9 suy bại, lại còn gia môn không trong sạch.
Thẩm Trúc Nhưng giải thích khởi sắc vì ba phương Giáp, Mão, Ất có nước. Vận 6 ra thầy thuốc hưng gia vì phi tinh Lục ở sơn tới cung Chấn, phương Chấn có nước nên phát cả tài lẫn đinh; Nhị Hắc tới Chấn nên chủ về thầy thuốc làm gia đạo hưng phát. Vận 7 và 8 bình bình vì phi tinh Thất ở hướng tới Đoài, Bát tới Kiền, cả hai cung đều không có nước. Vận 9 hướng tinh nhập tù nên suy bại; Tứ Cửu ở hướng là bạn bè (Tứ Cửu là âm thần), cộng với vận tinh Ngũ Hoàng của vận 9 tới hướng, nên chủ gia môn không trong sạch.
Tắc Tiên nhìn việc Lục ở sơn tới Chấn: qua vận 6, dùng nghề y mà hưng gia là do lập huyệt trên đất bình nguyên, bốn bề bằng phẳng, trong tám phương chỉ có phương Chấn là nước gần bên huyệt, là một quẻ thuần thanh, quyền lực khá mạnh đủ để bao phủ cả hai bên phải trái của toàn cuộc. Lại được Nhị Lục đồng cung, sức của thổ và kim tương sinh. Đây là phép đoán linh hoạt, căn cứ sơn tinh để định vận.
Bạch Hạc Minh cho biết trạch này vận 6 đại lợi vì ở phương Chấn của vận 6, Giáp là quẻ địa nguyên, các sao bay nghịch, vượng khí gặp nước.
Bốn phòng đều phát, chỉ thiếu niên mất sớm
Có cuộc đất nuôi cả bốn nhánh của dòng họ, nhưng cái tháp và ngôi nhà áp sát lấy đi những đứa trẻ.
Ngôi mộ họ Đàm lập sơn Nhâm hướng Bính, vận 4. Phương Mùi có một cái tháp; Khôn, Giáp có sông nhỏ, tới Đoài và Kiền thì to dần mà tụ lại, đến Khảm, Cấn thì thoát đi; phương Ly có vùng đất cao; phương Cấn có nhà.
Chương Trọng Sơn nói bốn phòng đều phát, chỉ phòng trưởng thì đinh khí hơi bạc. Chủ nhân đáp rằng đinh khí không bạc, có điều thiếu niên mất sớm khá nhiều.
Thẩm Trúc Nhưng giải thích bốn phòng đều phát vì quái lý của cả bốn phòng đều đắc cách. Tháp ở phương Đoài; phi tinh ở sơn tới là Lục, Lục là Kiền thuộc trưởng. Nhà ở phương Cấn, phi tinh ở sơn tới là Tam, Tam là Chấn cũng thuộc trưởng; phi tinh Tứ ở sơn tới hướng gọi là hạ thủy, mà Tứ là Tốn cũng thuộc trưởng. Do vậy ứng vào người con trưởng của phòng trưởng trong họ. Thiếu niên mất sớm vì địa bàn phương Cấn là Thất, thiếu nữ, lại có nhà áp sát.
Tắc Tiên cho rằng bốn phòng đều phát vì các sao bày ở long thần thủy bao bọc thấy nước Thất, Lục, Ngũ, Tứ, nên quái lý bốn phòng đều được nước. Bạch Hạc Minh nói thêm rằng long thần thủy bao bọc của hạ nguyên đều thấy nước nên chủ phát tài; còn nguyên nhân bất lợi cho phòng trưởng và thiếu niên thì lời đoán đã giải thích tường tận.
Lau sậy che ám, ba nam hai nữ ra đi trong hai năm liền
Người xem đất chỉ nói một câu về bãi lau sậy, và hai năm sau những con số đã trả lời cho ông.
Ngôi mộ họ Trịnh lập sơn Ất hướng Tân, vận 4. Phương Mão có ụ đất lớn, phương Kiền có bãi lau sậy. Nước theo hai phương Đoài và Khôn mà đi mất; phương Hợi có bãi sông, phương Khảm có ao, phương Ly có núi xa.
Chương Trọng Sơn nói mộ này sau khi táng hao tổn người và có góa phụ. Qua vận 5 thì tài khí đại lợi, đến vận Lục Bạch thì suy thoái, hiện đang ở vận Đoài, người trong nhà phải lo cho nhân đinh. Chủ nhân kể năm Giáp Tý và Ất Sửu có ba nam hai nữ bị thương tổn; ông đáp rằng về sau e còn hao tổn nữa vì phương Kiền bị lau sậy che ám.
Thẩm Trúc Nhưng chú: cuộc này Tứ nhập trung cung, Lục tới hướng, hướng không đắc thời nên luận hướng suy. Nhị ở sơn chủ có góa phụ; Tứ nhập trung cung chủ hao tổn nhân đinh. Nước của bãi lau sậy ở phương Kiền có Ngũ tới nên qua vận 5 tài khí đại lợi; đây gọi là nơi có nước sáng ứng chiếu gần bên, có khi còn quan trọng hơn hướng. Vận 6 bại vì Lục kim khắc Tốn mộc, lại có khách tinh Bát đáo hướng, không thoái tài sao được. Nay đang ở vận Đoài, Ngũ ở phương Kiền đi đã lâu nên là tử khí, bởi vậy phải hao nhân đinh. Năm Giáp Tý, Thái Tuế Thất nhập trung cung; năm Ất Sửu, Thái Tuế Lục nhập trung cung khắc Tốn mộc ở trung cung; nên ba nam hai nữ bị thương tổn. Câu lau sậy che ám của Trọng Sơn muốn chỉ sát khí của Ngũ và Thất.
Tắc Tiên nói qua vận 5 tài khí đại lợi là căn cứ thiên bàn mà đoán; vận 6 nhập tù thì lập tức khắc Tốn mộc ở trung cung, lại phạm phục ngâm toàn bàn. Bạch Hạc Minh nói năm Giáp Tý, Thất nhập trung cung, Tam tới Khảm, cùng hai sao sơn và hướng hợp thành đấu ngưu sát và giao kiếm sát, nên họa tới mức hao người. Năm Ất Sửu, Lục nhập trung cung, Nhị tới Khảm, cùng long thần thủy bao bọc hợp thành phục ngâm; Nhị lại là bệnh phù nên cũng chủ bệnh tật thương tổn.
Sơn Ất hướng Tân: vận 4 lắm góa phụ, qua vận vượng thì tu sửa bia
Cùng một tuyến sơn hướng, lúc là châu báu lúc là hố lửa, và chỉ vận mới đổi được điều ấy.
Ngôi mộ họ Từ ở Thanh Thành Kiều lập sơn Ất hướng Tân, vận 4. Sơn ở Thìn vòng qua Giáp nhập thủ, Tốn Tỵ giới nước. Phương Đoài trong minh đường có nước; ba phương Tuất, Kiền, Hợi có sông lớn; hai phương Tý, Quý có sông lớn xung chiếu thẳng vào eo huyệt; ngoài minh đường ở hai phương Đoài, Kiền có sông lớn.
Chương Trọng Sơn nói ngôi mộ này sau khi lập thì tài và đinh đều thiếu, lại phòng trưởng nhiều góa phụ; mọi điều đều ứng như vậy. Thẩm Trúc Nhưng giải thích cuộc đất phạm thượng sơn hạ thủy nên đương nhiên tài đinh đều ít. Khí Tốn thất lệnh nên phòng trưởng phải nhiều góa phụ. Có người ngụy tạo, cho rằng nếu bày ở vận 5, cuộc sẽ thành đáo sơn đáo hướng, tài vượng đinh cũng vượng; nhưng họ không biết rằng sơn gặp Ngũ Hoàng thì ít nhân đinh. Huống hồ ở đây còn có sông xung thẳng vào eo huyệt ở phương Khảm. Vận 4, trung cung là Nhị Khôn, vừa là sao Quả vừa là phòng trưởng; mộc khắc thổ ở vận 4 nên ứng nghiệm đúng như vậy.
Có bản chép một câu hỏi: đời này qua đời sau cứ không ngừng ra góa phụ, có cách nào bổ cứu không? Lời đáp: sơn Ất hướng Tân đương vượng trong các vận 3, 5, 7; một khi qua vận vượng thì chiếu theo hướng cũ mà tu sửa bia mộ, tự nhiên tài đinh đều vượng, lại tránh được họa cô quả. Đó là bản đề năm Gia Khánh thứ mười tám, chắc chắn là bản thật do Trọng Sơn viết.
Tắc Tiên nói kinh có câu sơn quản nhân đinh, nước quản tài, vốn là bí quyết đơn giản của phép đoán Huyền Không. Cùng một cuộc đất, cùng một hướng, ở vận 4 thì phạm thượng sơn hạ thủy nhưng qua vận 5 là đáo sơn đáo hướng; châu báu và hố lửa thay đổi theo vận, âm dương cũng khác theo thời.
Bạch Hạc Minh giải thích châu báu và hố lửa là cách gọi tuyến vị tốt xấu. Tuyến châu báu là hai sao sơn và hướng bay nghịch, tuyến vị thành cuộc vượng sơn vượng hướng. Tuyến hố lửa là hai sao sơn và hướng bay thuận, tuyến vị thành cuộc long thần ở sơn hạ thủy và long thần thủy bao bọc thượng sơn, tức phạm thượng sơn hạ thủy.
Nước xung thẳng eo huyệt và chuyện trúng độc
Hai chữ thương sát đủ nặng, nhưng ngôi mộ này còn thêm một chuỗi các sao đang cháy trong đầu hướng.
Ngôi mộ họ Hoàng lập sơn Quý hướng Đinh, vận 4. Phương Khảm có ruộng cao lạc mạch; phía trước huyệt là ruộng thấp; phương Đoài có nước xung thẳng tới.
Chương Trọng Sơn nói mộ này sau khi lập hơn mười năm thì tài đinh đều bất lợi, phòng trưởng nặng nhất, lại còn mắc bệnh về huyết. Một khi qua vận 7 còn có người bị trúng độc mà chết.
Thẩm Trúc Nhưng giải thích: cuộc đất này Tứ Lục thượng sơn nên phòng trưởng bất lợi. Hai sao Nhất Thất cùng tới phương Đoài, nước xung thẳng vào eo huyệt nên không tránh được bệnh huyết. Hơn nữa vận tinh Lục Bạch ở Đoài, Nhất Bạch ở nước, Thất Xích ở sơn; vận 7 Cửu tới Đoài còn mang theo Tứ Lục ở sơn, mộc sinh hỏa, hỏa khắc kim. Kim là đá, là loại thuốc độc. Cổ thư nói: ta khắc người thì chịu nhục từ người, vì tiền bạc mà thương tổn thân thể. Tứ Cửu (Tứ Lục mộc sinh Cửu Tử hỏa) khắc Lục kim thì là trúng độc mà chết.
Tắc Tiên trích “Huyền Không Bí Chỉ”: tương sinh mà có cái hại của sự xâm phạm nhau thì ngày sau kim và nước giao nhau. Ngôi mộ này Lục, Thất, Nhất cùng ở phương Đoài, nhưng thực tế Loan Đầu lại phạm kỵ nước xung thẳng vào eo huyệt; hình thế và lý khí cùng thành xấu, một khi gặp khách tinh xâm phạm thì đương nhiên ứng chuyện trúng độc mà chết. Bạch Hạc Minh nói thêm: phương Đoài có nước trực xung, đó gọi là thương sát, mà các sao ở phương vị này lại thất lệnh, nên phải luận hung.
Nguồn: Nguyễn Vũ Anh, Thẩm Thị Huyền Không Học – Phong Thủy Trong Bối Cảnh Kiến Trúc Hiện Đại.
