Bài tổng quan
Hai ca lưu thời, rồi chuyện hỏa táng, bia mộ và mốc sơn giới
Giữa trưa, một đám cháy nhỏ bén vào chiếc khăn treo gần bếp; cũng giữa trưa, ở nơi khác, một cuộc điện thoại báo lãi lớn. Hai chuyện trái nhau mà cùng đọc được trên một bản đồ sao. Rồi đến lúc con người nằm xuống, tấm bia cũng có cách ghi của riêng nó…
Mục lục · 7 phần
- 01Đám cháy nhỏ ở bếp nhà họ Hà lúc giữa trưa
- 02Cuộc điện thoại báo lãi lớn của nữ sĩ họ Tạ
- 03Thổ táng và hỏa táng: hai con đường khác nhau
- 04Cách ghi một tấm bia mộ
- 05Hậu thổ và tiền thổ: nơi thờ thổ thần cạnh mộ
- 06Long bi: dùng một tấm bia để đón long khí về huyệt
- 07Sơn giới bi: mốc ranh của một cuộc đất long huyệt
Đám cháy nhỏ ở bếp nhà họ Hà lúc giữa trưa
Gia đình Hà Bình sống ở Hương Cảng. Một lần họ sơ ý gây ra hỏa hoạn, vì treo mấy chiếc khăn gần bếp lò. May mà người vợ đang xem tivi ở phòng khách ngửi thấy mùi khói nên phát hiện kịp thời; ngọn lửa nhanh chóng bị dập tắt.
Vụ cháy nhỏ ấy xảy ra vào năm Mậu Dần (1998), khoảng mười hai giờ trưa ngày 20 tháng năm nhuận âm lịch. Bốn trụ lúc đó là: niên trụ Mậu Dần, nguyệt trụ Kỷ Mùi, nhật trụ Quý Hợi, thời trụ Mậu Ngọ. Tuy sự việc xảy ra vào tháng năm nhuận, nhưng tra tiết khí thì đã qua tiết Tiểu Thử, nguyệt kiến là Mùi, tức tháng sáu dương lịch; vì vậy phải lấy tinh bàn của tháng Kỷ Mùi để tính.
Lấy vị trí bếp lò, nơi bốc cháy, làm điểm lập cực, thì cửa lớn (khí khẩu) nằm ở phía bắc. Xem tứ lưu tinh bàn, tổ hợp sao ở phương bắc như sau:
- Lưu niên: sao Nhị Hắc nhập trung cung, phương bắc có sao Thất Xích bay tới.
- Lưu nguyệt: sao Lục Bạch nhập trung cung, phương bắc có sao Nhị Hắc bay tới.
- Lưu nhật: sao Tứ Lục nhập trung cung, phương bắc có sao Cửu Tử bay tới.
- Lưu thời: sao Lục Bạch nhập trung cung, phương bắc có sao Nhị Hắc bay tới.
Xét tổ hợp sao ở phương bắc, ta thấy vừa có “Nhị Hắc, Thất Xích tương giao”, vừa có “Thất Xích, Cửu Tử tương phùng”, toàn là tổ hợp hỏa tinh. Nhị Hắc với Thất Xích là hỏa của tiên thiên, Thất Xích với Cửu Tử là hỏa của hậu thiên; hai thứ hỏa gặp nhau, cho nên phát sinh hỏa hoạn. May mà phát hiện sớm nên không có tổn thất lớn.
Cuộc điện thoại báo lãi lớn của nữ sĩ họ Tạ
Ngôi sao tốt đứng trọn vẹn ở cửa, và đúng vào buổi trưa một khoản tiền không ngờ chảy về.
Nữ sĩ họ Tạ ở Tân Giới được bạn bè rủ hợp tác mua bán. Một hôm bà nhận điện thoại báo tin thắng lợi, tiền lời không ít. Bà vốn không chuyên buôn bán, nay bỗng thu về một khoản lời lớn, thật bất ngờ. Bà nhận tiền lời được chia từ người bạn vào khoảng giữa trưa ngày 18 tháng hai năm 1998 (Mậu Dần).
Cửa lớn nhà họ Tạ mở ở hướng tây nam, nên phương tây nam là cung khí động. Tứ lưu tinh bàn cho thấy:
- Lưu niên lấy sao Nhị Hắc nhập trung cung, sao Bát Bạch bay tới phương tây nam.
- Lưu nguyệt lấy sao Nhất Bạch nhập trung cung, sao Thất Xích bay tới phương tây nam.
- Lưu nhật (ngày 18, Nhâm Tuất, tháng hai cùng năm) lấy sao Nhị Hắc nhập trung cung, sao Bát Bạch lại một lần nữa bay tới phương tây nam.
- Lưu thời (giờ Ngọ ngày ấy) lấy sao Nhất Bạch nhập trung cung, sao Thất Xích lại thêm một lần nữa bay tới phương tây nam.
“Huyền Không Bí Chỉ” viết: “Sao Vị nhập Đẩu Ngưu thì lụa là châu báu đầy nhà.” Trong nhị thập bát tú, sao Vị ở phương tây, sao Đẩu ở phương đông bắc; còn luận theo cửu tinh thì phương tây là sao Thất Xích và phương đông bắc là sao Bát Bạch. Vì vậy hai sao Thất Xích và Bát Bạch gặp nhau chính là “sao Vị nhập Đẩu Ngưu”, tài vận được đại lợi.
Thổ táng và hỏa táng: hai con đường khác nhau
Với người đã khuất, câu hỏi không còn là nhà ở hướng nào, mà là phần còn lại của thân xác nằm ở đâu.
Chuyện thổ táng hay hỏa táng là vấn đề của âm trạch, không dính gì tới dương trạch. Người xưa cho rằng nếu tìm được một cuộc đất có huyệt chân long để thổ táng hài cốt tổ tiên thì con cháu được long khí của tổ tiên phù trợ, có thể hiển đạt hoặc giàu sang, danh tiếng lừng lẫy. Còn táng vào hung địa thì ngược lại, con cháu gặp nhiều tai họa, bệnh tật, hoặc tán gia bại sản.
Với phép hỏa táng, các nhà phong thủy cho rằng khi hài cốt tổ tiên đã bị đốt thành tro thì không còn tiếp nhận được địa khí nữa, nên không còn ảnh hưởng tới con cháu. Khi ấy con cháu chỉ cần cải biến phong thủy của dương trạch cho tốt là có thể đổi được vận khí của bản thân. Do quan niệm như vậy, một số nhà phong thủy cho rằng sau khi hỏa táng chỉ cần tìm một “an kim địa” để thổ táng tro cốt tổ tiên. “An kim địa” nghĩa là sau khi táng, tro cốt của tổ tiên sẽ không gây ảnh hưởng bất lợi cho con cháu, nhưng cũng không làm cho con cháu đại phú đại quý, mà chỉ giúp vận khí của họ bình ổn.
Cách ghi một tấm bia mộ
Ba cột chữ trên mặt bia là ba lời khác nhau gửi đến người sống, người chết và thổ thần.
Ở đây ta lấy hình thức bia mộ của người Trung Quốc để phân tích. Thông thường mặt bia chia làm ba phần: bên trái, giữa và bên phải, quy ước đứng từ phía mộ bia nhìn ra.
- Phần bên trái (có thể gọi là phương Thanh Long): khắc tiểu sử của người được chôn lúc sinh tiền, hoặc khắc tư liệu về tuyến độ tọa hướng của huyệt.
- Phần giữa, còn gọi là “trung bảng”: khắc tên họ của chủ ngôi mộ.
- Phần bên phải (có thể gọi là phương Bạch Hổ): ghi tên con cháu đời sau lập mộ; phần cực phải ghi ngày tháng chôn cất, lập mộ hoặc trùng tu.
Lấy một tấm bia làm ví dụ. Bên trái ghi: “Bản sơn tọa Tý hướng Ngọ kiêm Quý Đinh cát độ phân kim chỉ nguyên, lập bi dĩ chí vĩnh thùy bất hủ” (nghĩa là bản sơn phân kim ở các độ tọa Tý hướng Ngọ kiêm Quý Đinh, lập bia để mong đời đời không hư hại). Đó là khắc tuyến độ tọa hướng của mộ bia. Có những ngôi mộ cổ ghi tuyến độ này trước tiên, ở mé cực trái, rồi mới ghi vài sự kiện đặc biệt trong tiểu sử người được chôn. Về tuyến độ tọa hướng, đại đa số chỉ khắc tọa hướng hai mươi bốn sơn; chỉ một số ít bia ghi kỹ hơn thì khắc cả tuyến phân kim nhị thập bát tú hoặc phân kim một trăm hai mươi long.
Phần giữa bia đề: “Thập bát thế hiển khảo Quách công Đại Phú (tỷ Hoàng thị nhụ nhân) chi đồng mộ”, nghĩa là mộ hợp táng của người cha tên Đại Phú, con cháu đời thứ mười tám họ Quách, và người mẹ là con gái họ Hoàng. Đó là tên họ lúc sinh tiền của hai người được chôn. (Chữ “hiển khảo” là cách tôn xưng người cha đã mất, “hiển tỷ” là người mẹ đã mất; nếu cháu cải táng cho ông bà thì dùng “hiển tổ khảo” và “hiển tổ tỷ”.)
Phần bên phải ghi: “Phụng tế nam Hữu Toàn, Nhật Quy”, là tên hai người con của người được táng. Bên dưới ghi tên hàng cháu; nếu có thêm đời sau thì ghi tiếp theo thứ tự: “phụng tế nam”, “tôn”, “tằng tôn”, “huyền tôn”. Ngày nay cách ghi tên con cháu đơn giản hơn, như có ba người con trai cùng con cháu của họ thì khắc “Tam đại phòng đồng bái lập” (con cháu ba đời cùng bái mà lập mộ), hoặc “Chúng tử tôn đồng bái lập”. Cực phải của bia ghi: “Âm lịch Bính Dần niên lục nguyệt thập tam nhật trùng tu” (ngày mười ba tháng sáu năm Bính Dần trùng tu mộ). Vị trí này chủ yếu dùng để ghi ngày chôn cất hoặc ngày trùng tu mộ; cách ghi ngày tháng cũng có nhiều hình thức, và các ngôi mộ cổ phần lớn ghi niên hiệu của triều đại, chẳng hạn “Càn Long Nhâm Tuất niên bát nguyệt” (tháng tám năm Nhâm Tuất đời Càn Long).
Năm chữ “sinh, lão, khổ, bệnh, tử” phối với số chữ trên bia
Ngoài việc phải theo cách thức ghi khắc văn bia, còn một điều rất trọng yếu là phải phối năm chữ theo thứ tự “sinh, lão, khổ, bệnh, tử” với số chữ ở phần trung bảng. Ở trung bảng, hai chữ “sinh” và “lão” là cát lợi; ba chữ “khổ”, “bệnh”, “tử” là bất lợi. Chữ thứ nhất phối với “sinh”, chữ thứ hai phối với “lão”, cứ thế theo thứ tự trên rồi quay lại chữ “sinh” lập lại thứ tự cũ. Như trong ví dụ, chữ “mộ” cuối cùng rơi vào chữ “lão” là tốt.
Hậu thổ và tiền thổ: nơi thờ thổ thần cạnh mộ
Mỗi vùng đất có một vị thần giữ đất, và người đi chôn cất không quên gửi gắm tổ tiên cho vị ấy.
Đa số người Trung Quốc tin rằng mỗi địa phương đều có một vị thổ thần, gọi là thần “Thổ Địa”. Sau khi chôn cất tiền nhân, người ta mong thần Thổ Địa chiếu cố đặc biệt cho người đã khuất, nên khi cúng tế tổ tiên cũng đồng thời cúng tế vị thần ấy. Cho thuận tiện, người ta bố trí một chỗ phía sau mộ phần để thờ Thổ Địa, gọi là “Hậu thổ”. Về sau có người cho rằng đã có “Hậu thổ” thì phải có “Tiền thổ”, nên lại thêm “Tiền thổ”. Có điều mộ có bố trí “Tiền thổ” thì ít thấy, còn “Hậu thổ” thì ngôi mộ nào cũng có.
Trong dân gian, giữa hai vị trí “Tiền thổ” và “Hậu thổ” có hai cách tính quan hệ nhất định:
- Cách thứ nhất: bắt đầu tính từ phần giữa của ngôi mộ. Khoảng từ phần giữa mộ ra tới giới tuyến phía trước là nơi thờ “Tiền thổ”; khoảng từ phần giữa mộ ra tới giới tuyến phía sau là nơi thờ “Hậu thổ”.
- Cách thứ hai: lấy đường kính của diện tích ngôi mộ để tính tỷ lệ phạm vi thờ “Hậu thổ”, và lấy bán kính của diện tích ngôi mộ để tính tỷ lệ phạm vi thờ “Tiền thổ”. Đây là cách tính giới tuyến trước sau của ngôi mộ được dân gian dùng thông dụng nhất. Người ta chọn hai vị trí thích hợp nhất trong phạm vi này, theo tình hình thực tế, để đặt trang thờ “Tiền thổ” và “Hậu thổ”.
Còn một điều cần lưu ý: có ngôi mộ con cháu đặt trang thờ “Hậu thổ” ở phía sau bên trái, có ngôi lại đặt ở phía sau bên phải, và điều này có ý nghĩa nhất định. Đặt ở phía sau bên trái là đại biểu cho người đàn ông được táng; đặt ở phía sau bên phải là đại biểu cho người đàn bà được táng. Nếu là ngôi mộ hợp táng nam nữ thì cả hai bên phải trái đều có trang thờ “Hậu thổ”.
Giới tuyến hai bên trái phải cũng có cách tính theo tỷ lệ của đường kính ngôi mộ: giới tuyến bên trái cộng thêm một đường kính, còn giới tuyến bên phải cộng thêm một bán kính; trang thờ “Hậu thổ” sẽ được đặt ở nơi thích hợp trong phạm vi ấy. Ngày nay, vì diện tích quanh mộ phần bị thu hẹp, người ta thường chỉ đặt một trang thờ “Hậu thổ”; hình thức nguyên thủy là mỗi bên trái phải đều có trang thờ riêng, và có những ngôi mộ có hai trang thờ “Hậu thổ”.
Long bi: dùng một tấm bia để đón long khí về huyệt
Khi con rồng không chịu dừng ở đúng huyệt, người ta dựng thêm một tấm bia để mời nó rẽ vào.
Đứng ở góc độ âm trạch, các nhà phong thủy rất coi trọng sự tốt xấu của hình thế núi sông. Họ cho rằng địa huyệt nào đón được long khí thì không quý hiển cũng giàu có. Có điều số huyệt đón được long khí không nhiều. Trong trường hợp ấy, các nhà phong thủy lão luyện dùng phương pháp “Long thần tiếp long bi”, tức dùng một tấm bia để tiếp long khí vào huyệt. Trước tiên phải tìm vị trí long khí chạy tới (gọi là “lai long”), sau đó đặt một tấm bia “Long thần tiếp long bi” sao cho tuyến hướng của bia long hô ứng hữu tình với bia mộ. Có như vậy mới đạt hiệu quả “tiếp long”.
Sơn giới bi: mốc ranh của một cuộc đất long huyệt
Có những tấm bia không để tưởng nhớ ai, chỉ để nói rằng mảnh đất này đã có chủ.
“Sơn giới” là thuật ngữ phong thủy chỉ chu vi chung quanh phạm vi kết tụ của long huyệt. Người ta dùng những tấm bia gọi là “sơn giới bi” để cắm mốc “sơn giới”, tránh việc người khác táng người thân của họ mà làm phạm long huyệt của mình. Cách bố trí là đặt các tấm sơn giới bi vòng quanh bia mộ, để phân biệt phạm vi cuộc đất long huyệt của mình.
Nguồn: Nguyễn Vũ Anh, Thẩm Thị Huyền Không Học – Phong Thủy Trong Bối Cảnh Kiến Trúc Hiện Đại.
