Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Đạo Gia

Bài tổng quan

Bốn khí, ba kiếp và bảy sao Bắc Đẩu in xuống đất

Đạo Học - Đạo Gia07/10/202613 phút đọc1 lượt đọc
Bốn khí, ba kiếp và bảy sao Bắc Đẩu in xuống đất

Trên mạch rồng, chỗ nào lở loét nham nhở thì cổ nhân gọi là bạo khí; trên huyệt, chỗ nào nhọn, chếch, cong, thẳng thì gọi là sát khí. Mỗi dáng đất mang một cái tên của khí, và bảy ngôi sao Bắc Đẩu cũng in bóng xuống mạch đất theo cách ấy. Vậy vì sao Kim gặp Thủy thì sinh phú quý, còn Thủy gặp Hỏa lại sinh ra khí tuyệt?


Bốn thứ khí trên mạch, huyệt, sa và nước

Nhìn vào một vùng đất, người xưa không chỉ thấy núi và sông mà còn đọc được cái khí đang nằm trong từng dáng đất. Trên mạch rồng, chỗ nào lở loét, nham nhở là bạo khí. Trên huyệt, chỗ nào nhọn, chếch, cong hay thẳng đuột là sát khí. Trong đám sa phong, ngọn nào ngoẹo đầu, nghiêng mặt là dâm khí. Trong dòng nước, đoạn nào chếch xéo, hỗn loạn là thoái khí.

Bốn con thú trấn giữ huyệt

Mỗi hướng của huyệt có một con thú canh giữ, và mỗi con có một dáng riêng để người xem nhận ra thế nào là vững, thế nào là hỏng.

Huyền Vũ ở sau lưng phải ngẩng đầu lên, không nên lè lưỡi, trề môi. Chu Tước ở phía trước phải lượn vòng, không nên bay chếch đi. Thanh Long và Bạch Hổ hai bên kỵ nhất là lõm sâu hay bị đè ép, dồn ép.

Phạm Việt Phụng nói về bốn con thú này kỹ hơn:

Huyền Vũ phải trụ vững, có bề thế, không nên giấu đầu co ro. Thanh Long phải ung dung vòng quanh, không nên sa xuống hố. Bạch Hổ phải chậm rãi mà chắc chắn, không nên cao nhọn như đang ngậm xác chết. Chu Tước phải cao đẹp, không nên có tiếng nước chảy nghe như than khóc.

Bốn hướng: nam hơn đông, đông hơn tây, tây hơn bắc

Hướng nam là tốt nhất, kế đến là hướng đông rồi hướng tây, hướng bắc là kém nhất. Lý do nằm ở chỗ nắng gió: huyệt quay về bắc thì lưng là dương mà mặt là âm, khó chịu nổi gió bấc, cũng như cành phía nam thì ấm mà cành phía bắc thì lạnh. Muốn để huyệt quay về hướng bắc, nhất định phải có núi án ôm vào lòng, lại có dòng nước che chắn gió bấc thì mới dùng được.

Bốn điều cần cầu: thế, ý, tình, lý

Mỗi thứ trong bốn thứ ấy có một cách xem riêng. Về thế của rồng, phải phân biệt thế đi, thế ẩn, thế ở giữa và thế chầu. Về ý của cục đất, phải thấy rõ đâu là chạm, đâu là kết, đâu là vòng lại, đâu là tản ra. Về tình của huyệt, phải nhận được đâu là chính, đâu là tà, đâu là hiền, đâu là dữ. Về lý của mạch, phải bình tĩnh mà nhìn chỗ nó chia ra và chỗ nó hợp lại.

Ba cái kiếp: trời, đất, người

Có ba cái họa ẩn trong thế đất, và mỗi cái đều có một lối cứu nếu thế đất còn quay đầu lại được.

Thiên kiếp là khi mạch rồng phân ra vừa lớn vừa dài mà không che chở cho huyệt. Nếu nó quay lại ôm lấy huyệt, hoặc che chắn cửa nước thì lại thành cát lợi.

Địa kiếp là khi Huyền Vũ lè lưỡi, vừa thẳng vừa dài. Nếu có núi hoặc nước chắn ngang thì trước hung mà sau cát.

Nhân kiếp là khi phía trước huyệt trống rỗng. Nếu có dòng nước chầu ngang, đón ngược lại thế nước chảy thì mới cát lợi.

Ba thế đứng, nằm, ngồi của ngọn núi

Thế đứng là ngọn núi nhô cao mà chân khí nổi lên. Thế nằm là ngọn núi ngẩng đầu mà chân khí lại chìm xuống. Thế ngồi là ngọn núi khuất khúc mà chân khí ẩn kín bên trong. Ba thế ấy ứng với ba kiểu huyệt trời, đất, người.

Núi lớn thì phải mở rộng ra, núi nhỏ thì phải thu hẹp lại. Chỗ thấp e bị ẩm, chỗ cao e bị gió thổi. Núi mập hợp với thế nổi lên, núi gầy hợp với thế chìm xuống. Mạch yếu thì phải tiến nhanh, mạch mạnh thì phải làm cho hòa hoãn.

Lý không thấy được nhưng hiện ra ở hình, khí hiện ra ở nước

Cái lý của Âm Dương và ngũ hành không nhìn thấy, nhưng nó hiện ra ở hình. Hình chính là chỗ lý lộ mặt rõ nhất. Cái khí của Âm Dương ngũ hành cũng không nhìn thấy, nhưng nó hiện ra ở nước, nước chính là dấu vết của khí. Hình thì lộ, lý thì ẩn; nước giao hội thì khí nằm giấu trong đó. Cho nên chỉ cần quan sát kỹ hình và nước là biết được lý và khí.

Địa kỷ và Thiên kỷ: hai cách lấy khí

Cùng một chiếc la bàn nhưng có hai cách khởi tính, tùy khí đã tới nơi hay còn đang trên đường tới.

Núi xuyên qua gọi là Địa kỷ: đó là khí đã tới nơi, núi sông có hình rõ ràng, nên Giáp Tý khởi từ Nhâm. Mạch thấu xuống đất gọi là Thiên kỷ: đó là khí còn chưa tới, là khí hậu vô hình, nên Giáp Tý khởi từ Hợi.

Nhà địa lý xác định núi đến nước đi để dùng khi nhập huyệt thì lấy theo Địa kỷ. Còn khi lấy khí suối vàng làm tọa huyệt thì lấy theo Thiên kỷ. Vì vậy mới nói la kinh của họ Dương là Địa kỷ, còn la kinh của họ Lại là Thiên kỷ.

Phép đặt hướng theo vị Sinh, Vượng và Hưu, Tù

Ở những phương vị Sinh, Vượng, nước phải đến rồi chảy đi, núi phải cao rồi thấp xuống. Ở những phương vị Hưu, Tù thì ngược lại: nước phải đi rồi chảy lại, núi phải thấp rồi nhô cao. Nếu dùng song sơn Tam hợp hay Huyền không ngũ hành để kiềm chế sự chuyển hướng, thì nước từ vị Sinh, Vượng mà đến, từ vị Hưu, Tù mà đi; chỗ Hưu, Tù thì lõm xuống, chỗ Sinh, Vượng thì nhô cao. Được như thế ắt cát lợi.

Cái bất biến và cái biến thể

Chân Âm Dương và chính ngũ hành là hằng số bất biến muôn đời, còn mọi thứ ngoài ra đều là biến thể của chúng. Ngọn núi vốn là tĩnh, nhưng trong tĩnh nhất thiết phải có động, mà động chính là biến thể. Người làm nghề phong thủy địa lý dùng biến thể chứ không dùng hằng số.

Thừa khí: mượn khí theo nạp âm và địa chi

Nếu nạp âm của năm thuộc Thổ mà phần dụng của mệnh lại thuộc Mộc thì Mộc khắc Thổ, hung hiểm. Nếu dùng Hỏa để chia Kim, Hỏa sinh Thổ thì cát lợi. Dùng vị Mão là tử khí, dùng Thìn là bạo khí, dùng Tỵ là tuyệt khí, dùng Dần là bệnh khí, dùng Thân là sinh khí. Ở nơi có Sinh, Vượng mà gặp Cô, Hư, Không vong thì mười hai chi không có gì phải kỵ. Hai mươi bốn vị trí đều lệ thuộc ngũ thần, mà ngũ thần có cát có hung, phải chú ý xem xét kỹ.

Bảy sao Bắc Đẩu in bóng xuống mạch đất

Muốn tìm long mạch phải biết dáng của bảy ngôi sao, có vậy mới phân được cát hung, họa phúc. Bảy sao ảnh hưởng qua lại, biến hóa sinh ra nhau, còn tạo hóa chỉ khai mở ở những chỗ trọng yếu. Tả Phụ và Hữu Bật luôn đi kèm với bảy sao ấy. Hình thế dưới đất vốn gắn bó mật thiết với thiên tượng trên trời: tượng sao trên trời hiện ra tương ứng ở dưới đất, khi thì ở nơi đất bằng, khi thì ở núi cao đá cứng, khi thì ở cây cối khô cằn hay tươi tốt rậm rạp.

Thậm chí có khi long mạch tà ác mà nhà cửa, đất nước lại ngày một thịnh vượng, có khi long mạch cát tường mà nhà cửa, đất nước lại suy bại, loạn lạc. Phần nhiều là do long mạch và khí hoặc khuyết hoặc xung, hoặc bình hòa, mà người xem đất thì định phần mộ, huyệt vị một cách tùy tiện.

Long mạch thô cứng, chạy thẳng, hùng hậu, kiêu kỳ thì hợp với dáng đao, kiếm, búa. Long mạch gấp khúc, ngửa ra, dàn trải thì e tà phong quét tới. Long mạch đi xuyên chứa nhiều yếu tố phá hoại chức tước, bổng lộc và sự liêm khiết. Nhưng long mạch cát tường mà kèm một long mạch đi xuyên sát bên thì lại mang đến hạnh phúc và quyền lực.

Núi chồng vợ, núi cha mẹ và bảy hình thái của mỗi sao

Đất cũng như người: có đôi có cặp, có cha có mẹ thì mới sinh ra con cháu đông đúc.

Có núi mái, núi trống ghép lại mới thành núi vợ chồng. Có núi cha mẹ mới sinh dưỡng được nhiều núi con cháu. Mạch rồng nhấp nhô như sóng cuộn, khi lặn khi ngụp để né khí hung sát. Lại có rồng nhe răng, rồng ẩn mình, rồng vượt sông qua cầu, rồng lưng ong gối hạc. Ba sao tốt, bốn sao dữ đều có huyệt tương ứng, và sao dữ mà gặp huyệt tốt thì lại hợp nhau, làm nên mộ phần, nhà cửa đem lợi cho con cháu đời sau.

Mỗi vì sao phân ra bảy hình thái là khẩu, giác, kiềm, thần, oa, nhũ, đột. Bảy hình thái gốc ấy đẻ ra muôn hình vạn trạng. Trước hết phải xem khí nước có hài hòa hay không, rồi xem chiếc râu tôm cứng hay mềm. Nếu mạch rồng ngoằn ngoèo, lên xuống bất định, thì phải về tận đầu rồng mà tìm nguyên do. Nửa sau của nó mà xấu xí thì nửa đầu nhất định đẹp.

Cần để ý kỹ góc huyền của mạch rồng, theo góc huyền mà chia các bộ phận. Nếu góc huyền xuyên qua vai lên tới đầu thì mạch ấy không chứa được chân khí. Chỗ bằng phẳng, tròn trịa của mạch là mặt của nó, chỗ gồ ghề, gập khúc là sống lưng. Ở mặt thì khí hài hòa, ở sống lưng thì đầy sát khí. Đặt mộ ở mặt là hợp, đặt mộ ở sống lưng sẽ gây tai họa cho con cháu. Nếu nắm chắc các phép niêm, hợp, khai thông, oa hoàn thì có thể dời mộ phần cho đúng quy củ và hợp lẽ.

Năm hành của núi và nơi đặt mộ

Mộc tinh vắt ngang qua đỉnh đầu, thai rồng lộ ra thì nên chọn đất mộ ở chỗ thấp và bằng. Thổ tinh trải bằng rồi quay vòng thành ổ thì khí rồng không lộ thẳng, nên dời mộ đến chỗ nhỏ nhô lên, khi ấy tiền tài, lợi lộc sẽ dồn về. Kim tinh bằng phẳng, tròn trịa thì có thể chờ thời, xét miệng và sừng mà đặt mộ. Hỏa tinh chỉ làm được tổ sơn của rồng, nên chọn nhà ở nơi núi Hỏa. Thủy tinh dài, thẳng và nhọn như ngòi bút thì có khí linh tú, và cũng như cây già, chỗ quý nhất là chồi non mọc ra từ gốc.

Chân long và huyệt đẹp phần nhiều ẩn trong chỗ bùn nước. Trong năm hành, chỉ Kim và Mộc mới hợp được với Thủy, ba hành còn lại đều không hợp với Thủy. Thủy gặp Hỏa thì sinh ra khí tuyệt, khí chết. Thủy gặp Thủy thì sinh người nữ dâm đãng. Thổ gặp Thủy thì dẫn tới phù thũng, xấu xí. Kim gặp Thủy thì huyệt và nhà khiến người giàu sang. Thổ với Thủy phối theo hình thì sinh ra tăng lữ. Kim gặp Mộc thì hôn nhân liên tiếp gặp tang tóc: vợ chết, cưới vợ khác lại chết. Kim gặp Hỏa thì sinh ra người tu hành mù lòa.

Đó là những lý lẽ sâu xa trong việc định vị trạch huyệt, không có thầy giỏi truyền dạy thì làm sao biết nổi. Trong sinh có tử, trong tử có sinh, sinh sinh tử tử xoay vòng không dứt, nương vào nhau mà tồn tại, mấy ai thấu hiểu cho cạn.

Bắc Cực, bảy sao và dáng bao kín của mạch quý

Trên trời có Bắc Đẩu quây quanh sao Cực, dưới đất cũng có một thế quây tròn như vậy để giữ khí.

Sao Bắc Cực và bảy ngôi chòm Bắc Đẩu trên trời có diện mạo tương ứng với hình thế núi sông dưới đất. Mạch rồng có nước đi cùng thì khí rồng mới trọn vẹn. Hình thế mạch rồng có thể dài hay ngắn, biến thành nhiều dạng khác nhau. Chỉ cần thấy rõ mạch có núi đi kèm hai bên rồi lại quây tròn, bốn phía kín gió thì nhất định mạch ấy giấu chân khí rất sâu. Bốn sao Lộc, Liêm, Phá, Văn che chắn ở cửa nước, tạo nên một vòng thành kín đáo. Một đốt mạch rồng chân chính cũng đủ sinh ra bậc đại quan. Người ta thường chê đó là khí rồng ngắn, thiếu, mà không biết khí rồng hùng tráng mới sinh ra bậc anh tài.

Bảy sao gồm Tham Lang, Cự Môn, Lộc Tồn, Văn Khúc, Liêm Trinh, Phá Quân, Vũ Khúc. Ai cũng bảo sao Văn Khúc có thể biến thành con báo, mà không hiểu ý sâu xa của chữ Văn. Được Văn Khúc bao quanh thì sinh ra trạng nguyên, cách nói này đã có từ rất sớm và được truyền lại mãi. Sao quý nhất là Văn Khúc, sao được tôn sùng nhất là Lộc Tồn và Cự Môn; hai sao này đi cùng nhau thì còn trẻ đã đỗ cao, hưởng lộc nhà vua. Muốn có võ công rực rỡ phải có Vũ Khúc chiếu tới. Tham Lang thì anh tuấn, đẹp đẽ. Tả Phụ, Hữu Bật đi kèm hai bên, giúp thêm cát lợi hoặc thêm hung hiểm.

Hai khí Âm Dương, động thì sống, tĩnh thì chết

Tinh hoa của bảy sao ứng với hai khí Âm Dương. Sống và chết chỉ khác nhau ở chỗ động hay tĩnh: động thì còn sinh tồn, tĩnh thì tử vong. Huyệt có kết hay không cũng bắt nguồn từ đó. Muôn vật trên đời không có nước thì chẳng thể sinh thành, hạn hán lâu không mưa thì đất chết.

Khí ngũ hành vận động xuyên suốt khắp quả đất. Khi nó nhận mạch khí của một ngôi sao nào đó thì gọi là một sao nào đó, lấy sao ấy làm gốc để chia ra các chi mạch, còn mạch chính gọi là hành mạch của sao đó. Chín sao đổi thế chín lần, tổng cộng có tám mươi mốt dáng, xếp thành hai mươi bảy hàng, mỗi hàng ba dáng. Khí ngũ hành vận hành cách quãng với nhau: có khi chạy ở phía trước mạch rồng mà biến hóa ở phía sau, có khi chạy khắp thân mạch, có khi biến hóa thành nhiều hình thái khác nhau. Khí huyệt nhận được ở bên trong, rốt cuộc có thể lấy Liêm Trinh làm tổ sơn; còn khi biến hóa linh hoạt khác thường thì không còn giống tổ sơn nữa.

Ai phân biệt thông thạo các dạng biến hóa của huyệt thì lúc xem đất sẽ không bị nhầm lẫn. Một mảnh đất vuông chia làm tám mươi mốt phần thì rõ ràng có bảy mươi hai nơi có thể điểm huyệt, năm nơi có thể làm mạch rồng, và bốn nơi không thể thành huyệt.

Người truyền phép này dặn rằng ai đã hiểu thì không cần thầy chỉ dạy cũng biết dùng, lưu lại để cứu giúp người nghèo khổ, và mong người học giữ kín, đừng dễ dàng nói ra với kẻ khác.

Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 2.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Đạo Gia