Bài tổng quan
Hỏa am, hai mươi tám tú, chín sao lưu niên, xả nước
Dựng nhà mà không lập Hỏa am thì nhà lạnh lẽo, thiếu căn cơ, ở lành ít dữ nhiều. Từ khoảng cách đo bằng bước chân, người xưa đếm sang hai mươi tám tú rồi chín sao lưu niên. Còn dòng nước, vào nhà như thức ăn vào miệng, và có sao…
Mục lục · 7 phần
- 01Hỏa am: cái nền ấm cho một ngôi nhà
- 02Chia chỗ ở, dời chỗ ở: nhập từ âm sang dương, từ dương sang âm
- 03Đếm sao theo hai mươi tám tú khi dựng hay dời nhà
- 04Chín sao lưu niên: Tham Lang năm nay ở cung nào
- 05Mở cửa, xả nước mà không phạm Tiên thiên, Hậu thiên
- 06Nước đến hay nước đi: mỗi sao một cách nhìn
- 07Xả nước theo thiên can, tránh bốn vị mạnh
Hỏa am: cái nền ấm cho một ngôi nhà
Xây nhà mà không lập Hỏa am thì nhà cửa lạnh lẽo, thiếu căn cơ, người ở đó lành ít dữ nhiều. Hỏa am nằm gần hay xa tùy ở con số phối hợp giữa bốn tượng của quẻ Dịch là Lão Âm, Lão Dương, Thiếu Âm, Thiếu Dương. Đó là quyết định của trời đất tự nhiên, không tùy theo sức người.
Ví dụ Kiền trạch, cách trung cung phải là năm mươi ba bước hoặc ba mươi mốt bước, tọa Bính hướng Nhâm, ấy là Kiền nhận khí sơ cửu nhất dương. Khảm trạch cách trung cung năm mươi hai bước hoặc mười tám bước, tọa Bính hướng Canh, là Khảm nhận khí sơ lục nhất âm. Cấn trạch cách trung cung năm mươi ba bước hoặc ba mươi hai bước, tọa Ất hướng Tân, là Cấn nhận khí sơ lục nhất âm. Chấn trạch cách trung cung năm mươi ba bước hoặc ba mươi hai bước, tọa Canh hướng Giáp, là Chấn nhận khí sơ cửu nhất dương.
Tốn trạch cách trung cung năm mươi hai bước hoặc hai mươi tám bước, tọa Nhâm hướng Bính, là Tốn nhận khí sơ lục nhất âm. Ly trạch cách trung cung năm mươi ba bước hoặc ba mươi hai bước, tọa Tân hướng Ất, là Ly nhận khí sơ cửu nhất dương. Khôn trạch cách trung cung năm mươi ba bước hoặc hai mươi tám bước, tọa Cấn hướng Khôn, là Khôn nhận khí sơ lục nhất âm. Đoài trạch cũng cách trung cung năm mươi ba bước hoặc ba mươi hai bước, là Đoài nhận khí sơ cửu nhất dương.
Khảo cứu các kinh cổ thì am chính là Thái Cực, âm dương đều từ đây sinh ra. Nói đại thể thì thấy được chỗ khác nhau, nói chi tiết thì thấy được chỗ giống nhau, nói thật tỉ mỉ thì thấy bao điều tinh vi huyền diệu.
Chia chỗ ở, dời chỗ ở: nhập từ âm sang dương, từ dương sang âm
Hỏa am là điểm nền; còn khi người ở muốn dời chỗ thì phải xét khí của hai nơi, bên đi và bên đến, thuộc âm hay dương.
Chia chỗ ở và dời chỗ ở là sự thay đổi bản quái tùy theo phương vị âm dương mà định nhà. Ví như từ Thìn nhập Tuất, từ Tỵ nhập Hợi, từ Tốn nhập Kiền, là bốn âm đắc khí bốn dương. Từ Bính nhập Nhâm, từ Ngọ nhập Tý, từ Đinh nhập Quý, là hai âm đắc khí ba dương. Từ Mùi nhập Sửu, từ Thân nhập Dần, từ Khôn nhập Cấn, là năm âm đắc khí năm dương. Từ Giáp nhập Canh, từ Mão nhập Dậu, từ Ất nhập Tân, là hai dương đắc khí hai âm.
Từ Tuất nhập Thìn, từ Kiền nhập Tốn, từ Hợi nhập Tỵ là bốn dương đắc khí bốn âm. Từ Nhâm nhập Bính, từ Tý nhập Ngọ, từ Quý nhập Đinh là ba dương đắc khí ba dương. Từ Sửu nhập Mùi, từ Dần nhập Thân, từ Cấn nhập Khôn là năm dương đắc khí năm âm. Từ Canh nhập Giáp, từ Dậu nhập Mão, từ Tân nhập Ất là hai âm đắc khí hai dương. Những trường hợp ấy gọi là đắc đạo, vạn sự hanh thông. Còn từ dương nhập dương, từ âm nhập âm là âm dương lạc nhịp, vạn sự bất lợi.
Đếm sao theo hai mươi tám tú khi dựng hay dời nhà
Đông tây cũng có Khảm Ly, nam bắc cũng có Chấn Đoài; bốn phương tám hướng đều có thể xây nhà. Chỉ e kinh cổ chứa nhiều điều huyền diệu khó hiểu, người thường chẳng tỏ tường, cho nên ở đây chỉ nêu một yếu quyết cho dễ hiểu.
Từ góc cung Tốn, khởi đếm ngược qua hai mươi bốn vị; mỗi góc trong bốn góc quản hai tinh tú, mỗi thiên can, địa chi quản một tinh tú, dùng bốn mặt tức là thất chính. Khi xây dựng hay dời nhà, từ đầu đến cuối lấy tinh tú nhập thẳng vào trung cung, dương thì đếm thuận, âm thì đếm nghịch, đến bản trạch, xem kỹ sinh hay khắc, sẽ biết tình hình lành dữ của ngôi nhà.
Giả dụ Ly trạch đến chữ Tân, sao Vị gặp sao Nguy thuộc Thủy, mà Kiền thuộc Kim, là Kim Thủy tương sinh, thì vô cùng lành. Năm Sửu làm nhà, dùng sao Ngưu, đếm ngược đến vị Kiền thì gặp sao Vị. Những trường hợp còn lại cứ theo cách ấy mà đoán.
Chín sao lưu niên: Tham Lang năm nay ở cung nào
Sao không đứng yên một chỗ: mỗi năm, mỗi tháng nó nhích sang một cung khác, và ngôi nhà phải đổi theo nhịp ấy.
Chín sao là Tham Lang, Cự Môn, Lộc Tồn, Văn Khúc, Liêm Trinh, Vũ Khúc, Phá Quân, Tả Phụ, Hữu Bật. Lưu niên nghĩa là vận hành, dời chuyển. Năm Tý và năm Dậu, Tham Lang ở trung cung. Năm Sửu và năm Tuất, Tham Lang ở cung Chấn. Năm Mão, Tham Lang ở cung Khôn. Năm Thìn, ở cung Khảm. Năm Tỵ và Ngọ, ở cung Cấn. Năm Mùi, ở cung Đoài. Năm Thân, ở cung Kiền. Đếm thuận theo chín cung thì biết năm nào sao nào đến cung nào.
Tháng làm nhà cũng đối ứng với chín sao. Tháng Giêng và tháng Mười, Tham Lang ở trung cung. Tháng Hai, tháng Ba và tháng Chạp, Tham Lang ở cung Chấn. Tháng Năm ở cung Khảm. Tháng Sáu ở cung Ly. Tháng Bảy ở cung Cấn. Tháng Tám ở cung Đoài. Tháng Chín ở cung Kiền. Đếm thuận theo chín cung thì biết tháng nào sao nào đến cung nào.
Mở cửa, xả nước mà không phạm Tiên thiên, Hậu thiên
Cửa nhà và đường nước đi ra là hai chỗ dễ bị phạm nhất, vì mỗi quẻ có hai người bạn đồng hành: một ở Tiên thiên, một ở Hậu thiên.
Tiên thiên là Kiền thì Hậu thiên là Ly. Sơn Kiền Giáp Nhâm mà cửa mở ra các vị Dần Ngọ Tuất là phạm Hậu thiên; sơn Dần Ngọ Tuất mà mở ra các vị Kiền Giáp Nhâm là phạm Tiên thiên. Cả hai đều hung hiểm.
Tiên thiên là Khôn thì Hậu thiên là Khảm. Sơn Khôn Ất Quý mà mở ra vị Thân Tý Thìn là phạm Hậu thiên; sơn Thân Tý Thìn mở ra vị Khôn Ất Quý là phạm Tiên thiên. Tiên thiên là Ly thì Hậu thiên là Chấn: sơn Ly Dần Tuất mở ra vị Chấn Canh Hợi Mùi là phạm Hậu thiên; sơn Chấn Canh Hợi Mùi mở ra vị Dần Ngọ Tuất là phạm Tiên thiên. Tiên thiên là Khảm thì Hậu thiên là Đoài: sơn Thân Tý Thìn mở ra vị Đoài Đinh Tỵ Sửu là phạm Hậu thiên; sơn Đoài Đinh Tỵ Sửu mở ra vị Thân Tý Thìn là phạm Tiên thiên.
Tiên thiên là Cấn thì Hậu thiên là Kiền: sơn Cấn Bính mở ra vị Giáp Nhâm là phạm Hậu thiên; sơn Giáp Nhâm mở ra vị Cấn Bính là phạm Tiên thiên. Tiên thiên là Tốn thì Hậu thiên là Khôn: sơn Tốn Tân mở ra vị Khôn Ất Quý là phạm Hậu thiên; sơn Khôn Ất Quý mở ra vị Tốn Tân là phạm Tiên thiên. Tiên thiên là Đoài thì Hậu thiên là Tốn: sơn Đoài Đinh Tỵ Sửu mở ra vị Tốn Tân là phạm Hậu thiên; sơn Tốn Tân mở ra vị Đoài Đinh Tỵ Sửu là phạm Tiên thiên. Tiên thiên là Chấn thì Hậu thiên là Cấn: sơn Chấn Canh Hợi Mùi mở ra vị Cấn Bính là phạm Hậu thiên; sơn Cấn Bính mở ra vị Chấn Canh Hợi Mùi là phạm Tiên thiên.
Nước đến hay nước đi: mỗi sao một cách nhìn
Nước vào nhà giống thức ăn vào miệng, hơi thở vào mũi, ánh sáng vào mắt. Mỗi sao ứng với một bộ phận của cơ thể, nên cũng đòi hỏi một cách đón nước riêng.
Sao Tham Lang, trực ngũ hành là Tràng Sinh, rất lành. Nước chảy đến trước cửa thì phú quý hưng vượng; nước chảy đi thì vạn sự suy bại. Lẽ ấy giống người ta có miệng: thức ăn từ miệng đi vào chứ không thể từ miệng nhả ra. Thức ăn vào bụng thì lục phủ ngũ tạng sung sức dồi dào; thức ăn nhả ra khỏi miệng thì cơ thể ốm yếu bất lực.
Sao Cự Môn, thêm Tả Phụ Hữu Bật: nước chảy đến hay chảy đi đều lành. Giống như người có hai lỗ mũi để thở ra hít vào, Tả Phụ Hữu Bật phò trợ hai lỗ mũi ấy. Thở ra hít vào thông đạt thì cơ thể điều hòa; mũi nghẹt thì người sinh bệnh. Nên nước đến hay đi đều hợp là vì vậy.
Sao Lộc Tồn, trực ngũ hành là Tuyệt và Thai; nước nên chảy đi mới lành, chảy đến chầu thì hung. Sao Văn Khúc, trực ngũ hành là Mộc Dục và Quan Đới; nước chảy đi là lành, nước chảy đến thì bất lợi, chủ sự dâm đãng; ví như tai bên trái của người. Sao Liêm Trinh, trực ngũ hành là Bệnh và Tử; nước phải chảy đi, nếu nước chảy qua minh đường thì có hỏa tai, kiện tụng, bệnh tật, hao tài; ví như tai bên phải của người.
Sao Vũ Khúc, trực ngũ hành là Lâm Quan và Đế Vượng. Nước chảy đến gọi là Học Đường thủy, sinh người thông minh anh tuấn; hoặc gọi là Hoa Cái thủy, chủ đại phú đại quý; không nên chảy đi. Ví như con mắt của người là thần của toàn thân, nước chảy đến thì thị lực càng sáng. Sao Phá Quân, trực ngũ hành là Mộ. Nước chảy đến thì không lành, sinh con bất hiếu, phạm tội, bệnh tật; ví như sống lưng của người, nước chảy đến thì khí huyết ngưng tụ bế tắc, nước chảy đi mới lành.
Xả nước theo thiên can, tránh bốn vị mạnh
Nước đã có sao để đọc, còn lối cho nước đi ra thì cần có tên gọi cụ thể: những thiên can được dùng, những địa chi phải tránh.
Nước ở dương trạch hợp xả theo tám thiên can Giáp, Canh, Ất, Tân, Bính, Nhâm, Đinh, Quý. Xả nước theo các thiên can này thì người và của đều hưng vượng. Kỵ xả nước ở mười hai địa chi. Dần, Thân, Tỵ, Hợi gọi là Tứ Mạnh, tối kỵ xả nước; còn gọi là Tứ Duy, nếu phạm thì rất hung hiểm.
Bí quyết nói: dương sơn dương hướng, nước chảy ở vị dương, chủ nhà giàu có trăm năm, nhân đinh hưng vượng. Dương sơn âm hướng, nước chảy ở vị âm, chủ phú quý, phát tài lớn.
Bí quyết còn nói rằng nếu Lai Long thuộc âm, hoặc sau hai tiết âm, ba tiết nhập dương, thì xả dương can trước, sau đó xả âm can, rồi lại xả tiếp theo âm can mà ra thì vô cùng lành. Hoặc một, hai tiết đều thuộc dương thì chỉ nên xả nước theo dương can, đừng xả theo âm can.
Âm can dương hướng nên xả nước ở sáu hướng Giáp, Nhâm, Ất, Quý, Kiền, Khôn. Âm can âm hướng nên xả nước ở sáu hướng Bính, Đinh, Canh, Tân, Tốn, Cấn. Dương trạch xả dương thủy là lành. Âm trạch xả âm thủy cũng lành; âm trạch ở đây không hề có nghĩa là phần mộ.
Nếu trong âm trạch hay dương trạch có Long mạch thoát lạc thì lấy cục triều ở phía trước, xả tám thiên can lành, không luận âm dương nữa. Nếu luận theo hướng âm dương của Long mạch thì khi xả nước phải quan sát kỹ, rất kỵ Bát Sát và Hoàng Tuyền; để mất Long mạch thì tai họa đến ngay. Hoàng Tuyền ở bên trái thì nên xả nước sang bên phải; Hoàng Tuyền ở bên phải thì nên xả nước sang bên trái.
Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 2.
