Bài tổng quan
Bốn kho thấy nước, hai người tuổi Tý đỗ đạt, thần đồng
Bốn góc ngôi mộ đều có nước sáng và núi đẹp như ngọn bút, vậy mà người xưa đoán trước tám chín người trong nhà sẽ ra đi vào cuối một vận. Ở một ngôi mộ khác, chủ nhân tự tin nói con cháu sẽ có thần đồng, và người xem đất chỉ cần đếm bốn chữ Giáp, Canh, Nhâm, Bính. Còn một ngôi mộ phát tài ngay khi vừa táng…
Bốn góc có nước, núi như ngọn bút và nỗi lo cuối vận 5
Ngôi mộ họ Lục ở Cầu Cẩm Bằng lập sơn Dậu hướng Mão, vận 2. Bốn góc Kiền, Khôn, Cấn, Tốn đều có nước phóng ánh sáng, và ngoài mỗi dòng nước đều có một ngọn núi đẹp, hình như cây bút văn chương.
Chương Trọng Sơn nói sau khi táng, tài và đinh phát mạnh, lại có bậc danh nho xuất hiện; nhưng qua tới cuối vận 5 thì hao tổn tám chín người. Chủ nhân hỏi vì sao đoán chắc như vậy, ông đáp: tại nước ở phương Cấn nằm ở chỗ đầy đặn, thực.
Thẩm Trúc Nhưng giải thích: các phương Kiền, Khôn, Cấn, Tốn là bốn kho cùng mở, cũng là bốn dòng thủy triều dương, vốn không phải cuộc thay thế của tam nguyên. Bên ngoài nước, bốn phương đều có núi, lại đẹp như bút văn, nên sức rất mạnh. Thêm song Nhị tới hướng, vượng tinh chiếu huyệt, nên phát tài lớn và có danh nho; Khôn Nhị là văn thư, song Nhị lâm đầu hướng nên ra bậc danh nho, và đó cũng là điều làm nên sức mạnh của cuộc đất này. Đáng tiếc đến vận 5, phương Cấn là chỗ đầy thực, tức là núi non, nên đoán cuối vận 5 hao tổn tám chín người: mười năm cuối của vận 5 đã thông với khí vận 6, Lục tới Cấn chỗ đầy thực là cuộc long thần thủy bao bọc thượng sơn, người trong nhà không hao tổn sao được.
Tắc Tiên nói đây là cuộc nước ở Cấn; cuối vận 5 là khí của tương lai, sinh khí đã hao mòn, sao còn đem táng. Nhị là văn thư, vốn chủ về đại nho, nhưng vì nước ở Cấn gặp chỗ đầy thực nên làm hỏng cuộc tứ khố, ngầm phạm thượng sơn. Song Nhị ở hướng là sao Quả; sức long mạnh nên tổn hại nhiều người, cho nên đoán tám chín người.
Bạch Hạc Minh giải thích tứ khố là bốn chữ Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Quẻ Tốn chứa Thìn, Khôn chứa Mùi, Kiền chứa Tuất, Cấn chứa Sửu; bốn quẻ này đều thấy nước nên gọi là tứ khố thấy nước. Về chuyện hao tổn cuối vận 5, ngoài các lẽ ấy ông chỉ thêm hai lẽ để người đọc nghiên cứu: long thần ở sơn là sao Ngũ tới Kiền, Ngũ là thổ bị phi tinh thiên bàn Tam mộc khắc chế; và phương Kiền thuộc kim, làm tiết khí của Ngũ thổ.
Thanh cao quý hiển: Canh Tý đỗ đạt, Bính Tý đỗ sớm mà yểu
Một mặt nước tròn như gương nằm sát huyệt có thể nói cả năm sinh của người sẽ làm nên.
Ngôi mộ sơn Sửu hướng Mùi, vận 2. Hai bên phải trái có núi ôm; ngọn núi ở phương Khôn cao xa, tú lệ; Khôn Mùi có hồ lớn; phương Ly có nước tròn sáng như gương kề bên huyệt. Chương Trọng Sơn gọi đây là cuộc đất thanh cao quý hiển, người sinh năm Canh Tý, Bính Tý phát về khoa cử; nhưng người Bính Tý tuy đỗ sớm khi còn thiếu niên lại không thọ.
Thẩm Trúc Nhưng thấy hai núi ôm, triều sơn đẹp, bên trái có nước ở Ly, phía trước là hồ lớn, nên cuộc đất cực kỳ hoàn chỉnh. Đoán Canh Tý, Bính Tý phát khoa bảng là dựa vào phương Ly có nước: nước tròn sáng như gương sát huyệt tức là có thành môn. “Thiên Ngọc kinh” nói nước chiếu huyệt hữu tình là có thành môn. Thêm Nhất Tứ đồng cung thì không phát khoa bảng sao được. Đoán Canh Tý, Bính Tý vì phi tinh Nhất ở sơn đến cung Ly, mà trong Nhất có Tý. Nhưng phân kim Canh Tý đúng vị, Bính Tý hơi lệch nên đỗ sớm mà yểu mạng. Ông cũng giải bí quyết đoán năm sinh: sao bày tới thành môn Ly là Lục, tức Tuất; âm nhập trung cung bay nghịch thì Nhị tới Ly vượng, ấy là được một điều cát do thành môn. Ái tinh ở Ly là Lục, phi tinh là Nhất, Lục kim Nhất thủy nên đoán Canh Tý; còn Cửu Nhất là Bính Tý được bày ở cung Tốn thì xem phương Ly là thành môn phụ.
Tắc Tiên nói âm trạch có phát quý hay không là do hình thái đẹp của Loan Đầu, thành môn đúng cách, đồng thời phải xét sức mạnh yếu của long mạch để cân nhắc. Nếu thành môn phát quý thì lấy phân kim của cung đối diện với thành môn để suy năm sinh người phát quý, như ở cuộc này là Canh Tý, Bính Tý.
Bạch Hạc Minh nhận ra phương Ly thấy nước ứng với câu Nhất Tứ đồng cung là chuẩn phát khoa danh quý hiển và câu mộc nhập cung Khảm thì thân quý hiển; vậy hậu nhân đỗ đạt là đương nhiên. Phương Ly thấy nước hợp bí quyết thành môn, mà kinh nói bí quyết thành môn là tốt nhất, lập trạch an táng được đại cát; vì vậy hậu nhân mới thành người phi phàm.
Phát ngay khi vừa táng nhưng hai phòng kiện tụng không dứt
Có ngôi mộ giàu ngay lập tức, mà người nữ trong nhà cứ lần lượt ra đi và tiếng cãi vã chưa bao giờ lặng.
Ngôi mộ họ Bào lập sơn Tân hướng Ất, vận 3. Hai phương Đoài và Mão có nước; phương Cấn có đồi cao, ngoài đồi còn nhô lên một ngọn núi; nước ở Mão chiếu về hướng, nước ở Đoài sau tọa ngầm chiếu.
Chương Trọng Sơn nói mộ vừa táng xong đã phát, nhưng chỉ vượng tài mà không vượng đinh. Từ vận 1 tới vận 7, hai phòng không ngừng kiện tụng, phòng nào cũng hao tổn người nữ, vì Đoài là thiếu nữ, là lời qua tiếng lại thị phi.
Thẩm Trúc Nhưng giải thích: vừa táng đã phát vì vượng tinh đáo hướng lại có nước; không vượng người vì vượng tinh ở sơn tới chỗ có nước. Vận 7 hao nữ nhân vì phương Cấn là Thất, không những không có nước mà còn có đồi cao và núi cao, gọi là thượng sơn nên hao đinh. Phòng hai kiện tụng không dứt vì Nhị tới phương vị Cấn nên ứng phòng hai; Lục tới Cấn nên ứng kiện tụng. Đoài Thất là miệng lưỡi, là thiếu nữ. Thái Tuế năm Giáp Tý là Thất, Thất nhập trung cung tức là kiện tụng ngồi ở trung cung; Thất tới phương Cấn, Thất Xích lại gặp Thất Xích, nên chủ lời qua tiếng lại, hao tổn nữ nhân.
Tắc Tiên nói qua tới vận 7, đầu hướng phạm cuộc long thần ở sơn hạ thủy, cũng là tượng hao tổn nữ nhân. Bạch Hạc Minh nói thêm: long thần ở sơn lúc này là sao Thất Xích, theo ngũ hành Huyền Không thuộc kim, quẻ Đoài, nhân vật là thiếu nữ, nên biết ngôi mộ hao nữ nhân. Còn việc phòng hai kiện tụng suốt từ vận 1 đến vận 7, ông cho rằng đến vận 7 vận tinh Nhất Bạch tới Cấn, long thần thủy bao bọc ở Cấn phạm thượng sơn, lại gặp Nhị Hắc Cự Môn chủ kiện tụng; ứng phòng hai vì vận tinh Nhất Bạch tới Cấn mà Nhất Bạch chủ phòng hai. Chú giải của họ Thẩm nói vì Nhị tới Cấn nên phòng hai bất lợi, và Bạch Hạc Minh nói điểm này ông không đồng ý.
Cái tổ ở đất bằng và đứa trẻ thần đồng của họ Lỗ
Bốn can và bốn chi chồng lên nhau đúng chỗ, đủ để người chủ mộ nói trước rằng con cháu sẽ có thần đồng.
Ngôi mộ tổ của Lỗ Kỳ Chiêm ở Tiền Đường lập sơn Bính hướng Nhâm, vận 3. Huyệt nằm trên vùng đất bằng mở ra như hình cái tổ; bốn phương Giáp, Canh, Nhâm, Bính đều có nước đẹp. Chủ nhân nói trước rằng cuộc đất này sẽ ra thần đồng. Chương Trọng Sơn đáp: bốn phương Giáp, Canh, Nhâm, Bính có nước lớn phóng sáng; quẻ thiên có bốn chi Thìn, Tuất, Sửu, Mùi gia lâm vào bốn can ấy; nói ra thần đồng cũng không phải khoa trương.
Để thấy điều ấy, hãy xem vận bàn: ái tinh ở sơn là Thất, tức Canh; ở hướng là Bát, tức Sửu. Phi tinh Nhị ở sơn tới sơn là Mùi, Tam tới hướng là Giáp, Cửu tới Canh là Bính, Thất nhập trung cung là Canh; phi tinh Tam ở hướng tới hướng là Giáp, Tứ tới sơn là Thìn, Lục tới Canh là Tuất, Nhất tới Giáp là Nhâm. Vì thế mới có câu bốn chi Thìn, Tuất, Sửu, Mùi gia lâm vào bốn can Giáp, Canh, Nhâm, Bính.
Thẩm Trúc Nhưng trích “Đô Thiên Bảo Chiếu kinh”: Giáp Canh Nhâm Bính rất vẻ vang, con cháu về sau ra thần đồng; và: huyệt cần như cái tổ, mạch tới cung. Cuộc đất này hình như tổ mở lại có nước đẹp Giáp Canh Nhâm Bính, khớp với lời kinh. Huống hồ quẻ thiên ở hướng được vượng hướng, lại có Sửu Giáp cùng đến; ở sơn thì Canh, Mùi, Thìn cùng đến; phương Chấn thì Nhâm, Giáp cùng đến; phương Đoài thì Tuất, Bính, Canh cùng đến. Toàn là một khí thuần thanh, nên ra thần đồng là điều chắc chắn.
Bạch Hạc Minh giải thêm: Sửu là Bát, Giáp là Tam; ở vận 3 thì Tam là vượng tinh, song Tam tới hướng nên là vượng hướng. Canh, Mùi, Thìn đến sơn: Canh là Thất, Mùi là Nhị, Thìn là Tứ. Phương Chấn có Nhâm, Giáp: Nhâm là Nhất, Giáp là địa bàn địa nguyên long. Phương Đoài có Tuất, Bính, Canh: Tuất là Lục, Bính là Cửu, Canh là địa bàn.
Cuộc đất thượng sơn hạ thủy và phòng hai ít người
Những vì sao đảo ngược chỗ, nhưng thiếu ngọn núi chính phía sau lại giữ cho phòng lớn được yên.
Ngôi mộ sơn Tỵ hướng Hợi, vận 3. Hướng Giáp Mão có long đến, vòng qua Tốn Tỵ thì nhập thủ. Minh đường có nước ruộng chảy từ phương Đoài tới hướng. Các phương Nhâm, Tý, Quý có sông lớn mở rộng trước huyệt rồi theo Tuất, Kiền mà thoát. Mé dưới có sa ôm hữu tình, môi dưới có chỗ khuyết; phương Mão có ngọn núi đẹp, triều sơn như bình phong mở trước mặt.
Chương Trọng Sơn nhận xét cuộc này phạm thượng sơn hạ thủy; sau khi táng, phòng lớn bình bình, phòng hai ít người, vì phương Chấn có núi mà phòng hai nằm ở cung Chấn. Phi tinh Tam ở sơn tới hướng là hạ thủy; Tam ở hướng tới sơn là thượng sơn. Tam là Chấn nên thuộc phòng lớn; Nhất là Khảm, là con trai giữa, bày tới Chấn là Cửu, Cửu là Ly, là trung nữ; phương Chấn có núi mà không có sông nước nên phòng hai ít người.
Tắc Tiên giải thích: cuộc này các sao đảo ngược chỗ; sau táng phòng lớn bình bình vì thủy thần tuy phạm thượng sơn nhưng phía sau không có núi chính, lại gặp nước ruộng. Nhưng vì Nhất ở sơn nên không tránh được hạ thủy; phương Chấn là trung nam lại gặp lão mẫu khắc, đều là tượng phòng hai ít người. Bạch Hạc Minh chỉ rõ chuyện lão mẫu khắc trung nam: phương Chấn gặp Nhất, Nhị, Cửu. Cửu Tử sinh Nhị thổ, Nhị thổ khắc Nhất thủy; Nhất là Khảm, cũng là trung nam, Nhị thổ là lão mẫu, nên cuộc này ứng lão mẫu khắc phòng hai.
Nguồn: Nguyễn Vũ Anh, Thẩm Thị Huyền Không Học – Phong Thủy Trong Bối Cảnh Kiến Trúc Hiện Đại.
