Bài tổng quan
Quẻ thuần Càn Khôn, lệ riêng của Nguyên Đường và quẻ Hậu Thiên
Khi sáu hào giống hệt nhau, không còn hào nào để phân biệt hào của mình với hào của người, và cổ nhân phải mượn giới tính, mùa sinh để chia chỗ ngồi. Còn tiền vận đến một lúc nào đó sẽ bị cuộc bể dâu lật ngược, quẻ đảo lên, hào đổi dạng...
Quẻ bốn hoặc năm hào cùng loại: đếm một lượt rồi sang nhà người
Khi quẻ Tiên Thiên có bốn hoặc năm hào cùng loại với giờ sinh, áp dụng câu ca thứ ba: đã không đếm lại thì sao phải nhờ người? Thực ra phải nhờ, vì hào của mình chưa đủ chỗ cho sáu giờ liền nhau. Bốn lá số dưới đây cho thấy rõ.
Sinh giờ Dương, gặp quẻ Phong Vi Tốn có bốn hào Dương
Nhận họ Dương, khởi đếm giờ Tý từ hào Dương, áp dụng câu ca thứ ba. Bốn hào Dương nằm ở hào hai, ba, năm và sáu. Đếm đi: Tý ở hào hai Dương, Sửu ở hào ba Dương, Dần ở hào năm Dương, Mão ở hào sáu Dương. Không đếm lại mà đếm tiếp luôn sang hào Âm: Thìn ở hào một Âm, Tị ở hào bốn Âm.
Có người thắc mắc: câu ca ba nói bản thân cùng lắm mới phải đi nhờ người, vậy sao ở đây mình có hào mà chưa đếm lại đã vội sang nhờ người? Xét kỹ thì chỉ còn hai giờ Dương (Thìn, Tị) chưa đếm, mà mình có những bốn hào Dương; đếm lại thì cũng dở dang. Sợ đếm lại chỉ được một nửa thì bất công, tự phe mình đâm lủng củng, nên sang nhờ người là hơn.
Sinh giờ Âm, gặp quẻ Thuần Chấn có bốn hào Âm
Nhận họ Âm, khởi đếm giờ Ngọ từ hào Âm, vẫn áp dụng câu ca thứ ba. Bốn hào Âm nằm ở hào hai, ba, năm và sáu. Đếm đi: Ngọ ở hào hai Âm, Mùi ở hào ba Âm, Thân ở hào năm Âm, Dậu ở hào sáu Âm. Không đếm lại, đếm tiếp luôn sang hào Dương: Tuất ở hào một Dương, Hợi ở hào bốn Dương. Cũng như trên, chỉ còn hai giờ Âm (Tuất, Hợi) chưa đếm mà mình có đến bốn hào Âm, đếm lại thì dở dang quá, đành chạy sang nhờ người cho tiện việc.
Sinh giờ Dương, gặp quẻ Thiên Hỏa Đồng Nhân có năm hào Dương
Khởi đếm giờ Tý từ hào Dương, vẫn áp dụng câu ca thứ ba. Đếm đi: Tý ở hào một Dương, Sửu ở hào ba Dương, Dần ở hào bốn Dương, Mão ở hào năm Dương, Thìn ở hào sáu Dương; chỉ còn một giờ. Không đếm lại mà đếm tiếp luôn sang hào Âm: Tị ở hào hai Âm. Nếu đếm lại thì chỉ được thêm một hào nữa mà cũng dở dang.
Sinh giờ Âm, gặp quẻ Lôi Địa Dự có năm hào Âm
Khởi đếm giờ Ngọ từ hào Âm, vẫn áp dụng câu ca thứ ba. Đếm đi: Ngọ ở hào một Âm, Mùi ở hào hai Âm, Thân ở hào ba Âm, Dậu ở hào năm Âm, Tuất ở hào sáu Âm; chỉ còn một giờ Hợi. Không đếm lại, đếm tiếp luôn sang hào Dương: Hợi ở hào bốn Dương.
Gom bốn lá số lại sẽ thấy quy luật: quẻ càng đầy một loại hào thì hào của mình chỉ đếm được một lượt, càng ít chỗ để nương, và chỉ một hoặc hai giờ cuối cùng phải sang ngồi nhờ ở hào của người. Chính vì thế câu ca mới nói đến chuyện nương nhờ người: khi hào của mình hết chỗ cho các giờ còn lại thì phải sang hào của người, và ngôi nhà góc cũng dời theo.
Hai quẻ thuần hào: lệ riêng cho Càn và Khôn
Sáu vạch giống hệt nhau thì không có hào nào để phân biệt, nên phải mượn đến giới tính và mùa sinh để chia chỗ.
Quẻ Càn thuần có sáu hào Dương, quẻ Khôn thuần có sáu hào Âm; cả hai áp dụng lệ riêng theo câu ca thứ tư. Nếu không có lệ riêng thì rất khó nhìn ra được những trường hợp khác nhau để luận đoán, nên mỗi lá số thuần hào đều phải tra theo bảng chứ không thể tự đoán vị trí.
Càn nam và Khôn nữ: hai trường hợp
Bất luận sinh trước hay sau Hạ Chí, Đông Chí, hai trường hợp là như nhau. Sinh giờ Dương thì đếm đi, và nếu chưa hết thì đếm lại, chỉ trên ba hào của quẻ hạ, từ dưới lên: Tý hào một, Sửu hào hai, Dần hào ba; rồi Mão hào một, Thìn hào hai, Tị hào ba. Sinh giờ Âm thì đếm đi, và nếu chưa hết thì đếm lại, chỉ trên ba hào của quẻ thượng, từ dưới lên: Ngọ hào bốn, Mùi hào năm, Thân hào sáu; rồi Dậu hào bốn, Tuất hào năm, Hợi hào sáu. Khôn nữ giống hệt Càn nam, chỉ khác ở chỗ vạch liền, vạch đứt.
Càn nữ và Khôn nam: bốn trường hợp theo mùa sinh
Ở đây phải luận theo hai nửa năm tiết khí. Càn nữ sinh sau Đông Chí trước Hạ Chí (đầu năm) và giờ Dương thì đếm từ trên xuống dưới, chỉ trên ba hào quẻ thượng: Tý hào sáu, Sửu hào năm, Dần hào bốn; rồi Mão hào sáu, Thìn hào năm, Tị hào bốn. Cũng sinh vào đầu năm nhưng giờ Âm thì đếm từ trên xuống dưới trên ba hào quẻ hạ: Ngọ hào ba, Mùi hào hai, Thân hào một; rồi Dậu hào ba, Tuất hào hai, Hợi hào một.
Càn nữ sinh sau Hạ Chí trước Đông Chí (cuối năm) thì lại giống hệt Càn nam: giờ Dương đếm Tý hào một, Sửu hào hai, Dần hào ba, rồi Mão hào một, Thìn hào hai, Tị hào ba; giờ Âm đếm Ngọ hào bốn, Mùi hào năm, Thân hào sáu, rồi Dậu hào bốn, Tuất hào năm, Hợi hào sáu.
Khôn nam thì ngược lại với Càn nữ: sinh vào đầu năm lại giống Càn nữ cuối năm, còn sinh vào cuối năm giống Càn nữ đầu năm. Cụ thể, Khôn nam sinh giờ Dương đầu năm đếm Tý hào một, Sửu hào hai, Dần hào ba, rồi Mão hào một, Thìn hào hai, Tị hào ba; giờ Âm đầu năm đếm Ngọ hào bốn, Mùi hào năm, Thân hào sáu, rồi Dậu hào bốn, Tuất hào năm, Hợi hào sáu. Khôn nam sinh giờ Dương cuối năm đếm Tý hào sáu, Sửu hào năm, Dần hào bốn, rồi Mão hào sáu, Thìn hào năm, Tị hào bốn; giờ Âm cuối năm đếm Ngọ hào ba, Mùi hào hai, Thân hào một, rồi Dậu hào ba, Tuất hào hai, Hợi hào một.
Xét lại mười hai trường hợp của hai quẻ thuần hào sẽ thấy hai trường hợp của Càn nam giống hai trường hợp của Khôn nữ, bốn trường hợp của Càn nữ giống bốn trường hợp của Khôn nam. Có thể gói vào hai đẳng thức: hai Càn nam bằng hai Khôn nữ; bốn Càn nữ bằng bốn Khôn nam.
Tra bảng và đặt Nguyên Đường
Để tra nhanh, cổ nhân vẽ hai bảng: bảng thứ nhất cho Càn nam và Khôn nữ, bảng thứ hai phức tạp hơn cho Càn nữ và Khôn nam, mỗi bảng chia theo giờ khí Dương hoặc Âm và theo mùa sinh. Ví dụ, anh A sinh giờ Thìn được quẻ Càn: tra bảng thứ nhất, mục Càn nam, thấy chữ Thìn ở hào hai Dương, đặt Nguyên Đường vào hào ấy. Chị B sinh giờ Mùi được quẻ Khôn: là Khôn nữ, thấy chữ Mùi ở hào năm Âm, đặt Nguyên Đường vào đó. Anh C sinh sau Đông Chí trước Hạ Chí, giờ Tị, được quẻ Khôn: tra bảng thứ hai, mục Khôn nam, hàng "sau Đông Chí, trước Hạ Chí", cột giờ Dương, thấy chữ Tị ở hào ba Âm, đặt Nguyên Đường vào đó. Cứ theo cách ấy mà tra thì không bao giờ nhầm một hào nào.
Quẻ Hậu Thiên: cuộc bể dâu của hậu vận
Tiền vận là quẻ gốc của số Trời; hậu vận là quẻ đã bị cuộc đời lật ngược lại.
Quẻ Tiên Thiên là tiền vận đời người. Nếu quẻ Tiên Thiên là quẻ nguyên thủy thuộc về số Trời, thì quẻ Hậu Thiên là hậu vận của đời người; quẻ này biểu hiện sự thăng trầm của con người qua một cuộc biến đổi bể dâu trong môi trường cuộc sống. Chỉ khi đã tìm ra quẻ Tiên Thiên và hào Nguyên Đường mới biến Tiên Thiên ra Hậu Thiên được.
Cả cuộc đời vì thế chia làm hai chặng lớn: chặng trước gọi là tiên vận, gắn với quẻ Tiên Thiên; chặng sau gọi là hậu vận, gắn với quẻ Hậu Thiên. Hào Nguyên Đường của quẻ Tiên Thiên là đại vận đầu tiên của tiên vận và của cả cuộc đời. Hào Nguyên Đường của quẻ Hậu Thiên là đại vận đầu tiên của hậu vận.
Quy tắc tìm quẻ Hậu Thiên có hai điểm. Một, đảo quẻ nội của Tiên Thiên thành quẻ ngoại của Hậu Thiên. Hai, đảo quẻ ngoại của Tiên Thiên thành quẻ nội của Hậu Thiên. Trên cơ sở hai điểm biến đổi ấy hình thành một quẻ mới gọi là quẻ Hậu Thiên. Hào Nguyên Đường cũng đi theo sang quẻ Hậu Thiên, Âm biến thành Dương, hoặc Dương biến thành Âm.
Hai ví dụ biến Tiên Thiên thành Hậu Thiên
Giả như quẻ Tiên Thiên là Lôi Thủy Giải, Nguyên Đường ở hào một. Đảo quẻ thành Thủy Lôi Truân; hào Nguyên Đường theo quẻ sang vị trí mới, từ hào một của quẻ nội dời lên làm hào bốn của quẻ ngoại, rồi biến thể từ Dương sang Âm hoặc ngược lại, quẻ cũng biến theo như Khảm biến thành Đoài, ra quẻ Hậu Thiên là Trạch Lôi Tùy.
Giả như quẻ Tiên Thiên là Sơn Phong Cổ, Nguyên Đường ở hào một Âm. Đảo quẻ thành Phong Sơn; Nguyên Đường đi theo sang vị trí hào bốn, biến thành hào bốn Dương và quẻ cũng biến theo như Tốn biến thành Càn, ra quẻ Hậu Thiên là Thiên Sơn Độn.
Ba quẻ ngoại lệ: Thuần Khảm, Truân và Kiển
Riêng ba quẻ Thủy Vi Khảm, Thủy Lôi Truân và Thủy Sơn Kiển, nếu hào Nguyên Đường rơi vào hào năm hoặc hào sáu thì cách tìm quẻ Hậu Thiên có khác. Trước hết phải xem tháng sinh của chủ thể rơi vào tháng Dương lệnh hay Âm lệnh.
Tháng sinh từ sau tiết Giữa Đông đến trước tiết Giữa Hè thuộc tháng Dương lệnh; có thể hiểu đó là nửa năm trước của năm tiết khí, vì lịch tiết khí coi Giữa Đông đến Giữa Hè là đầu năm. Tháng sinh từ sau tiết Giữa Hè đến trước tiết Giữa Đông thuộc tháng Âm lệnh, tức nửa năm sau của năm tiết khí. Cần phân biệt tháng Dương lệnh với tháng Dương: tháng Dương lệnh là tháng chạy từ Giữa Đông đến Giữa Hè, không kể tháng ấy mang Can Chi Dương hay Âm; tháng Âm lệnh cũng vậy.
Với ba quẻ trên, nếu hào Nguyên Đường là hào năm Dương hoặc hào sáu Âm thì tìm quẻ Hậu Thiên như sau. Hào Nguyên Đường năm Dương gặp tháng Dương lệnh thì đảo quẻ và biến hào; gặp tháng Âm lệnh thì chỉ biến hào. Hào Nguyên Đường sáu Âm gặp tháng Dương lệnh thì chỉ biến hào; gặp tháng Âm lệnh thì đảo quẻ và biến hào.
Sự khác thường của ba quẻ này có lý do: chúng phản ánh thời hiểm trở, gian truân của con người, mà hào năm và hào sáu thuộc vị trí "vua" và "trên vua", bậc cao nhất trong vị thế con người, nên cách ứng xử với hoàn cảnh hiểm trở có khác thường và dẫn đến thời vận khác với các hào còn lại trong cùng quẻ. Hào năm Dương thuộc bậc Chí Tôn; hào sáu Âm là chủ quân của Âm, đứng đầu và chi phối các hào Âm trong quẻ.
Nguồn: Giáo trình Bát Tự Hà Lạc.
