Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Đạo Gia

Bài tổng quan

Xuyên sa sinh trộm cướp, núi chầu xa và đập nước xao động

Đạo Học - Đạo Gia07/10/202612 phút đọc0 lượt đọc
Xuyên sa sinh trộm cướp, núi chầu xa và đập nước xao động

Sáu trăm mẫu ruộng tan thành mây khói, năm sáu người đàn bà thành quả phụ, và một ngọn núi nhô đầu ở phương Dần chuyên sinh ra kẻ trộm. Ở cuộc đất khác, ba ngôi sao đã đứng đúng chỗ mà trạng nguyên vẫn tuột khỏi tay chỉ vì một ngọn núi chầu xa không đẹp. Có nhà con cháu quanh năm choáng đầu hoa mắt, và người xem đất chỉ vào…


Xuyên sa trải dài ở Cấn và họa trộm cướp của thiếu nam

Ngôi mộ tổ họ Trần ở Dư Lục có một cuộc khác, cũng lập sơn Ất hướng Tân, vận 6. Mạch xuất từ ngọn núi cao ở hai phương Quý Sửu; khe nước ở phương Kiền chảy róc rách theo hai phương Đoài Khôn tới phương Ly. Phương Cấn có một vùng đồi núi trải ra, tới phương Mão thì thấp xuống, tới phương Tốn lại nhô cao lên.

Chương Trọng Sơn viết: lúc mới táng có vượng tinh chiếu huyệt, phương Ly có nước nên thuận lợi bình bình. Một khi qua hạ nguyên Giáp Tý thì hao tổn nhân đinh và có người làm trộm cướp, lại mắc các bệnh về huyết. Hao tổn nhân đinh vì Liêm Trinh cùng đến; làm trộm cướp vì Phá Quân bị thất hãm.

Thẩm Trúc Nhưng chú giải: lúc mới táng thuận lợi vì vượng tinh đáo hướng, phương Ngọ có nước. Khí Thất Xích không thông, lại có xuyên sa trải dài, nên qua hạ nguyên Giáp Tý chủ về làm trộm cướp. Tọa sơn cũng do Thất bay tới, nên đoán người làm trộm cướp là thiếu nam. Nhị Ngũ giao nhau ở tọa sơn, thêm Ngũ Thất đồng cung, lại Thất Cửu đồng cung ở Kiền. Thất là miệng, Ly là lửa màu đỏ, vì vậy chủ bệnh thổ huyết, huống hồ hỏa khắc kim. Cuộc đất này sang hai vận 8 và 9 thì thuận lợi vì hai cung Kiền Đoài có nước, nhưng cái họa làm trộm cướp vẫn không tránh được, vì phương Cấn có xuyên sa, hình cuộc không đẹp.

Tắc Tiên nói cuộc xuyên sa và cuộc thám đầu đều luận về trộm cướp. Một khi thất nguyên ứng vào vận ấy thì xuất hiện trộm cướp, và ngay cả khi đắc lệnh cũng phải lo mưu toan của bọn ấy. Trường hợp Phá Quân không thất hãm thì cũng phải kỵ Tam Bích và Ngũ Hoàng. Xem trường hợp này mới biết hình thế Loan Đầu đẹp xấu là điều cần thận trọng. Nhị Ngũ cùng tới ở Khảm Tốn là tượng hao tổn nhân đinh; Thất Cửu đồng cung ở phương Kiền là lửa chiếu vào Kiền, nên ứng kiêm cả chứng bệnh về huyết.

Bạch Hạc Minh giải thích rằng khi Thẩm tiên sinh nói khí Thất Xích không thông, ý chỉ hướng bàn ở phương Cấn thấy núi non, đó là cách long thần thủy bao bọc thượng sơn. Còn hai vận 8 và 9, tuy có vận nhưng vẫn không tránh được họa trộm cướp; đó là luận về mặt Loan Đầu phạm cách xuyên sa mà dẫn tới sự việc.

Núi chầu xa không đẹp và giấc mộng trạng nguyên bỏ lỡ

Ba ngôi sao Nhất, Lục, Bát đều đã đứng đúng chỗ, mà chỉ thiếu một ngọn núi cho đẹp.

Ngôi mộ họ Chu lập sơn Nhâm hướng Bính kiêm Hợi Tỵ, vận 6. Long từ ngọn núi thấp xuyên qua ruộng ở phương Khảm tới cửa sông; phương Đoài có ruộng thấp giới hạn mạch khí thuần thanh; phương Khôn có một nhánh nước tới minh đường; phương Mùi có một nhánh nước chảy ngầm tới mức không thấy. Ba phương Thìn Tốn Tỵ trước huyệt chỉ có ruộng cao, không thấy ánh nước. Phương Khảm có con sông mở rộng, chảy qua phương Chấn rồi đi mất ở phương Cấn.

Chương Trọng Sơn nói: đáng tiếc phía trước có núi chầu từ xa nhưng không đẹp. Nước ở phương Tốn không phóng quang tròn sáng được; nếu không thì đây là đất xuất hiện trạng nguyên. Nay ngọn núi trạng nguyên không đẹp, riêng phương Tham Lang lại không có nước, e rằng chút công danh nhỏ cũng không có, chỉ được giàu có mà thôi. Lời ấy đúng cả.

Thẩm Trúc Nhưng chú giải: cuộc này sơn Nhâm hướng Bính kiêm Hợi Tỵ, dùng phép Khôn Nhâm Ất. Phi tinh ở hướng là Nhất, Nhất tức Nhâm, Nhâm bài bố là Cự Môn; không dùng Nhất mà dùng Nhị nhập trung cung, đó là phép dùng thế quái. Ở hướng được Nhất Lục Bát, ở sơn cũng được Nhất Lục Bát, cho nên Trọng Sơn mới nói đây là cuộc đất trạng nguyên. Nhưng Nhất Bạch ở phương Tốn lại là miếng ruộng cao mà không có nước; ngọn núi trạng nguyên, tức triều sơn, thì xa mà không đẹp, nên mới nói chút công danh nhỏ cũng không có, chỉ giàu có mà thôi. Nếu triều sơn đẹp, phương Tốn có nước phóng quang, thành núi đẹp Lục Bạch phối nước Nhất Bạch, thì lẽ nào không đỗ trạng nguyên?

Tắc Tiên nhắc rằng Tam Bạch Nhất Lục Bát đã đáo sơn đáo hướng; trong vận 6 thế quái cho hai cuộc Nhâm Bính và Bính Nhâm, nhưng điều kiện là hình thế phải dừng tụ.

Bạch Hạc Minh lưu ý đây là cuộc kiêm tuyến, đồ hình dùng để khởi tinh, cho nên sao nhập trung cung phải lấy từ vận tinh của tọa và hướng để bài bố.

Cầu đá, núi cao và ba phương đại hung

Sao đã vượng ở sơn, núi đã cao ở sơn, vậy mà người vẫn rụng dần: bởi hung tượng không đứng một mình.

Ngôi mộ họ Hồ lập sơn Ngọ hướng Tý kiêm Hợi Tỵ, vận 6. Phương Ly có cao sơn; phương Kiền có một cầu đá, phương Cấn cũng có một cầu đá. Phương Kiền có nước tới, phương Cấn cũng có nước tới, rồi đến phương Hợi thì đi mất.

Chương Trọng Sơn viết: cuộc này sau khi táng hao tổn nhân đinh, tổ nghiệp suy bại tới tận cùng.

Thẩm Trúc Nhưng chú: ở cuộc đất này vượng tinh tới núi cao, phương Kiền có nước tới; cầu đá là Tam Thất Cửu; ở hướng là Nhị Ngũ Thất; cầu đá ở phương Cấn là Ngũ Thất Cửu. Tuy vượng tinh ở sơn tới sơn, nhưng không vượng tài đinh mà ngược lại còn hao tổn nhân đinh, là vì sao? Do ba phương Kiền, Cấn, Khảm đại hung. Đây là phép đoán linh hoạt, dùng để tham khảo cho trường hợp sơn vượng mà nhân đinh vẫn không vượng.

Tắc Tiên dẫn lời Huyền Cơ phú:

Nhiều tượng hung tụ tập khắc chủ, lực đơn độc nên khó chống trả.

Ba phương Kiền, Khảm, Cấn có các hung tinh bài bố, cầu đá xung chiếu vào hai bên phải trái của cung suy, nên điềm họa đã tiềm phục. Lúc táng, sao không đương vượng cho nên không nhiếp phục được các tượng hung; vả lại còn phạm thượng sơn nên không còn thuốc nào cứu việc hao tài tổn đinh.

Bạch Hạc Minh lấy các phương thấy nước ra so sánh: phương Kiền và phương Cấn là thủy suy tử đang đắc lực, còn nước ở phương Khảm là cát thủy sinh khí. Phương Ly thấy núi là long thần thủy bao bọc thượng sơn, phải luận hung. Đem các điểm ấy ra so thì đúng như Vương Tắc Tiên đã chỉ: nhiều hung khắc chủ, sức ít khó chống đỡ.

Núi lẻ loi ở Dần, tiếng học bài không dứt mà trộm cướp vẫn sinh

Có nhà theo đòi chữ nghĩa suốt ba nguyên, mà đất của họ lại có một ngọn núi chuyên sinh ra kẻ trộm.

Ngôi mộ tổ họ Trần lập sơn Canh hướng Giáp, vận 6. Chương Trọng Sơn viết: phương Dần có một ngọn núi đứng chơ vơ, phương Cấn thấy nước, nên ứng ra tiếng đọc sách không ngừng suốt cả ba nguyên. Lời chú kèm theo cho biết cuộc này vượng sơn vượng hướng, Nhất Tứ đồng cung ở đầu hướng, vì vậy toàn cuộc hợp thập. Nay đang ở vận 8, ít đinh mà cũng ít tài, lại còn chủ về xuất hiện trộm cướp.

Thẩm Trúc Nhưng chú: ngọn núi cao nhô lên ở phương Dần là cuộc thám đầu, nằm ở vị trí âm, nên trạch này xuất hiện trộm cướp; điều ấy ứng vào phòng hai, vì Khảm là trung nam, Ly là trung nữ. Nếu chiếu theo vận 8, phi tinh Nhị tới Dần, cũng là vị trí âm.

Bạch Hạc Minh giải thích: cuộc này phương Cấn rất hung vì thấy thám đầu sơn. Thấy thám đầu sơn ở gần là chủ trộm cướp, mà sao Nhất Bạch cũng chủ trộm cướp, cho nên biết ngôi mộ này sinh ra kẻ trộm. Vận 8, sao Nhị Hắc bài bố tới phương Cấn, thành cuộc Nhị Ngũ giao nhau, cũng là cuộc cấm kỵ trong phong thủy.

Đập nước xao động và con cháu hay choáng đầu hoa mắt

Mỗi cung của tám phương gắn với một bộ phận trên thân người, và nước động sẽ gõ đúng vào bộ phận ấy.

Ngôi mộ họ Tôn lập sơn Quý hướng Đinh, vận 6. Phương Ngọ có một bờ đê dẫn nước, theo Mùi Khôn Thân vòng qua Canh Dậu Tân thì mở rộng ra, đến Tân Tuất thì đi mất.

Chương Trọng Sơn viết: sau khi táng, tài đinh đều đại vượng, có điều con cháu hay mắc bệnh choáng đầu hoa mắt. Vận 7 bình bình; vận 8 tiền tài lại vượng.

Thẩm Trúc Nhưng chú giải: tài đinh vượng vì song Lục đáo hướng, ở hướng có nghịch thủy. Lệnh tinh của sơn tới hướng là hạ thủy, nhưng song Lục tỵ hòa nên nhân đinh vẫn vượng. Phần nhiều con cháu choáng đầu hoa mắt vì vượng tinh ở hướng là Lục, Lục là Kiền, là đầu, lại có đập dẫn nước, nên chủ về chứng đầu choáng mắt hoa; huống hồ long thần ở sơn hạ thủy cũng chủ các chứng này. Nước ở Khôn là Tứ mộc, đại thủy ở Đoài là Bát Tứ; Lục kim khắc Tứ mộc, ta khắc là tài, lại thêm thổ sinh kim, nên đại vượng tiền tài. Vận 7 bình bình vì phương Cấn không có nước. Vận 8 tiền tài vượng trở lại vì phương Đoài có nước.

Tắc Tiên giải thích: long thần thủy bao bọc thượng sơn mà gặp lưu tinh của năm và tháng bài bố tới khắc hay tiết khí thì cũng chủ các chứng bệnh ngoài thân. Mỗi phương ứng một bộ phận: Kiền là đầu, Khôn là bụng, Chấn là chân, Tốn là mật, Ly là mắt, Khảm là thận, Cấn là tay, Đoài là miệng. Trong cuộc thượng sơn hạ thủy các sao vốn đã thất thế, nên rất dễ bị hình thế Loan Đầu tác động.

Bạch Hạc Minh nói con cháu choáng đầu hoa mắt vì song Lục tới hướng, mà phương hướng lại có đập nước xao động. Nếu phương này gặp sao Tam Bích thì bệnh đầu ắt nặng hơn, vì Tam Bích là sấm, là tiếng động; đập nước xao động đúng là tượng ứng nghiệm, nên hung sự tăng gấp bội.

Hồ sáng như gương, thủy bị thổ khắc và nhập tù mà không trụ

Cùng một cuộc đất vừa nuôi tài, đinh, tú, vừa lặng lẽ lấy đi những người đàn ông.

Ngôi mộ họ Kim lập sơn Tốn hướng Kiền, vận 6. Long đến từ phương Tốn rồi nhập huyệt; hồ nước ở hướng sáng như gương; phương Khôn có nước; phương Đoài có nước từ xa chảy tới tụ hội rồi thoát ra ở phương Khảm; phương Chấn có sông rạch.

Chương Trọng Sơn viết: mộ này phát cả tài lẫn đinh, kiêm cả tú. Chỉ riêng nước ở phương Khôn là quẻ thiên bị khắc, chủ hao tổn đàn ông. Chủ nhân hỏi ứng vào phòng nào; Trọng Sơn đáp: phòng nào cũng bị, vì Nhị là sao của địa quái khắc thiên quái.

Thẩm Trúc Nhưng chú: đây là cuộc được cả tài, đinh, tú, vì hướng được vượng hướng là tiền tài, ở hướng cũng thêm nhân đinh, nên chủ tài và đinh; Lục Bạch là quan tinh nên chủ về tú. Phương Đoài có nước từ xa tới, khiến địa lực kéo dài hơn; đến vận Thất Xích cũng không sợ nhập tù. Địa quái ở phương Khôn là Nhị, quẻ thiên là Nhất, nên dưới khắc trên, nước bị thổ áp chế; phương này lại có nước nên chủ hao tổn nhân đinh. Huống hồ phương Khảm cũng là Nhất Nhị, phương Tốn có Tứ ở sơn, nên phòng nào cũng khó tránh. Phi tinh Lục ở sơn tới hướng đã là hạ thủy, vốn đã chủ tổn hao người; song Lục tới hướng Kiền phạm phản ngâm phục ngâm, Tốn Tứ thượng sơn cũng phạm phản ngâm phục ngâm.

Tắc Tiên nhận xét: vận 6 sơn Tốn hướng Kiền sẽ nhập tù ở vận 8. Ở hướng có hồ nước sáng như gương nên chủ lâu dài; nếu phương Đoài không có Ngũ của nước đến hóa giải thì cũng nhập tù mà không trụ. Song Lục tới Kiền vốn đã phạm phục ngâm, nhưng nay phương Kiền là hồ nước, khí đã trống trải nên có phạm cũng không hại. Trong toàn bàn phục ngâm, Tốn Tứ ở sơn, hai cung Khôn Khảm nước bị thổ khắc, vì thế không tránh khỏi chuyện tổn hao người.

Bạch Hạc Minh giải thích rằng khi Trọng Sơn nói quẻ địa Nhị khắc quẻ thiên Nhất, quẻ địa là sơn tinh, tức long thần ở sơn; quẻ thiên là hướng tinh, tức long thần thủy bao bọc. Việc Vương Tắc Tiên nói đến nhập tù là nói trạch vận đã tới lúc suy bại; ông chỉ ra hai trường hợp trạch không nhập tù: một là ở hướng thấy có tú thủy, chủ trạch vận lâu dài; hai là phương vị long thần thủy bao bọc Ngũ Hoàng thấy nước, cũng chủ trạch vận lâu dài.

Nguồn: Nguyễn Vũ Anh, Thẩm Thị Huyền Không Học – Phong Thủy Trong Bối Cảnh Kiến Trúc Hiện Đại.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Đạo Gia