Bài tổng quan
Thôi quan: rồng, huyệt, núi và nước khiến một nhà có người làm quan
Hợi sơn cao một trượng đón được tiền tài, nước Tốn chỉ đọng một gáo cũng tránh được bần cùng; nhưng một ngọn núi lõm hãm ở sai chỗ thì cả dòng họ nghèo hèn. Người xưa xem rồng, xem huyệt, xem núi và nước bằng một câu hỏi duy nhất: nhà này có người làm quan hay không? Bút, cờ, ấn hay mũi giáo, ngọn núi nào báo điều gì?
Một ngọn núi đẹp hiện lên thì trong nhà có người thi đỗ; hai ngọn đẹp cùng hiện thì hai anh em cùng đỗ cao; ngọn núi thấp, tròn, nhỏ thì nhà chỉ giàu mà không làm quan. Người xưa nhìn dáng núi xa để đoán đường khoa bảng của con cháu, và nhìn nước chầu để biết có đến được chức tể tướng hay chỉ dừng ở một chức quan nhàn tản. Ngọn núi thế nào là cây bút, thế nào là lá cờ, thế nào chỉ dành cho người làm ruộng?
Long pháp thôi quan: dáng rồng và tổ sơn quyết định đường làm quan
Trong phép long thôi quan, tốt nhất là long Thiên Hoàng: long mạch được Thiên Hoàng chiếu rọi, ở phía đông của các tinh viên Thiên Thị, Thiếu Vi, Dương Toàn, thuộc tả quan cục; sao Liêm Trinh khởi từ tổ sơn liên miên bất tuyệt. Ở hữu quan cục, sao Liêm Trinh hiện ra tại Đoài vị rồi biến thành sao Thái Ất, hướng đông nam long khí thịnh vượng. Huyệt giáng xuống ở Dương khu mà nhận lấy sinh khí; hoặc thụ huyệt ở cung Thiên Hoàng. Thiên Hoàng, Thái Vi là chính phương; Dương khu là long mạch tốt nhất. Tứ thần bát tướng ứng với vị trí các sao mà nổi lên, tam hỏa cùng tam dương khí xung nhau.
Tam Dương huyệt chầu vào các vị Canh, Chấn thì Thực Ấp, Khai Phủ ứng nghiệm, làm quan cao đến chức tam công, vận khí tốt đẹp, lại xuất hiện đạo sĩ tiên ông, đệ tử Phật môn, như ở trên đài sen tiên cảnh, siêu phàm thoát tục. Dương khu khởi tổ ứng với vị trí Đoài, Tốn; thụ huyệt tại Cấn vị thì cũng có quan vận tương tự. Thiếu Vi khởi tổ, giáng xuống Cấn, Tốn vị thì cũng xuất hiện vương hầu phú quý lâu dài. Lục Tú biến thành cục Tử Vi, sa và nước đến vị trí nào thì quan vận hanh thông ở vị trí ấy. Lục Tú giáng ở khoảng giữa Canh và Chấn, thụ huyệt tại Tam cát thì văn làm đến tể tướng, võ làm đến đại tướng.
Dương Hoành khởi tổ, giáng xuống vị trí Tam cát, thụ huyệt ở Chấn, Canh thì làm võ tướng; ở Chấn, Canh có sa và nước chầu thì thống lĩnh quân đội, trấn giữ biên cương. Thiếu Vi đi qua Tốn vị rồi trở về vị trí Thiếu Vi thì nhân đinh hưng vượng, hoạnh phát tiền tài, nhưng quan vận không tốt lắm. Thái Ất đi qua Thiếu Vi rồi trở về Thái Ất thì có tài viết văn. Đoài ở phương tây, tiến vào Thiên Hoàng thì có tài văn bút nổi danh; Thiên Hoàng tiến vào Đoài vị thì làm quan to nhưng thanh bần. Long mạch Thiên Hoàng tiến vào Thiên Thị, ở phương đông, thì vinh hoa phú quý, đời con cháu cũng hưởng phúc dày. Thiên Thị và Thiên Hoàng là long pháp tốt nhất; ở bốn vị Tốn, Tân, Đoài, Đinh nhất định có người làm quan.
Sao Liêm Trinh làm thái tổ, thái tôn sơn thì hay hơn cả. Sao Liêm Trinh làm tổ sơn thì làm quan mau thăng chức. Ở Âm khu, Nam Cực và Thiên Hoàng vị, thế đi của long mạch thụ huyệt đều rất cát lợi. Thiên Bình, Tốn, Bính, long mạch trải dài thì chủ về an nhàn tự tại, phát tài. Hai đạo Quỷ, Ngưu sinh họa hại; hai đạo sát khí xông đến thì làm sao cát lợi được, phải đi ra từ hai vị Đinh, Cấn mới mong cát lợi.
Hợi sơn cao một trượng có thể đón tiền tài; nước Tốn chỉ đọng một gáo cũng có thể tránh được bần cùng. Tân sơn cao mười trượng có thể phú quý hòa thuận, nhưng không cứu được người khác họ. Đương Quyền ở thấp mà lại nhô lên như lưng ong, Âm Quyền có sa và nước đón nhau thì quyết không để La tinh chiếu xuống huyệt vị, nếu không sẽ liên tục gặp tai họa. Vị trí Dương Quyền có sa và nước chầu, Thanh Long, Bạch Hổ là hai sa sơn hộ vệ thì nhất định xuất hiện công hầu.
Ở vị trí Dương Khứ, long mạch có quỷ khí thì rất hung hiểm: trẻ nhỏ trong nhà chết yểu, người già mạng vong, vợ mất chồng, có người đi làm hòa thượng, ni cô. Long mạch đi đến vị trí Dương Cơ là tối hung hiểm, gia đình tuyệt tự, mộ phần cỏ cao lút đầu. Vị trí Khôi Canh cũng xấu, thường có tranh giành, cuối cùng chỉ còn là kẻ lênh đênh cô quả. Ở vị trí Âm Cơ, Thiên Bầu mà thụ huyệt thì sinh bệnh, què chân, mù mắt. Dương long nhấp nhô tản mát, hình dáng cô đơn, lộ huyệt thì sinh hung họa. Long mạch hành tiến nhấp nhô như vạn mã đang phi, dương cục hoàn hảo thì mới là tối cát lợi.
Huyệt pháp thôi quan: mỗi long mạch có những hướng đặt huyệt riêng
Cùng một dáng rồng, xoay huyệt về hướng nào thì thành thượng cách, hướng nào chỉ là trung cách hay hạ cách.
Long Hợi có bốn hướng đặt huyệt: hướng Bính là Nguyệt đối liễu tiêu, hướng Tốn là Kim xà thiểm điện, hướng Đinh là Thỏ nhập Mão phong, hướng Mão là Vạn mộc đăng viên. Long Cấn có tám hướng: hướng Đinh là Báo ẩn nam sơn, hướng Canh là Nguyệt xuất đông sơn, hướng Bính là Nguyệt chiếu hàn đàm, hướng Tân là Văn chương thiên phủ, hướng Dậu là Lạc đà tiến bảo, hướng Tốn là Đa kết thần đàn, một hướng là trung cách và hướng Mùi là hạ cách. Long Tân có ba hướng: hướng Tốn là Thiên vũ hỗn viên củng vệ, hướng Mão và hướng Cấn là trung cách. Long Tốn có thể chọn bốn hướng: hướng Tân là Lục luật triều dương, hướng Canh là Kim thủy tương sinh, hướng Hợi và hướng Cấn là trung cách.
Long Mão có ba cách chọn hướng: hướng Canh là Thân tọa lôi môn, hướng Dậu là Nhật nguyệt hợp bích, hướng Tân là trung cách. Long Canh có hai cách: hướng Mão là Nguyệt triển thiên quan, hướng Cấn là trung cách. Long Đinh có hai cách: hướng Hợi là Thọ tinh củng bắc, hướng Cấn là trung cách. Long Bính có ba cách: hướng Hợi là Lưỡng viên tương củng vệ, hướng Cấn là Nguyệt trầm đại hải, hướng Tân là trung cách. Long Đoài: hướng Tốn là thượng cách, hướng Đinh là trung cách, hướng Cấn là Ô điểu bạch thỏ giao đệ. Long Ly có nhiều hướng: hướng Nhâm là Ngũ mã cộng tào, hướng Dần là Hỏa lâm sinh địa, hướng Càn là Thiên mã hành không, hướng Quý là trung cách.
Long Nhâm có ba hướng: hướng Ngọ là Nguyệt đáo trung thiên, hướng Khôn là Tam hợp hùng mãnh, hướng Ất là nơi Huyền Vũ sở cư. Long Khảm có hai cách: hướng Ngọ là Thủy hỏa ký tế, hướng Khôn là Khảm thủy thành lục. Long Quý có hai cách: hướng Khôn là Nữ đả tỉnh thủy, hướng Ngọ là Khảm Ly giao phối. Long Khôn có bốn cách: hướng Nhâm là Nội hàm âm dương, hướng Khảm là Thủy điện ánh chiếu dương quang, hướng Ất là Tam hợp liên châu, hướng Quý là một cách khóa kín nơi cất vật quý. Long Càn có bốn cách: hướng Giáp là Vạn vật hoan vinh, hướng Thìn là Lục long ngự thiên, hướng Ngọ là Thanh Long Bạch Hổ phụ địa đồ, hướng Ất là trung cách.
Long Tuất có hai hướng: hướng Ất là Kim sát sở phục, hướng Giáp là Thiên ngô đới hỏa. Long Dần có hai hướng: hướng Khôn là Phong hỏa lãm địa, hướng Ngọ là Hổ bôn nam sơn. Long Giáp có hai hướng: hướng Khôn là Âm dương tương hợp, hướng Càn là trung cách. Long Thìn có hai hướng: hướng Giáp là Lộc mã phò tá Thanh Long, hướng Quý là trung cách. Long Tỵ chỉ có một hướng là hướng Hợi, thượng cách. Long Mùi có một hướng là hướng Cấn, trung cách. Long Sửu có hai hướng Đinh và Bính, đều là trung cách. Long Ất có hai hướng: hướng Khôn là thứ cách, hướng Càn là trung cách.
Huyệt pháp thôi quan có rất nhiều cách; phải chọn ở thân và ở eo lưng của long mạch để tiếp nhận sinh khí thì mới có cơ hội thực sự làm quan. Sinh khí vào từ hai bên tai thì rất dễ làm quan muộn. Vì tai và eo lưng nhận sinh khí nhiều ít không giống nhau, nên muốn tìm đúng cơ hội thực sự, nhất thiết phải hiểu kỹ, không thể sai sót mảy may.
Sa pháp thôi quan: núi nào ra bút, ra cờ, ra ấn, và núi nào chỉ làm giàu
Sa sơn thôi quan, tức những ngọn núi giục việc làm quan, có ở bốn phương. Sơn phong cao vút lên mây thì quan vận rất vượng. Sơn phong bốn bề đều thấp như hàng vạn chiếc hòm thì quan vận lẫy lừng ở châu phủ. Trên núi lắm đốm đá đen thì gia đạo lụn bại. Các ngọn núi đẹp xếp thành hình tam giác thì trong nhà có vàng bạc ngọc quý. Đỉnh núi đẹp mà có đường vắt ngang qua thì quan vận chẳng hanh thông, ruộng vườn của gia đình cũng mất dần.
Một ngọn núi đẹp nhô cao đoan chính, đầu long mạch độc bộ là cửa vàng. Nếu đỉnh núi thấp tròn, rộng mà đẹp thì đi thi ắt chiếm bảng vàng; đỉnh núi thấp nhỏ thì làm phú ông. Ở vị trí Dương Toàn có hai quả núi đối xứng là tốt nhất. Hai ngọn núi cao chọc trời thì xuất hiện tể tướng đại thần. Long mạch đến cục là công của tạo hóa, nhất định làm quan đến chức tam công. Tiểu sơn phong xuất hiện thì chức quan chỉ nhỏ. Ngọn núi thấp tròn mà nhỏ thì nhà chỉ giàu, không làm quan được. Một ngọn núi đẹp thì có người thi đỗ; hai ngọn núi đẹp cùng xuất hiện thì hai anh em cùng đỗ cao.
Ngọn núi xa như cây trụ, như búp măng thì có tài văn chương như Liễu Tông Nguyên. Có nước chầu, sa sơn hộ vệ thì cháu ngoại phú quý, con rể làm quan trong triều, cháu gái xinh đẹp khéo léo được tiến cung làm quý phi. Dương Toàn thấp mà Âm Toàn cao thì cũng có người đỗ tiến sĩ. Núi tròn nhô lên rồi trải dài như lá cờ thì nhà nhất định có võ tướng. Một ngọn núi đoan trang vuông vức thì bảng vàng chắc chắn có tên; nếu lá cờ nghiêng chếch thì chỉ được chức quan nhỏ.
Nếu sơn cốc lõm hãm, có nước khe chảy tới thì phải căn cứ vào chính long mạch mà chọn huyệt vị. Long mạch mang tử khí thì chủ về góa phụ mất chồng, thiếu niên yểu tử, làm ni cô, hòa thượng. Dương khu như đài bút ở Tam Thai, ngọn Tam Thai đẹp, nhỏ, cao thì có thể kết duyên với người trong hoàng tộc, hưởng lộc hoàng gia. Một ngọn núi đẹp, cao thì chiếm bảng vàng; nếu ngọn núi quá nhỏ thì cũng có vàng chôn ngọc cất. Nếu núi đá lởm chởm ngất nghểu thì quan vận lụn bại. Dương khu thấp, Âm khu cao cũng chủ về quan vận ăn lộc, khỏi nghi ngờ.
Tứ thần bát tướng từ các vị trí mà nổi lên, huyệt vị chân long, Thái Dương ở chính Ngọ, Đinh, Bính khai trương thì vàng bạc thu được nhiều không kể xiết. Hỏa tinh nên đối xứng với Thiên tú mà sinh, dựa vào âm dương của giới tự nhiên mà biến hóa. Ly vị nổi lên cao, Càn vị sáng sủa, có thể kiềm chế hỏa khí thì sinh người hiền năng. Hỏa tinh không sinh thì quan vận chẳng thông, tay chẳng nắm được quyền hành lớn, chỉ làm chức quan nhỏ nhàn tản. Hỏa tinh sinh thế nhỏ, nhật nguyệt sáng sủa thì sinh con phú quý. Nhật nguyệt không đốt mặt nhau, Thái Dương cao chiếu, Thái Âm đắc nước thì nhất định đại phú đại quý.
Sơn phong bao quanh Thìn vị như đai ngọc thì người này tài cao tung hoành. Ấn và thẻ ngà ở hai bên là tối cao quý. Khu Toàn ở Bính vị thì làm đến công khanh. Ấn và thẻ ngà ở vị trí Dần, Giáp thì sinh đạo sĩ, hòa thượng. Dương quang ở Quý, Sửu vị thì chủ trụy thai. Ly vị có ấn thì sinh con, cả nhà hưng vượng. Khảm, Quý vị mà đặt huyệt mộ thì người chết mất xác. Đoài vị có đao kiếm thì tướng quân oai phong lẫm liệt, trấn giữ biên cương. Ở Canh, Đoài, Tân vị, núi nhọn nhô cao như ngọn bút lên mây, nhất là ở phương đông nam, âm dương tương hợp, lại có Dương quan sơn thị vệ thì làm đại quan, được vua chúa trọng dụng. Đặt huyệt mộ ở vị trí Dương Hoành thì thiếu niên yểu tử. Dương Quan sơn lõm hãm, gió khe thổi tới mà đặt mộ ở đây thì người nhà gặp nạn. Dương Toàn sơn lõm hãm thì nghèo hèn.
Thôi Quan, Quý Lộc mà sơn thấp bé thì dù có tài văn chương cũng chẳng nổi danh, làm quan cũng chỉ được chức vụ nhỏ bé. Nếu cục thế của long huyệt không có gì tổn thất, lại có cát tinh chiếu xuống từ trên cao thì chắc chắn được làm quan. Vị trí cát tinh xuất hiện có cao có thấp, căn cứ vào độ cao thấp mà đoán phương hướng tiêu trưởng, cát hung. Sao Thiên Ất, Thái Ất là chân tài văn bút, chiếu xuống xán lạn thì nhất định xuất hiện trạng nguyên. Dáng núi trông đẹp nhưng ở vị trí rất hung hiểm thì chỉ e không dài lâu. Muốn chiếm được vị trí cát lợi, tránh vị trí hung hiểm thì phải căn cứ cụ thể vào long thần mà xét đoán: quan sát kỹ thế đi của long mạch, thẩm tra huyệt vị, nhận đúng sa sơn thủy cục.
Thủy pháp thôi quan: nước chầu về Tam Dương, Dương Toàn
Núi mới là cái khung của đường làm quan; nước là thứ làm cho cái khung ấy sống dậy.
Nước thôi quan nằm ở Tam Dương. Có nước chầu về, núi tú lệ thì quan vận rất vượng. Nước Dương Toàn chảy đến chầu văn bút phong thì thiếu niên đắc chí, khoa bảng đề danh, văn chương nổi tiếng thiên hạ. Nếu hai ngọn núi cùng đẹp, chĩa thẳng lên trời thì hai anh em nhất định cùng đỗ cao. Chỉ có núi hộ vệ mà không có nước chầu cũng là tướng vinh hoa tôn quý. Có cả núi hộ vệ lẫn nước chầu thì quá kỳ diệu: con trai làm phò mã, con gái làm quý phi, con cả con thứ đều có tài văn chương. Vị trí Tam Dương nếu không có núi hộ vệ, nước chầu thì không cao quý, chỉ phát tài, đắc lợi.
Nếu sáu vị trí nhận được sinh khí của vị trí Đoài, Hợi, có nước Dương Toàn chầu về thì chủ nhà vàng bạc đầy nhà; nếu long huyệt ở Cấn vị thì chỉ có phúc nhỏ. Ở Canh, Tân, Bính, Đinh có nước chầu về là tốt nhất. Vị trí Dương khu, Nam Cực có nước chầu, sa sơn tứ thần bát tướng hộ vệ tầng tầng lớp lớp vây quanh cửa vàng là tối hảo, gia đình chắc chắn có người làm tể tướng. Bính, Đinh vị có nước gọi là nước Xá Văn thì vĩnh viễn không sợ tai họa. Nước Tam Dương chầu về hướng Quỷ Hương thì trung nghĩa và trường thọ; nước Dương Toàn chầu thì phát tài, hảo vận.
Long huyệt nhận sinh khí của Thái Ất, ở hướng đông nam, có nước chầu, sa sơn tú lệ thì đi thi nhất định đỗ cao. Nếu có nước từ vị trí Thái Vi chầu về thì trường thọ. Nếu sa sơn lởm chởm đứt quãng thì phụ nữ phóng đãng. Ở Đoài vị kỵ nước lưu qua long mạch Dương Toàn, vì sẽ bị tội đày đi xa. Ở Thiên Hoàng, Thiên Mệnh, có nước chầu huyệt mộ thì phú gia định quốc. Ở Chấn, Canh vị có núi chĩa thẳng lên trời thì thành dũng tướng thống lĩnh ba quân; nhưng nếu nước Thiên Hán, Thiên Quan chầu về thì khó tránh tội bị chém đầu. Nước Dương Hoành chầu về thì dân chúng cả vùng no ấm. Long mạch hơi lộ, sa sơn lởm chởm thì có sự vi phạm thuần phong mỹ tục, dâm loạn xấu xa. Tối kỵ ngăn cản long mạch chạy vào Khôn vị, vì sẽ gặp họa sát thân. Nước Dương khu chảy vào minh đường thì gia đình ấm no dư dả. Nước Thiên Bình, Thiên Hoàng chảy đến thì gia đình dư tài phúc.
Nước Thiên Bình chảy vào long Thiếu Vi, nước Hợi chảy vào long Ly thì đều bị họa hình. Quỷ khí, Ngưu khí liên tục lai vãng không phải điềm tốt, chủ về cô quả. Nước Quỷ chảy đến, long mạch đi vào Chấn vị, ban ngày nghe như có tiếng sấm giữa trời trong; nước chảy đến thì giàu, nước chảy đi thì bại và tổn thọ. Dương Quyền, Âm Quyền giao hội với nhau, có nước chầu là tối cát lợi. Âm sa dương thủy chĩa thẳng lên trời thì thi đỗ cao, làm đến công khanh. Có sa sơn mà không có nước chầu cũng đỗ đạt; có nước chầu mà không có sa sơn thì cần có khí phú quý thịnh vượng. Âm Quyền, Dương Quang giao hội, sa sơn hộ vệ, có nước chầu thì nên táng mộ ở đó.
Long Ly với nước Khảm ở cạnh cửa nhà thì dương cục dễ làm cho chủ nhà phát tài, cũng dễ làm cho chủ nhà lụn bại. Dương Quan nhấp nhô thấp hãm, nước Khảm chầu đến thì chủ nghèo khổ thiếu thốn. Vị trí long Hợi kỵ có nước đến và nước đi; nếu có thì gia tộc tuyệt tự. Kiền vị, Hợi vị mà cả hai nước cùng chảy thì yểu tử; nước Tuất, nước Càn cùng chảy đến thì bị câm điếc và mù lòa.
Bí quyết thôi quan còn có thể giảng tiếp, nhưng e tiết lộ quá nhiều thiên cơ. Ai biết cũng không nên tùy tiện đàm luận và tiết lộ cho người khác.
Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 1.
