Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Lục hào dự đoán

Bài tổng quan

Nạp giáp, Thế Ứng, lục thân và lục thú: cách dựng một quẻ

Bói Dịch - Lục hào dự đoán02/10/202611 phút đọc1 lượt đọc
Nạp giáp, Thế Ứng, lục thân và lục thú: cách dựng một quẻ

Sáu vạch vừa gieo xong còn rất trống trải, chưa có địa chi, chưa biết đâu là mình và đâu là người đối diện. Chỉ cần biến từng hào theo một lối nhất định là tìm ra linh hồn của quẻ, rồi mỗi hào lần lượt nhận lấy vai trò cha mẹ, anh em, vợ con. Thế nhưng con thú đi kèm từng hào lại đổi theo một thứ chẳng nằm trong quẻ…


Gieo được sáu hào rồi, chưa phải đã có một quẻ để đọc

Hình quẻ vừa gieo xong mới chỉ là sáu vạch trần trụi. Muốn đọc được nó, phải gắn vào mỗi hào một địa chi, đánh dấu đâu là Thế, đâu là Ứng, rồi cho mỗi hào một vai lục thân và một con thú đi kèm. Công đoạn ấy trong Lục hào gọi là lập quẻ. Trước hết cần nhận ra bát quái theo nguyên lý âm dương, chia làm hai loại: Càn, Chấn, Khảm, Cấn là quẻ dương; Khôn, Tốn, Ly, Đoài là quẻ âm. Mỗi quẻ kép gồm quẻ trên và quẻ dưới, nhưng cả sáu mươi bốn quẻ đều thuộc về một trong tám cung, và mọi quẻ trong cùng một cung mang cùng ngũ hành. Quẻ đầu tiên của cung gọi là bản cung hay quẻ thuần; bảy quẻ còn lại gọi là quẻ phi cung, trong đó quẻ thứ bảy là quẻ du hồn, quẻ thứ tám là quẻ quy hồn. Ngũ hành của phi cung luôn giống với bản cung.

Nạp giáp: gắn can chi vào từng hào

Mỗi quẻ đơn mang theo một bộ can chi riêng, như mỗi nhà có một dãy số nhà, và chính dãy số ấy cho từng hào danh tính của nó.

Việc ghép thiên can địa chi vào các vị trí hào gọi là nạp giáp. Khi đoán, thiên can không tham gia phán cát hung, bình thường chỉ dùng để xét số lượng, cho nên lúc gieo quẻ người ta thường bỏ qua can mà chỉ nạp địa chi.

Quẻ nội và quẻ ngoại của mỗi quẻ đơn có can chi khác nhau. Càn thuộc kim, nội quái nạp Giáp Tý, ngoại quái nạp Nhâm Ngọ. Khảm thuộc thủy, nội nạp Mậu Dần, ngoại nạp Mậu Thân. Chấn thuộc mộc, nội nạp Canh Tý, ngoại nạp Canh Ngọ. Cấn thuộc thổ, nội nạp Bính Thìn, ngoại nạp Bính Tuất. Khôn thuộc thổ, nội nạp Ất Mùi, ngoại nạp Quý Sửu. Tốn thuộc mộc, nội nạp Tân Sửu, ngoại nạp Tân Mùi. Ly thuộc hỏa, nội nạp Kỷ Mão, ngoại nạp Kỷ Dậu. Đoài thuộc kim, nội nạp Đinh Tỵ, ngoại nạp Đinh Hợi.

Quy tắc gieo can chi theo âm dương: quẻ dương đi thuận theo mười hai chi, cứ cách một chi, nên các hào nhận dương chi; quẻ âm thì đi ngược lại, cứ cách một chi, nên nhận âm chi. Với Càn từ hào sơ đến hào sáu là Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất. Khảm là Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất, Tý. Chấn là Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất. Cấn là Thìn, Ngọ, Thân, Tuất, Tý, Dần. Khôn là Mùi, Tỵ, Mão, Sửu, Hợi, Dậu. Tốn là Sửu, Hợi, Dậu, Mùi, Tỵ, Mão. Ly là Mão, Sửu, Hợi, Dậu, Mùi, Tỵ. Đoài là Tỵ, Mão, Sửu, Hợi, Dậu, Mùi.

Lấy quẻ Thủy Phong Tỉnh làm ví dụ. Hạ quái là Tốn, một quẻ âm, đi ngược, nên ba hào dưới nạp Tân Sửu, Tân Hợi, Tân Dậu; dương chi thì không cần. Thượng quái là Khảm, một quẻ dương, đi thuận, nên ba hào trên nạp Mậu Thân, Mậu Tuất, Mậu Tý. Tính từ dưới lên, sáu hào của quẻ này thành Sửu, Hợi, Dậu, Thân, Tuất, Tý.

An Thế và Ứng: tìm linh hồn của quẻ

Có những hào mang cái tôi của người hỏi, có những hào mang người đối diện. Chỗ đứng của hai hào ấy không do ai chọn, mà do chính hình quẻ quy định.

Thế là thứ không thể thiếu trong Lục hào, và cũng là một căn cứ quan trọng để đoán cát hung. Thế là linh hồn của quẻ. Một quẻ nếu chỉ có Thế mà không có Ứng thì chẳng khác gì một đạo quân có tướng mà không có tham mưu, như đã mất đi hạch tâm của quẻ. Trong mỗi quẻ, vị trí của Thế và Ứng cố định, không thể an sai, và an sai thì rất khó nắm bắt được sự việc. Ngày xưa việc an Thế Ứng chỉ là học thuộc lòng, làm nhiều người mất không ít thời gian ở giai đoạn này. Ngày nay có thể dạy một cách nhẹ nhàng: không cần nhớ tên sáu mươi bốn quẻ vẫn an được Thế Ứng, thậm chí còn tìm ra luôn quẻ thuộc cung nào. Cách ấy gọi là phép biến hào tìm cung.

Cách làm: từ hào sơ, biến lần lượt lên phía trên. Hào âm biến thành dương, hào dương biến thành âm. Biến đến lúc nào thượng quái và hạ quái giống nhau thì dừng. Hào cuối cùng vừa đổi chính là hào Thế. Như vậy cũng biết luôn quẻ thuộc cung nào, đó là quẻ đơn trùng xuất hiện sau khi biến.

Xét Thủy Trạch Tiết: ngoại quái là Khảm, nội quái là Đoài, hai bên khác nhau. Biến hào sơ, đang là dương, thành âm, nội quái liền biến thành Khảm, giống ngoại quái. Vậy Thế ở hào sơ, và quẻ Thủy Trạch Tiết thuộc cung Khảm.

Xét Sơn Thủy Mông: ngoại quái là Cấn, nội quái là Khảm. Biến hào sơ từ âm sang dương, hào hai từ dương sang âm, hào ba từ âm sang dương, hào bốn từ âm sang dương. Đến lúc ấy cả hai quái đều thành Ly. Vậy Thế ở hào bốn và Mông thuộc cung Ly.

Nếu biến đến hào năm mà trong và ngoài vẫn không giống nhau thì quay lại, trả hào bốn về nguyên trạng rồi so lại. Hào sáu là tông miếu, mãi mãi không đổi. Trả hào bốn về mà hai quẻ trùng nhau thì Thế ở hào bốn, và đó là quẻ du hồn. Ví dụ Phong Trạch Trung Phu: trên là Tốn, dưới là Đoài. Biến lần lượt hào sơ, hào hai, hào ba, hào bốn, hào năm mà trên dưới vẫn khác, nên quay lại, trả hào bốn từ dương về âm, và hai quẻ lúc ấy đều thành Cấn. Vậy Thế ở hào bốn, đây là quẻ thứ bảy của cung Cấn, quẻ du hồn.

Nếu phải trả lần lượt hào bốn, hào ba, hào hai rồi cả hào sơ về nguyên trạng thì hai quẻ mới giống nhau, đó là quẻ quy hồn, Thế ở hào ba. Ví dụ Sơn Phong Cổ: trên là Cấn, dưới là Tốn. Biến từ hào sơ lên đến hào năm vẫn không khớp. Quay lại trả các hào bốn, ba, hai, và chỉ khi hào sơ cũng trở về nguyên trạng thì trong ngoài mới cùng là Tốn. Vậy Sơn Phong Cổ thuộc cung Tốn, là quẻ quy hồn, Thế ở hào ba.

Với quẻ quy hồn còn có một cách giản tiện hơn: ngay sau khi gieo xong, thử biến hào năm trước. Nếu biến hào năm mà thượng và hạ quái thành giống nhau thì chính là quẻ quy hồn. Như Sơn Phong Cổ, hào năm là âm, biến thành dương, thượng quái thành Tốn, giống hạ quái Tốn, nên biết ngay đây là quẻ quy hồn của cung Tốn và Thế đặt ở hào ba.

Nếu thượng quái và hạ quái vốn đã giống nhau, thì không cần biến gì, đó chính là quẻ bản cung và Thế nằm ở hào sáu, như Bát Thuần Càn. Tìm được Thế rồi thì Ứng rất dễ an: Ứng luôn cách Thế hai hào, tức Thế ở hào một thì Ứng ở hào bốn, Thế ở hào hai thì Ứng ở hào năm, Thế ở hào ba thì Ứng ở hào sáu, và ngược lại.

Lục thân: năm vai quan hệ gắn vào mỗi hào

Một khi mỗi hào đã mang ngũ hành của chi, những quan hệ sinh khắc trong gia đình cũng có thể được đặt vào quẻ.

Lục thân gồm Huynh đệ, Phụ mẫu, Quan quỷ, Thê tài, Tử tôn. Đó là đem các quan hệ lục thân trong đời sống đặt vào trong quẻ, rồi dùng nguyên lý sinh khắc chế hóa của ngũ hành để suy đoán sự việc. Vì vậy mỗi lục thân bao hàm rất nhiều nghĩa, không thể chỉ hiểu từ một chữ, và có thể coi mỗi lục thân là một loại danh hiệu mà Lục hào dùng để đoán.

Lục thân của mỗi hào, cũng như lục thân trong quẻ biến, đều căn cứ vào quan hệ sinh khắc giữa ngũ hành của địa chi nạp ở hào ấy và ngũ hành của quẻ cung của chủ quái. Hào có địa chi cùng hành với cung là Huynh đệ, tức đồng loại với ta. Hào sinh ra ta là Phụ mẫu. Hào khắc ta là Quan quỷ. Hào do ta sinh là Tử tôn. Hào bị ta khắc là Thê tài. Trong thực hành, người ta hay viết tắt Huynh đệ là Huynh, Phụ mẫu là Phụ, Quan quỷ là Quan hoặc Quỷ, Tử tôn là Tử, Thê tài là Tài.

Muốn sắp lục thân cho một quẻ, trước hết phải biết quẻ ấy thuộc cung nào. Phép biến hào tìm cung giúp tìm ra điều đó dễ dàng. Biết chủ quái thuộc cung nào thì căn cứ vào ngũ hành của cung và ngũ hành của chi đã nạp để phối lục thân.

Lấy Thủy Phong Tỉnh: quẻ này thuộc cung Chấn, ngũ hành là mộc, nên mộc là ta. Hào sơ Sửu thổ bị ta khắc, phối Thê tài. Hào hai Hợi thủy sinh ra ta, phối Phụ mẫu. Hào ba Dậu kim khắc ta, phối Quan quỷ. Hào bốn Thân kim cũng khắc ta, phối Quan quỷ. Hào năm Tuất thổ bị ta khắc, phối Thê tài. Hào sáu Tý thủy sinh ta, phối Phụ mẫu.

Với quẻ có hào động, ngoài chủ quái còn có quẻ biến, thì lục thân của hào trong quẻ biến vẫn tính theo ngũ hành của cung chủ quái chứ không theo cung của chính quẻ biến. Giả sử chủ quái là Thủy Trạch Tiết, quẻ thuộc cung Khảm, ngũ hành là thủy, biến thành Thủy Địa Tỷ. Trong chủ quái, hào sơ Tỵ hỏa bị ta khắc là Thê tài; hào hai Mão mộc do ta sinh là Tử tôn; hào ba Sửu thổ khắc ta là Quan quỷ; hào bốn Thân kim sinh ta là Phụ mẫu; hào năm Tuất thổ khắc ta là Quan quỷ; hào sáu Tý thủy cùng hành với ta là Huynh đệ. Quẻ nội Đoài biến thành Khôn, hào sơ và hào hai cùng phát động. Hào sơ Tỵ hỏa động biến ra Mùi thổ, mà thổ khắc thủy của cung nên Mùi thổ phối Quan quỷ. Hào hai Mão mộc động biến ra Tỵ hỏa, hỏa bị thủy khắc nên phối Thê tài. Kết quả là lục thân của quẻ biến được sắp theo cung chủ quái, bất kể quẻ biến ấy rơi vào cung nào.

Trong Lục hào, thường chỉ coi trọng tác dụng sinh khắc của hào biến đối với hào gốc của nó, tức hào động. Còn vị trí Thế Ứng của quẻ biến tuy khác nhưng có thể lược bỏ, không cần ghi, chỉ cần để ý đến các hào biến là đủ.

Lục thú: sáu con thú đi theo ngày

Sau lục thân, mỗi hào còn nhận thêm một con thú. Con thú ấy không đổi theo quẻ mà đổi theo ngày xem.

Lục thú còn gọi là lục thần, gồm Thanh Long, Chu Tước, Cấu Trần, Đằng Xà, Bạch Hổ, Huyền Vũ. Đằng Xà hay gọi gọn là Xà, Huyền Vũ gọi gọn là Vũ. Lục thú dùng để phân tích nguyên nhân và tính chất của sự việc, không tham gia phán cát hung. Bản thân mỗi thú cũng có ngũ hành: Thanh Long thuộc mộc, Chu Tước thuộc hỏa, Cấu Trần và Đằng Xà thuộc thổ, Bạch Hổ thuộc kim, Huyền Vũ thuộc thủy; nhưng quan hệ sinh khắc giữa chúng không cần xem.

Lục thú được định theo thiên can của ngày xem. Từ hào sơ đi lên, sắp theo trình tự cố định Thanh Long, Chu Tước, Cấu Trần, Đằng Xà, Bạch Hổ, Huyền Vũ. Cụ thể, nếu ngày xem là ngày Giáp hoặc Ất thì hào sơ phối Thanh Long, hào hai phối Chu Tước, hào ba Cấu Trần, hào bốn Đằng Xà, hào năm Bạch Hổ, hào sáu Huyền Vũ. Nếu là ngày Bính hoặc Đinh thì hào sơ bắt đầu từ Chu Tước rồi xếp lên. Ngày Mậu thì hào sơ bắt đầu từ Cấu Trần. Ngày Kỷ thì hào sơ bắt đầu từ Đằng Xà. Ngày Canh hoặc Tân thì hào sơ bắt đầu từ Bạch Hổ. Ngày Nhâm hoặc Quý thì hào sơ bắt đầu từ Huyền Vũ. Thứ tự cứ thế xoay vòng khi hết đến hào sáu.

Để đọc quẻ cho nhanh, người ta thường viết tắt Thanh Long thành Long, Chu Tước thành Tước, Cấu Trần thành Cấu, Đằng Xà thành Xà, Bạch Hổ thành Hổ, Huyền Vũ thành Vũ. Luyện tập chăm chỉ vài chục quẻ là sẽ nhớ được.

Nguồn: Vương Hổ Ứng, Lục Hào Bảo Điển.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Lục hào dự đoán