Bài tổng quan
Đạo Không Xa Người: Trung Dung Từ Chương Phí Ẩn Đến Chương Vấn Chính
Đạo của người quân tử vừa rộng khắp vừa kín đáo, người bình thường cũng hiểu được, nhưng chỗ cao sâu nhất thì thánh nhân cũng chưa thấu hết. Vì vậy, từ chương 12 đến chương 20, đạo trung dung được đưa xuống đời sống thường ngày. Muốn biết cách đối xử với người, cứ nhìn vào điều mình mong người đối xử với mình. Người quân tử sống đúng vị trí hiện tại, không oán trời trách người, như đi xa phải bắt đầu từ chỗ gần. Bên cạnh chương Quỷ Thần là ba chương ca ngợi đạo hiếu của Thuấn, Văn Vương, Vũ Vương, Chu Công, trong khi Vấn Chính, chương dài nhất, bàn phép trị nước dựa trên năm mối quan hệ và ba đức tính. Ở tận cùng phép trị nước ấy, chữ "thành" lại được nêu lên thành đạo của trời.
Chương 12 – Phí Ẩn
Đạo của người quân tử vừa to lớn bao la, vừa vô cùng nhỏ bé. Những người đàn ông, đàn bà ngu dốt cũng có thể hiểu được, nhưng đạt tới chỗ cao sâu nhất thì đến thánh nhân cũng có điều chưa thể hiểu hết. Những người đàn ông, đàn bà kém cỏi cũng có thể làm được, nhưng đạt đến mức độ cao sâu nhất thì đến thánh nhân cũng có điều chưa làm nổi.
Trời đất rộng bao la như thế mà vẫn còn có người chưa vừa lòng, vẫn có điều bất mãn, chê bai. Cho nên, người quân tử nói đạo to lớn bao la, thì thiên hạ không có cái gì chứa nổi; nói đạo vô cùng nhỏ bé thì thiên hạ không có cái gì để phân tích, mổ xẻ nó được nữa.
Kinh Thi có nói: "Diều hâu bay lượn ngang dọc trên trời cao, cá tung tăng bơi lượn dưới vực sâu". Đây là muốn nói đạo người quân tử có thể quán triệt từ trên trời xuống đến dưới đất.
Đạo người quân tử có thể bắt đầu từ những điều bình thường của những người đàn ông, đàn bà kém hiểu biết mà đạt đến cõi cao sâu nhất. Cho nên nói đạo bao quát, chi phối khắp trời đất.
Lời bình
Quan niệm của Nho gia cho rằng đạo là một thực thể tinh thần không nơi nào không tồn tại, nó bao la rộng lớn vô cùng, nhưng cũng là những cái rất nhỏ bé.
Đối với hàm ý bề ngoài của đạo, nội dung sơ bộ của đạo, dân chúng nói chung có thể có hiểu biết đôi chút. Nhưng đối với cõi cao sâu nhất của đạo, chẳng những người kém hiểu biết khó nắm bắt, mà đến thánh nhân cũng không thể tinh thông hết được. Điều này nói lên đạo vừa giản dị bình thường, lại vừa cao sâu khôn lường.
Ở một góc độ khác mà nói, tác giả muốn có những điều chỉnh, thay đổi khi nói về đạo của Nho gia, không còn nhấn mạnh ở chỗ cao sâu khôn lường một chiều nữa.
Họ nói đạo to lớn đến mức thiên hạ không chứa nổi; nhỏ bé tới mức thiên hạ không thể mổ xẻ phân tích ra nhỏ hơn được nữa; cao sâu tới mức thánh nhân cũng không thể biết hết; nhưng lại nói những đàn ông đàn bà kém hiểu biết cũng có thể biết và có thể làm theo. Đó là tác giả đã áp dụng chuẩn tắc trung dung.
Nếu chỉ nhấn mạnh rằng đạo cao sâu khôn lường thì sẽ đi vào cực đoan, khiến con người cảm thấy thất vọng, dẫn đến không ai dám theo đuổi đạo.
Nếu chỉ nhấn mạnh rằng đạo dễ hiểu, dễ thực hành, đến những người kém hiểu biết cũng có thể hiểu được, làm được, thì cũng sẽ đi sang một cực đoan khác, khiến con người cảm thấy quá dễ dàng, muốn đắc đạo chẳng cần phải bỏ ra bao công sức, thậm chí chẳng cần phải theo.
Để tránh xảy ra hai thái cực nói trên, tác giả phát biểu quan niệm về đạo của mình, nhằm thích ứng trào lưu tư tưởng đương thời, tình hình xã hội đương thời, để cho thánh nhân cũng như những người thường đều có nhu cầu theo đuổi đạo, cầu mong xã hội thái bình.
Chương 13 – Bất Viễn
1. Khổng Tử nói: "Đạo không thể xa lánh người. Nhưng có người muốn thực hành đạo, thế mà vẫn xa lánh người, như vậy thì không thể thực hành được đạo.
Kinh Thi có nói: "Chặt gỗ làm cán rìu đi! Chặt gỗ làm cán rìu đi! Hình dạng cán rìu đã nắm chắc ở trong tay, thấy rất gần, hình dung rất rõ. Cầm rìu chặt gỗ làm cán rìu, nghiêng mắt nhìn cán rìu ở trong tay, ngắm đi ngắm lại vẫn thấy cán rìu mình đang đẽo còn xa mới được như cán rìu cầm trong tay".
Cho nên người quân tử dùng cái đạo lý vốn sẵn có ở người để giáo dục người, lấy cải sửa làm chính, giáo dục mãi cho đến khi thành người mới thôi. Cũng như ta trau chuốt cán rìu vậy, trau chuốt đến mức thành cán rìu mới thôi. Người ta có lỗi mà biết sửa là được rồi, không xa lánh họ nữa.
2. Chuẩn tắc trung thứ rất gần đạo, không trái đạo. Phàm cái gì làm cho mình mà mình không thích, thì cũng đừng đem áp dụng vào người khác.
3. Đạo lý làm người quân tử có bốn điều, nhưng ta đến một điều cũng chưa làm được.
Lấy điều mình yêu cầu ở người con để mình phụng thờ cha mẹ, ta chưa làm được.
Lấy điều mình yêu cầu ở bề tôi để mình thờ vua, ta chưa làm được.
Lấy điều mình yêu cầu ở người em để mình đối xử với anh, ta chưa làm được.
Lấy điều mình yêu cầu ở người bạn để mình đối xử với bạn bè, ta chưa làm được.
Còn về việc thi hành những đạo đức bình thường và việc thận trọng khi nói năng thường ngày, nếu còn có chỗ chưa tròn bổn phận, ta không dám không nỗ lực để làm cho đầy đủ hơn; biết nói ra không làm được, sẽ không dám nói hết lời. Cho nên, khi nói phải nghĩ đến khi làm, khi làm phải nhớ đến lời đã nói.
Người quân tử há chẳng phải thành tâm, thành thật thi hành điều đó hay sao?".
Lời bình
Khổng Tử nhấn mạnh về đạo lý làm người. Khổng Tử cho rằng nguyên tắc hành động của người quân tử phải phù hợp với đạo nhân. Một trong những nguyên tắc đó là trung thứ. Thế nào là trung thứ? Đơn giản mà nói thì trung thứ là từ mình suy ra người khác.
Những cái gì làm cho mình mà mình không muốn thì cũng đừng đem áp dụng vào người khác. Điều gì mình không muốn làm thì đừng bắt người khác làm.
Phàm mình muốn thành đạt, thì cũng để người khác thành đạt.
Đối với thành tích và công lao, không bao giờ độc chiếm một mình. Đối với khuyết điểm và sai lầm, không bao giờ đùn đẩy cho người khác.
Khổng Tử đề xướng, mỗi người cần thực hiện đạo trung thứ để giải quyết tốt mối quan hệ vua tôi, cha con, vợ chồng, anh em, bạn bè. Trước tiên, ai cũng phải làm hết trách nhiệm, nghĩa vụ trong quan hệ vua tôi, cha con, vợ chồng, anh em, bạn bè. Có như vậy, trên sẽ làm hết trách nhiệm, nghĩa vụ đối với dưới; dưới làm hết trách nhiệm, nghĩa vụ đối với trên.
Trong cuộc sống thường ngày, người ta phải nghiêm túc cẩn thận trong lời nói và việc làm. Nói phải có chữ tín, làm phải có kết quả, nói và làm phải đi đôi với nhau. Như vậy chẳng xứng đáng là một người quân tử trung hậu, thành thật sao?
Chương 14 – Tố Vị
1. Người quân tử nên dựa vào địa vị hiện tại của mình mà làm việc, không nên ham những cái ngoài bổn phận của mình.
Nếu mệnh trời sắp đặt ở địa vị giàu sang, thì dựa vào địa vị giàu sang mà làm việc.
Nếu ở vào địa vị nghèo hèn, thì dựa vào địa vị nghèo hèn mà làm việc.
Nếu ở vào địa vị di địch (mọi rợ) thì dựa vào địa vị di địch mà làm việc.
Nếu ở trong cảnh khó khăn, hoạn nạn thì dựa vào địa vị khó khăn, hoạn nạn mà làm việc.
Người quân tử ở bất kỳ hoàn cảnh nào đều có thể điềm nhiên tự tại, bình tĩnh tự đắc, không kêu ca phàn nàn.
2. Khi ở địa vị cao, không lăng mạ chèn ép người dưới; khi ở địa vị dưới, không nịnh bợ cầu cạnh người trên; lúc nào cũng giữ bản thân ngay thẳng, chẳng cầu mong xin xỏ người khác, được như vậy thì trên không oán trời, dưới không trách người.
Cho nên người quân tử luôn ở địa vị ổn định để chờ mệnh trời. Còn kẻ tiểu nhân buộc phải mạo hiểm để theo đuổi chức vụ, địa vị ngoài khả năng của mình.
3. Khổng Tử nói: "Phép bắn cung cũng giống như đạo người quân tử vậy. Khi mũi tên không trúng đích, phải trở lại tìm nguyên nhân ở chính bản thân mình".
Lời bình
Nho gia chủ trương xã hội có đẳng cấp, mọi người trong xã hội cần đứng đúng chỗ của mình, làm việc và cư xử theo đúng chức danh của mình.
Ngày nay chúng ta nói sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật, hoàn thành nhiệm vụ theo trách nhiệm và quyền hạn để tạo nên sự phát triển ổn định. Không phân biệt hoàn cảnh địa vị hay nghề nghiệp nào, mọi người đều tuân theo yêu cầu chức trách mà làm việc. Nói như vậy là muốn cho mọi người ở địa vị khác nhau, hoàn cảnh khác nhau vẫn phát huy hết được khả năng sức lực, trí tuệ theo đúng danh phận, địa vị của mình mà làm việc có kết quả. Con người biết làm việc theo hoàn cảnh và địa vị của mình thì trật tự xã hội sẽ ổn định, đất nước sẽ trường tồn.
Chương 15 – Hành Viễn
1. Đạo người quân tử ví như đi đường xa vậy, phải bắt đầu từ nơi gần.
Đạo người quân tử cũng ví như leo cao vậy, phải bắt đầu từ nơi thấp.
2. Kinh Thi có nói: "Vợ con hòa thuận thì giống như gảy đàn hợp xướng, toát lên khúc nhạc ăn khớp với lời ca êm tai thánh thót. Anh em hòa thuận với nhau thì có niềm vui muôn màu muôn vẻ. Gia đình hòa thuận thì cha mẹ, vợ chồng, anh em, con cháu trong nhà luôn đầm ấm, hạnh phúc".
3. Khổng Tử nói: "Được như vậy là cha mẹ vui lòng lắm rồi".
Lời bình
Trong xã hội đẳng cấp tông pháp, bị ràng buộc bởi quan hệ máu mủ ruột thịt thì gia đình là tế bào cơ bản của xã hội. Mối quan hệ giữa ông bà, cha mẹ, vợ chồng, anh em, con cái có tác dụng quan trọng đối với sự đoàn kết hòa thuận trong gia đình.
Nho gia rất quan tâm đến mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình. Giải quyết hài hòa mối quan hệ này chẳng những là nền tảng của gia đình hạnh phúc, là cơ sở để cải thiện nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, mà còn là nền tảng để ổn định xã hội.
Ở thời Chiến Quốc, chế độ tông pháp huyết thống này ở nhiều nước chư hầu bị đả kích mãnh liệt. Chế độ hưởng lộc cha truyền con nối, đời đời khanh tướng đại phu đã bị hủy bỏ, quan hệ gia tộc đã bắt đầu lỏng lẻo. Cho nên, những nhà nho sau này đặc biệt nhấn mạnh quan hệ trong gia đình và điều này đã trở thành một mặt rất quan trọng trong hệ tư tưởng Nho gia.
Ngày nay, vấn đề duy trì mối quan hệ ruột thịt trong gia đình vẫn rất cần thiết, vì gia đình là tế bào của xã hội, là nhân tố quan trọng để ổn định xã hội. Cho nên vấn đề giải quyết điều hòa các mối quan hệ giữa các thành viên trong một gia đình phải luôn luôn được duy trì và bổ sung nội dung cho phù hợp với thời đại.
Chương 16 – Quỷ Thần
Khổng Tử nói: "Sức mạnh của quỷ thần to lớn biết bao! Vừa nhìn thấy lại vừa không nhìn thấy! Vừa nghe thấy lại vừa không nghe thấy! Quỷ thần thể hiện trong vạn sự, vạn vật, không chỗ nào không có, không thể sót thứ gì. Nhờ vậy đã khiến cho người trong thiên hạ biết tắm gội, ăn chay, làm sạch lòng mình, mặc áo đẹp đẽ chỉnh tề khi tế quỷ thần. Linh khí của quỷ thần dường như ở khắp mọi nơi, như ở trên đầu mọi người, lại như ở xung quanh mọi người.
Kinh Thi có nói: "Quỷ thần đến lúc nào, không thể đoán trước được. Thế thì tại sao ta lại bất kính với quỷ thần?".
Quỷ thần vừa lẩn khuất kín đáo, lại vừa biểu hiện rõ rệt. Sự thành thật là không làm sao che giấu được. Chẳng phải nó cũng giống như quỷ thần vậy sao, tuy không thấy mà cứ hiện ra như thật".
Lời bình
Khổng Tử nói về đức tính, sức mạnh của quỷ thần, nhưng không phải đề cao thuyết có quỷ thần, mà là muốn nói về một loại đức hạnh uyên thâm, khó diễn đạt, đó là sự thành thật của con người.
Thành thật là chuẩn mực đạo đức của Nho gia. Thành thật là bản tính con người, người ta khi sinh ra đã có lòng thành thật. Và chỉ có thành tâm như khi cúng tế quỷ thần, thì bản tính, tư tưởng và giáo dục mới phát huy hết tác dụng.
Chương 17 – Đại Hiếu
Khổng Tử nói: "Vua Thuấn thật là bậc đại hiếu! Về đạo đức, vua Thuấn đáng được xưng tụng là thánh nhân. Về địa vị tôn quý, vua Thuấn là bậc vua thiên tử. Vua Thuấn có cả Trung Nguyên, chết rồi được thờ cúng ở tông miếu, con cháu đời sau chẳng bao giờ quên!
Cho nên người có đức lớn tất có địa vị xứng đáng, tất được hưởng lộc xứng đáng, hưởng danh xứng đáng và hưởng thọ lâu dài.
Trời xanh nuôi dưỡng muôn vật, tất phải căn cứ vào tài chất của muôn vật để bồi dưỡng, nếu đáng vun trồng thì bồi đắp, còn nghiêng đổ thì vùi lấp đi.
Kinh Thi có nói: "Người quân tử làm điều thiện, điều hay, bao giờ cũng tràn đầy niềm vui, có đức sáng thật rạng rỡ khiến cho trăm họ và bách quan đều sống hòa hợp với nhau, cùng nhau làm điều thiện. Vì vậy người quân tử được bổng lộc của trời, được trời bảo hộ, được trời giao cho làm vua thiên tử".
Cho nên, người có đức lớn, nhất định được trời ban cho chức vụ để làm việc có ích cho đời".
Lời bình
Khổng Tử cho rằng, vua Thuấn là người đại hiếu nhất, tuy là vua thiên tử mà vẫn thực hiện đạo đức, vẫn giữ trọn đạo hiếu với cha mẹ.
Mặt khác, tác giả đem vấn đề đạo đức luân lý gắn liền với tư tưởng mệnh trời. Điều này cốt cổ vũ động viên mọi người theo đuổi đạo đức, khắc khổ tu dưỡng, khuyên mọi người hướng thiện, sẽ được trời ban cho nhiều phúc.
Chương 18 – Vô Ưu
Khổng Tử nói: "Người không có nỗi ưu sầu, may ra chỉ có vua Văn Vương! Vương Quý là cha của vua Văn Vương. Vũ Vương là con của vua Văn Vương. Cha đã mở mang sự nghiệp, con kế thừa được sự nghiệp của cha.
Vua Vũ Vương kế nhận sự nghiệp của cố nội là Thái Vương, của ông nội là Vương Quý, của cha là Văn Vương, diệt được triều Ân, giành được thiên hạ.
Vua Vũ Vương không đánh mất danh tiếng của mình trong thiên hạ, được suy tôn là vua thiên tử, có tài sản của cả nước, chết rồi được mọi người thờ cúng trong tông miếu. Sự nghiệp của vua Vũ Vương do con cháu của vua Vũ Vương kế nhận. Những năm cuối đời, vua Vũ Vương mới được thụ mệnh trời làm vua thiên tử. Sau khi vua Vũ Vương mất, em là Chu Công lên thay, tiếp tục hoàn thành sự nghiệp của vua Văn Vương và vua Vũ Vương, truy phong cố nội Cổ Công Đán Phụ làm Thái Vương, phong ông nội Quý Lịch làm Vương Quý, dùng lễ tế thiên tử để cúng tế liệt tổ liệt tông. Loại lễ này được thực hiện từ vua thiên tử đến khắp các vua chư hầu, quan đại phu, kẻ sĩ và thứ dân.
Nếu cha là quan đại phu, con là kẻ sĩ, khi cha chết thì dùng lễ của quan đại phu mà chôn cất cha, dùng lễ của kẻ sĩ thờ cúng cha.
Nếu cha là kẻ sĩ, con là quan đại phu, khi cha chết thì dùng lễ của kẻ sĩ mà chôn cất cha, dùng lễ của quan đại phu thờ cúng cha.
Phép để tang đầy năm thực hiện từ thứ dân đến quan đại phu.
Phép để tang ba năm thực hiện từ thứ dân cho đến vua thiên tử.
Để tang cha mẹ phải là ba năm, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn, tất cả đều như nhau".
Lời bình
Khổng Tử lấy vua Văn Vương, vua Vũ Vương, ông Chu Công làm ví dụ để nói rõ quá trình triều Chu phát tích và hưng thịnh. Nhưng trọng điểm là giải thích mối quan hệ huyết thống tông pháp.
Chế độ đẳng cấp tông pháp là cơ sở chính trị của xã hội cổ đại Trung Quốc. Cho nên việc thờ cúng, tang lễ đối với bậc vua, cha mẹ, anh em, họ hàng, xa gần, sang hèn có quy định giới hạn rất nghiêm ngặt. Việc thực hiện lễ chế là một phần rất quan trọng trong việc duy trì chế độ đẳng cấp tông pháp, duy trì chế độ chính trị thời cổ đại.
Nhưng cuối thời Xuân Thu, đầu thời Chiến Quốc, lễ chế nhà Chu đã bị nhiều chư hầu phỉ báng. Cho nên Khổng Tử nhắc lại rất kỹ vấn đề này là muốn phục hồi lễ chế nhà Chu để bảo vệ chế độ đẳng cấp được tồn tại lâu dài.
Chương 19 – Đạt Hiếu
Khổng Tử nói: "Vua Vũ Vương và em là Chu Công có thể xem là hai người con làm tròn đạo hiếu nhất. Sở dĩ đạt được hiếu là vì khéo kế nhiệm xuất sắc chí hướng của ông cha, khéo hoàn thành sự nghiệp của ông cha".
Cụ thể là:
1. Khi tế trời đất, tế tổ tiên vào mùa xuân và mùa thu, đã biết sửa sang lại nơi cúng tế, bày đặt đồ vật tế, áo quần của người xưa; cúng tiến hoa quả, thực phẩm đúng theo mùa vụ.
2. Khi cử hành tế lễ ở tông miếu, đã biết sắp xếp bài vị đúng thứ tự ở giữa, bên trái, bên phải, theo đẳng cấp thứ bậc tước vị đã được ông cha quy định, nhằm phân biệt rõ công lao, đức độ, tài năng.
3. Khi mọi người cùng ngồi uống rượu thì người ít tuổi, thứ bậc thấp mời người nhiều tuổi, thứ bậc cao trước. Mục đích là đem lễ nghĩa về chữ hiếu quán triệt đến người ít tuổi.
4. Khi mọi người cùng ngồi ăn yến thì theo màu sắc của tóc mà phân định chỗ ngồi. Mục đích là để phân biệt người cao tuổi, người ít tuổi, nhằm giữ vững sự tôn trọng người cao tuổi.
5. Người có hiếu đúng mực thì giữ được địa vị đúng theo cấp bậc của tổ tiên, làm đúng việc tế lễ do tổ tiên quy định, diễn tấu nhạc do tổ tiên lưu truyền lại, tôn kính người tổ tiên yêu mến, phụng thờ người đã chết như khi còn sống, kính trọng vong linh người đã khuất như khi người đang còn. Thật là hiếu đến tột bậc vậy!
6. Lễ tế trời vào ngày hạ chí và lễ tế thần đất vào ngày đông chí là lễ tế trời đất.
Lễ tế ở tông miếu là lễ tế tổ tiên vào bốn mùa xuân, hạ, thu, đông.
Hiểu rõ được ý nghĩa của việc tế trời đất, tế tổ tiên, thì cai trị đất nước cũng dễ như nắm một vật trong bàn tay vậy.
Lời bình
Muốn làm tròn đạo hiếu, theo Khổng Tử là phải tuân thủ lễ chế nhà Chu, trong đó quan trọng bậc nhất là tuân thủ lễ tế trời đất và cúng tế tổ tiên.
Từ trên xuống dưới tuân thủ được như vậy thì xã hội nhất định ổn định, thiên hạ thái bình. Do đó việc trị nước sẽ dễ dàng như đưa một vật từ bàn tay này sang bàn tay kia, không có gì khó khăn cả.
Ở đây phản ánh tư tưởng tề gia, trị quốc, bình thiên hạ của Nho gia.
Nhưng trong hiện thực xã hội, những lễ tế này càng về sau càng giảm, hoặc bỏ đi không dùng nữa. Đây chỉ là sản phẩm của thời đại đương thời, nó thích ứng với quan niệm đạo đức của con người và điều kiện lịch sử của xã hội đương thời.
Chương 20 – Vấn Chính
1. Vua Lỗ Ai Công hỏi về việc trị nước.
Khổng Tử thưa: "Biện pháp trị nước của vua Văn Vương, vua Vũ Vương đều được ghi chép trong sử sách. Người đời nay theo lễ chế nhà Chu mà nắm quyền thì biện pháp này được thực hiện. Nếu đời nay còn người không theo lễ chế nhà Chu nắm quyền thì biện pháp này sẽ bị bỏ đi, không được thực hiện.
Người lãnh đạo dân chúng có tài đức thì đất nước mau hưng thịnh, cũng như đất màu mỡ thì cây cối mau tốt tươi. Việc chính sự phát triển nhanh như cây lau, cây sậy. Vì vậy thi hành biện pháp trị nước, cốt ở con người. Chọn dùng được người là cốt ở mình. Muốn vậy phải đề cao tu thân.
Muốn tu thân phải tuân theo đạo lý. Muốn tuân theo đạo lý, phải thực hiện "nhân". Nhân tức là tính người, là kính yêu người trong thân tộc, yêu nhân dân của mình. Đó là điều lớn nhất trong chữ "nhân".
Còn "nghĩa" tức là cư xử cho hợp lẽ. Biết tôn kính người hiền tài là điều lớn nhất trong chữ "nghĩa".
Yêu kính người thân cũng có mức độ khác nhau. Tôn kính người hiền tài cũng phải phân theo đẳng cấp. Đó là nguyên nhân vì sao phải đặt ra chế độ, ra lễ chế. Cho nên người quân tử không thể không tu thân trước.
Muốn tu thân tốt không thể không kính thờ cha mẹ. Muốn kính thờ cha mẹ, không thể không hiểu rõ đạo người. Muốn hiểu rõ đạo người, không thể không hiểu rõ đạo trời.
Đạo lý thông thường quy định trong thiên hạ có năm mối quan hệ, và để thực hiện được thì phải nhờ đến ba đức tính.
Năm mối quan hệ đó là: vua tôi, cha con, vợ chồng, anh em, bạn bè. Năm mối quan hệ này mọi người trong thiên hạ từ vua thiên tử đến thứ dân đều phải thông hiểu.
Còn ba đức tính đó là: trí, dũng, nhân. Đây là ba phẩm đức mà mọi người trong thiên hạ phải phấn đấu đạt cho được, mục đích là để thực hiện tốt năm mối quan hệ nói trên, nên tuy là ba nhưng cũng như một.
Đạo về năm mối quan hệ ấy, có người sinh ra đã biết, có người học rồi mới biết, có người phải trải qua vấp ngã rồi mới biết. Nhưng đến lúc họ đã hiểu rồi thì đều như nhau.
Đạo về năm mối quan hệ ấy, có người vì ham muốn lợi ích mà thực hiện, có người miễn cưỡng mà thực hiện. Nhưng đến lúc họ đã thành công rồi thì đều như nhau".
2. Khổng Tử nói: "Tự nguyện học tập làm theo lễ chế nhà Chu, như vậy đã tiếp cận với trí. Tận lực thi hành lễ chế nhà Chu như vậy đã tiếp cận với nhân. Biết làm trái lễ chế nhà Chu là điều sỉ nhục, như vậy đã tiếp cận với dũng.
Hiểu rõ ba điều này là biết được phương pháp tu thân.
Biết được phương pháp tu thân, sẽ biết được phương pháp lãnh đạo dân chúng.
Biết được phương pháp lãnh đạo dân chúng, sẽ biết được biện pháp lãnh đạo quốc gia.
3. Phàm việc trị nước nói chung có chín nguyên tắc lớn là: tu dưỡng bản thân, tôn trọng hiền tài, yêu quý người thân, kính trọng đại thần, săn sóc quần thần, quan tâm đến dân, khuyến khích bách nghệ, trọng đãi người nước ngoài, vỗ về chư hầu.
Tu dưỡng bản thân, thì đạo đức được xác lập (phù hợp lễ chế nhà Chu).
Tôn trọng hiền tài, thì không bị mê hoặc, ngu tối.
Yêu quý thân tộc, thì chú bác, anh em không oán hận.
Kính trọng đại thần, thì công việc ít phạm sai lầm.
Săn sóc quần thần, thì kẻ sĩ tận lực báo đáp.
Quan tâm đến dân, thì dân chúng khuyến khích cổ vũ, thực hiện tốt mọi điều bề trên đề ra.
Khuyến khích bách nghệ phát triển, thì vật dụng, hàng hóa buôn bán đủ đầy, sung túc.
Trọng đãi người nước ngoài đến nước mình làm ăn sinh sống, thì bốn phương quy thuận.
Vỗ về chư hầu, thì khắp thiên hạ sẽ kính phục.
4. Cụ thể có chín biện pháp như sau: Trước khi cúng tế phải ăn chay, tắm rửa sạch sẽ, làm sạch lòng mình, áo mũ chỉnh tề đoan trang; không làm việc gì trái với đạo đức, với lương tâm, trái với lễ chế nhà Chu. Đây là phương pháp tu thân.
Lánh kẻ tiểu nhân hay siểm nịnh, nói lời thị phi, gây rối làm mất đoàn kết nội bộ; xa việc nữ sắc xa hoa; coi thường của cải mà coi trọng đạo đức. Đây là biện pháp động viên cổ vũ hiền thần.
Nâng cao tước vị, tăng thêm bổng lộc cho người trong thân tộc, cùng người trong thân tộc chung niềm yêu ghét công bằng. Đây là biện pháp động viên cổ vũ người trong thân tộc thương yêu nhau.
Gia thuộc, bề tôi của các đại thần được lưu ý đúng mức, cất nhắc đề bạt đúng tài năng. Đây là biện pháp để động viên cổ vũ đại thần.
Những người có lòng trung được tin dùng và tăng thêm tước vị, bổng lộc hậu trọng. Đây là biện pháp để động viên cổ vũ kẻ sĩ.
Sử dụng lao dịch đúng lúc nông nhàn để không ảnh hưởng đến thời vụ sản xuất; giảm bớt tra xét, bắt bớ, giảm nhẹ đóng góp thuế má. Đây là biện pháp để động viên cổ vũ dân chúng.
Thường xuyên kiểm tra khảo sát tình hình bách nghệ, căn cứ vào kết quả công việc mà cấp thêm lương cho xứng đáng với công lao. Đây là biện pháp động viên cổ vũ bách nghệ gia tăng phát triển.
Tiễn cũ đón mới đúng nghi thức, ban thưởng hậu hỹ cho người làm tốt, thương xót giúp đỡ người kém năng lực. Đây là biện pháp động viên, cổ vũ người nước ngoài ở xa tới sinh sống lập nghiệp.
Đặt người nối dõi cho những dòng họ quý tộc (chư hầu) đã bị tuyệt thế, khôi phục lại nước đã bị diệt vọng, bình định kịp thời họa loạn, chống đỡ kịp thời nguy nan, triều kiến tiếp đón đúng lúc, giảm nhẹ cống nạp, tăng thêm ban thưởng. Đây là biện pháp động viên cổ vũ chư hầu.
Phàm việc nước có chín nguyên tắc và chín biện pháp như vậy. Nhưng cốt lõi để thực hiện chín nguyên tắc, chín biện pháp này chỉ có một điều, đó là thành thật.
5. Mọi việc phải có sự chuẩn bị thì mới thành công, không có sự chuẩn bị sẽ thất bại.
Trước khi nói mà có sự chuẩn bị thì không bao giờ vấp váp.
Trước khi làm mà có dự định thì không gặp phải khó khăn bất trắc.
Trước khi hành động mà có phép tắc thì không sai lầm.
Trước khi hành đạo mà có phép tắc thì không có gì không thông suốt.
6. Phàm ở địa vị cấp dưới, nếu không được bề trên tin dùng thì không được lòng dân, không lãnh đạo được dân chúng. Muốn được bề trên tin dùng, cũng có cách của nó: nếu không được bạn bè tin cậy thì sẽ không được bề trên tin dùng. Muốn được bạn bè tin cậy, cũng có cách của nó: nếu không hiếu thuận với cha mẹ thì sẽ không được bạn bè tin cậy. Hiếu thuận với cha mẹ cũng có cách của nó: nếu tự xét bản thân không thành thật thì sẽ không hiếu thuận được với cha mẹ. Muốn bản thân thành thật cũng có cách của nó: nếu không hiểu rõ thế nào là đức thiện, tính thiện, thì cũng không thể bồi dưỡng cho mình có lòng thành thật với bản thân.
7. Thành thật tự nhiên vốn là đạo trời. Còn tự mình nỗ lực đạt đến thành thật là đạo người.
Bậc thành thật tự nhiên không phải cố gắng cũng tự nhiên thích hợp với đạo, không phải suy nghĩ cũng hiểu được đạo, cứ ung dung mà hợp với đạo trung dung, đó là bậc thánh nhân.
Còn người tu tập để đạt tới thành thật thì phải chọn lấy điều thiện mà kiên trì theo đuổi. Muốn vậy, phải học tập cho sâu rộng, hỏi han cho kỹ lưỡng, suy nghĩ cho thận trọng, phân biệt cho sáng tỏ, thực hành cho thấu đáo.
Chỉ trừ trường hợp không chịu học, còn nếu đã chịu học mà chưa hiểu thì chưa dừng lại.
Trừ khi không chịu đi hỏi, còn nếu đã chịu hỏi mà chưa rõ thì chưa dừng lại.
Trừ khi không chịu suy nghĩ, còn nếu đã chịu suy nghĩ mà chưa tìm ra giải pháp thì chưa dừng lại.
Trừ khi không chịu tranh luận, còn nếu đã chịu tranh luận mà chưa ra nhẽ thì chưa dừng lại.
Trừ khi không chịu làm theo, còn nếu đã chịu làm theo rồi mà chưa tốt thì chưa dừng lại.
Người khác làm một lần mà có thể đạt được, còn mình hãy bỏ công một trăm lần.
Người khác làm mười lần mà thành được, mình hãy bỏ công một nghìn lần.
Nếu chịu làm theo phương pháp này, thì dù cho có ngu độn đến mấy cũng trở thành thông minh, dù cho có nhu nhược đến mấy cũng trở nên cứng rắn".
— Tứ Thư.
