Bài tổng quan
Trung, chính, thời: ba thước đo giá trị của sáu hào trong quẻ
Hai hào cùng là Dương, cùng đứng trong một quẻ, mà một hào được ngôi chí tôn còn hào kia phải lo nghĩ suốt đời. Khác biệt không nằm ở bản thân hào, mà ở chỗ nó đứng và lúc nó đến... Vậy thước nào đo được điều đó?
Mục lục · 8 phần
- 01Bản thể của hào và vị trí của hào là hai chuyện khác nhau
- 02Trung là đứng giữa, chính là đứng đúng chỗ
- 03Thời: cùng một chỗ đứng, đến sớm hay muộn là hai số phận
- 04Mỗi hào là một bậc thang, một giai đoạn của việc
- 05Hào một khó đoán, hào sáu dễ đoán
- 06Hào hai và hào bốn: cùng một tính mà nỗi lo khác nhau
- 07Hào ba và hào năm: một bên nhiều họa, một bên nhiều công
- 08Thang giá trị của sáu hào và những ngoại lệ
Bản thể của hào và vị trí của hào là hai chuyện khác nhau
Trong việc đọc một hào của quẻ Dịch, có một nguyên tắc được xem là hệ trọng bậc nhất, cũng là cái gốc của cách nhìn nhân sinh trong văn hóa Trung Hoa: phải tách bạch bản thể của hào với vị trí của hào. Hai thứ ấy cùng nằm trên một vạch quẻ nhưng nói về hai điều rất khác nhau, và nhầm lẫn giữa chúng là nguồn gốc của nhiều lời đoán sai.
Bản thể của hào chỉ có hai loại là Dương và Âm. Dương mang tính cách của đàn ông, cương cường, thiện, lớn, ngay thẳng, thành thực, của người quân tử, của phú quý. Âm đi ngược lại: là đàn bà, nhu thuận, nhưng cũng là ác, nhỏ, tà, dối trá, tiểu nhân, bần tiện. Nhìn qua thì Dương tốt đẹp còn Âm xấu xa, song đó mới chỉ là nét chung, như bức vẽ phác trước khi tô màu.
Muốn biết hào ấy thật sự tốt hay xấu, còn phải xét vị trí nó đang đứng. Một hào Dương mà đứng sai chỗ, không trung, không chính, thì vẫn xấu. Ngược lại một hào Âm đứng đúng chỗ, vừa trung vừa chính, thì vẫn tốt. Bản thể là cái sẵn có, vị trí là hoàn cảnh; chỉ khi ghép hai thứ với nhau mới ra được giá trị của hào.
Trung là đứng giữa, chính là đứng đúng chỗ
Mỗi quẻ có sáu hào chia hai tầng, và có những ngôi đứng ở giữa mỗi tầng, có những ngôi đứng đúng với bản chất của mình. Hai khái niệm ấy nghe tương tự mà không hề trùng nhau.
Quẻ kép gồm quẻ nội ở dưới và quẻ ngoại ở trên, mỗi quẻ ba hào. Nội quái có hào sơ, hào hai là trung, hào ba là mạt; ngoại quái có hào bốn là sơ, hào năm là trung, hào sáu là mạt. Vậy hào Trung là những hào đứng giữa mỗi tầng, tức hào hai và hào năm. Hai hào này luôn được gọi là trung, dù bản thể của chúng là Dương hay Âm.
Chính thì tính theo chẵn lẻ. Trong sáu hào, những hào số lẻ là một, ba, năm mang vị Dương; những hào số chẵn là hai, bốn, sáu mang vị Âm. Một hào bản thể Dương mà đứng ở vị Dương thì gọi là chính; nếu đứng ở vị Âm thì gọi là bất chính. Một hào bản thể Âm mà đứng ở vị Âm thì mới gọi là chính; đứng ở vị Dương thì bất chính.
Quẻ sáu hào Dương: chỉ hào năm được đủ cả hai đức
Lấy quẻ thuần Càn làm ví dụ. Sáu hào đều là Dương về bản thể, hào hai và hào năm đều là trung. Nhưng hào hai là Dương đứng ở vị chẵn tức vị Âm, nên chưa chính; chỉ hào năm là Dương đứng ở vị lẻ tức vị Dương, được cả trung lẫn chính. Bốn hào còn lại thì hào một và hào ba chính mà không trung, hào bốn và hào sáu không chính cũng không trung.
Vì thế hào năm của quẻ Càn là hào tốt nhất trong quẻ. Danh từ Cửu Ngũ vốn chỉ hào Dương thứ năm, đã trở thành cách nói về ngôi chí tôn, ngôi vua. Ở đó, hào đã đứng giữa lại đứng đúng chỗ, nên nó xứng với địa vị cao nhất.
Quẻ Ký Tế: một quẻ mà hào nào cũng đứng đúng ngôi
Đối chiếu với quẻ Thủy Hỏa Ký Tế. Hào sáu là Âm ở vị chẵn, chính mà không trung. Hào năm là Dương ở vị lẻ, vừa trung vừa chính. Hào bốn là Âm ở vị chẵn, chính mà không trung. Hào ba là Dương ở vị lẻ, chính mà không trung. Hào hai là Âm ở vị chẵn, vừa trung vừa chính. Hào một là Dương ở vị lẻ, chính mà không trung. Mỗi hào đều ở đúng ngôi, và hai hào được đủ trung lẫn chính.
Trong sáu mươi bốn quẻ, không có quẻ nào hào nào cũng tốt cả, ít nhiều cũng chỉ được một đức, hoặc trung hoặc chính. Quẻ Ký Tế lại có một hào được cả hai đức nên mới mang nghĩa việc đã nên, đã xong, đã qua sông. Quẻ này cũng có hào Cửu Ngũ, nhưng ở đây hào ấy không trở thành ngôi vua như trong quẻ Càn. Quẻ quý nhất là quẻ tượng trưng cho trời, đứng đầu sáu mươi bốn quẻ nên giá trị mới lớn. Ở quẻ Ký Tế, việc đời chỉ có giá trị tương đối mà thôi.
Quan niệm trung chính là quan niệm căn bản của Dịch. Trương Kỳ Quân nói rằng Dịch là gì, chỉ là trung chính mà thôi; đạo lý trong thiên hạ chỉ là khiến cho việc không trung trở về chỗ trung, việc không chính trở về chỗ chính.
Thời: cùng một chỗ đứng, đến sớm hay muộn là hai số phận
Có người đứng đúng chỗ mà vẫn lỡ việc, vì chưa đến lúc. Chỗ đứng chỉ nói về không gian; còn thời là chiều thứ hai.
Vị trí của mỗi hào còn cho biết thời của hào ấy. Hào một là sơ thời, hào ba là mạt thời của nội quái. Hào bốn là sơ thời, hào sáu là mạt thời của ngoại quái, đồng thời là mạt thời của cả quẻ. Xét về mặt tĩnh thì hỏi vị trí chính hay không chính; xét về mặt động thì hỏi hào ấy cập thời hay không cập thời.
Lấy quẻ Càn để thấy rõ hơn. Hào sơ là Dương ở vị Dương, đức chính, nhưng vì là hào sơ nên mới chỉ có đức, chưa có tăm tiếng, tài đức chưa cao, còn phải ẩn mình. Nếu hấp tấp xuất đầu lộ diện thì là bất cập thời, không hợp thời. Lên hào hai mới nên xuất hiện, tuy chưa nên làm điều lớn; như thế là cập thời hợp thời. Lên hào năm, vừa trung vừa chính, tài đức đã trau dồi lâu, là lúc làm nên sự nghiệp; làm là cập thời, không làm là bỏ lỡ thời cơ. Tới hào sáu, hào cuối cùng, thịnh cực thì phải suy; không biết kịp thời rút lui sẽ bị họa.
Từ đó mà Tiết Tuyên nói rất đúng:
Sáu mươi bốn quẻ chỉ có một lẻ một chẵn, một Dương một Âm.
Chỉ hai thứ ấy thôi, nhưng ở vào những thời khác nhau thì cái vị không còn giống nhau, nên mới sinh ra vô số biến cố. Con người cũng chỉ có động và tĩnh, vì thời và vị không giống nhau mà đạo lý thành vô cùng; đó là lý do gọi là Dịch, tức biến đổi. Bởi vậy quan niệm thời còn quan trọng hơn cả quan niệm trung chính.
Mỗi hào là một bậc thang, một giai đoạn của việc
Quẻ Dịch có sáu hào đi từ hào một, gọi là hào sơ, lên đến hào sáu, gọi là hào thượng. Hào nào Âm thì Kinh Dịch thêm chữ Lục, như Sơ Lục, Lục Nhị, Lục Tam. Hào nào Dương thì Kinh Dịch thêm chữ Cửu, như Sơ Cửu, Cửu Nhị, Cửu Tam. Để người mới học Hà Lạc khỏi lầm lẫn, ở đây cứ gọi hào theo thứ tự từ một đến sáu rồi thêm chữ Âm hay Dương; khi tra vào Kinh Dịch thì nhớ rằng Sơ, Lục, Cửu là cách ghi tương ứng.
Mỗi hào ngồi vào một vị thứ, gọi là hào vị, cũng như địa vị của từng bậc người trong xã hội, từ thấp đến cao; hoặc coi như các giai đoạn từ trước ra sau của một thời, một chương trình công tác. Chẳng hạn trong thời Bĩ hay thời Thái, trong chương trình xuất quân của quẻ Sư hay chương trình tiếp xúc với người của quẻ Đồng Nhân, mỗi hào ứng với một bước.
Vì thế mỗi hào vị có tính chất riêng, nhưng đó mới chỉ là một yếu tố, chưa đủ để định cát hay hung. Thấy Nguyên Đường hay đại vận nằm ở hào nào thì có thể có một ý niệm sơ qua về cái tiềm thế tốt xấu trong cả đời hay trong một giai đoạn. Tiềm thế ấy có phát động thành sự thật được hay không là nhờ nhiều yếu tố khác hội tụ, như mười thể cách tốt xấu của một lá số.
Hào một khó đoán, hào sáu dễ đoán
Lời xưa nói về hai hào đầu và cuối bằng một câu:
Sơ nan tri, Thượng dị tri.
Nghĩa là hào sơ khó biết, hào thượng dễ biết. Hào một là hào mới nhập đề, mới vào cuộc, chưa tỏ thái độ, chưa có thành tích, nên tư cách còn lờ mờ khó hiểu, phải đợi thêm một thời gian mới xác định được. Vì vậy nói hào sơ khó biết, khó đo lường, khó nhận ra giá trị một cách chắc chắn.
Hào sáu thì trái lại. Còn gì mà chẳng dễ biết nữa, khi vị đã lên đến cực, thời đã hết cuộc đã tàn, tâm sự đã bày ra cả qua thời hoạt động, việc làm đã rõ như ban ngày. Ngôi thì tôn, vị thì cao, nhưng quyền hành đâu còn. Như ông cả bà lớn đã hồi hưu, hoặc như vị Thái Thượng Hoàng đời Trần ngày xưa, ngôi cao hơn vua mà thành ra vô trách nhiệm. Trừ vài trường hợp đặc biệt, như cụ già bảy mươi tuổi đi thi đỗ trong một truyện Liêu Trai, phần nhiều lên đến cõi hào thượng rồi là dừng. Nếu còn ham tranh đấu thì như hào thượng quẻ Càn, rồng lên quá cao nên có chuyện hối hận, vì cương quá sinh ra hối.
Hào hai và hào bốn: cùng một tính mà nỗi lo khác nhau
Hai hào cùng đứng ở vị chẵn, cùng mang đức nhu thuận mềm yếu, vậy mà một bên được danh dự, một bên lo nghĩ không yên. Điều gì tạo nên khoảng cách?
Lời xưa nói: cùng công, khác vị; hào hai nhiều danh dự, hào bốn nhiều lo sợ. Hào hai tuy đứng thấp hơn hào bốn nhưng ngồi chính giữa quẻ nội, là vị trung chính nên yên trí, chẳng mất lòng ai, chẳng ai ghét mình. Hễ được cất nhắc làm việc gì thì có hào năm, hào chí tôn, ra tay ứng viện, còn danh dự nào bằng, còn ai may mắn hơn nữa. Đó là nghĩa của câu hào hai nhiều danh dự.
Hào bốn thì ngược lại. Tuy ngồi cao hơn hào hai nhưng thế bấp bênh nên hay lo. Vì hào bốn vừa rời cấp dưới là quẻ hạ để thăng lên cấp trên là quẻ thượng, chưa có gì ăn chắc, vừa thay đổi tâm sự còn hoang mang, dưới không có rễ mà trên chưa có chỗ bám. Cấp dưới thì chẳng ai làm hậu thuẫn, trừ hào ứng là hào một thì non yếu quá. Đối với cấp trên thì mình là người mới, làm gì có thế lực. Lại biết đâu chẳng gặp chuyện trắc trở, ma cũ bắt nạt ma mới. Hào bốn biết phận mình nên cả lo cả nghĩ là phải lẽ.
Hào ba và hào năm: một bên nhiều họa, một bên nhiều công
Về hai hào này có câu: cùng công khác vị; hào ba nhiều hung, hào năm nhiều công. Cả hai cùng ngồi vị lẻ, cùng tính cương cường ham hoạt động, nhưng vì ngôi thứ chênh nhau, một hào ở thấp một hào ở cao nên khác hẳn nhau.
Hào ba là hào trên hết của quẻ hạ, của cấp dưới. Đi đến cùng đường của quẻ hạ rồi, còn tiến được nữa chăng, sẽ đi về đâu. Vốn ngồi vị bất trung, nếu lại là hào Âm thì còn bất chính nữa, nên dễ đâm ra làm liều mà rước tai vạ vào mình. Lỡ lúc lâm nguy, có ai cứu ứng không? Trông vào hào sáu là hào ứng thì vị ấy ở trên cao tít và cũng hết quyền hành, hết gân rồi, còn sức đâu mà nhòm xuống đàn em.
Hào năm tuy cùng cánh với hào ba nhưng được ngồi vào ngôi chí tôn, ai cũng phải kiêng nể. Cái tính cương cường ham hoạt động làm hào ba thất bại thì ở hào năm lại thành đức tính quý của một vị lãnh đạo đưa tới thành công rực rỡ. Tục ngữ ta nói đừng đánh đu với tinh, hào ba chớ bắt chước việc làm của hào năm mà nguy. Lại có câu phương ngôn: gặp thời thì lau hóa mía, không gặp thời thì mía hóa lau. Thời ở đây là thời của một quẻ, người gặp là hào năm, người không gặp là hào ba. Cùng một thời mà chỉ khác nhau ngôi vị đã khiến người nên Bụt kẻ nên Ma.
Thang giá trị của sáu hào và những ngoại lệ
Tóm lại, bàn về sáu hào có thể xếp thành một thang điểm cát hung. Tốt nhất là hào năm, đáng chấm ưu. Rồi đến hào hai, chấm khá. Rồi đến hào ba và hào bốn, bình thứ. Sau cùng là hào một và hào sáu, lãnh điểm thứ. Thương thay hào sáu đứng ngôi cao nhất trong quẻ mà hóa ra xuống cuối hàng, chẳng hơn gì hào bét là hào sơ.
Song định luật nào mà chẳng có chỗ châm chước, tinh thần Dịch lý lại càng châm chước mạnh. Hào sáu quẻ Độn có lời rằng đi ở ẩn khoan thai thì chẳng có gì không lợi; suốt đời trốn đời, về già hưởng chút phúc cũng là thích đáng. Hào sáu quẻ Tỉnh cũng tốt trọn vẹn: giếng đã làm xong, chớ đậy kín, để mọi người cùng múc nước ngon, tin được và rất tốt. Hào một quẻ Phục thì thấp người mà giỏi quá: một mình là hào Dương trong quẻ mà khắc phục nổi năm hào Âm. Khí Dương mới trở về, hào sơ quay lại hóa ra được hưởng lợi trước tiên, nhận đủ hơi ấm đầu tiên. Lời hào nói đi chẳng xa đã quay lại, không có gì phải hối hận, rất tốt.
Những ví dụ ấy mới chỉ là một điểm thuộc về giá trị nội tại của mỗi hào vị, mà đã thấy giá trị thay đổi. Gọi là Dịch có khác: biến động xoành xoạch nhưng sự biến động ấy có phép tắc, có nghĩa lý, có tiêu chuẩn hẳn hoi, không như con tắc kè hay con kỳ nhông đổi màu bất định dưới sự đùa giỡn của ánh sáng từ bất cứ đâu đến.
Nguồn: Giáo trình Bát Tự Hà Lạc.
