Bài tổng quan
Từ công việc đến ngôi nhà: Sáu hào là sáu chỗ đứng
Cùng một quẻ, ba hào động có thể kể chuyện cả công sở lẫn ngôi nhà mình đang ở. Hào một là nền đất, hào hai là không gian trong nhà, mỗi nấc là một chỗ đứng. Và khi hai quy tắc đều đúng mà không thể cùng đúng…
Giữ chức hay bị đuổi: một quẻ ba hào động
Ngày Canh Thân, tháng Ngọ, có một người hỏi về công việc hiện tại. Người này là giám đốc một bộ phận trong công ty, tức vẫn còn cấp trên phía trên. Quẻ là Lôi Hỏa Phong hóa Thủy Lôi Truân. Từ trên xuống: Quan quỷ Tuất thổ; Phụ mẫu Thân kim ở hào thế động hóa Quan quỷ Tuất thổ; Thê tài Ngọ hỏa động hóa Phụ mẫu Thân kim; Huynh đệ Hợi thủy động hóa Quan quỷ Thìn thổ; Quan quỷ Sửu thổ ở hào ứng; Tử tôn Mão mộc.
Hào Thế là Thân kim, tức người hỏi là người da trắng, mắt sáng, tính bảo thủ. Vì thuộc âm nên không phải người quyết đoán trong công việc, dù chuyên môn tốt, và vào thời điểm hỏi thì đang nặng nề với công việc, vì có Câu Trần. Trong công việc, người ấy được cấp trên nâng đỡ và giúp đỡ hết sức. Người trên cùng đúng như mô tả của hào Thổ dương Câu Trần: dáng đậm người, chắc chắn nhưng chậm nắm bắt, có xu hướng thích giúp người xung quanh, trầm tính, nội tâm, quyết đoán hơn.
Cơ bản, quẻ này lấy Quan quỷ làm dụng thần, để bảo đảm điều quan tâm là «không bị đuổi». Ta căn cứ vào bản chất của hào: hào vượng thì không bị cắt khỏi công việc. Vì điều người hỏi mưu cầu là giữ được công việc chứ không phải thăng tiến, nên việc kéo dài lâu hay không phụ thuộc vào những quyết định từ bên ngoài, thể hiện qua độ vượng suy của hào Quan. Với các quẻ mưu cầu thăng tiến thì lúc đó hào Quan mới biểu thị cho sự thăng tiến, còn không thì chỉ nằm ở chuyện duy trì. Quyết định bên ngoài ở đây hiểu là quyết định từ phía cao hơn đối với mình, chẳng hạn chuyện đuổi việc, được biểu thị bằng hào Quan suy; nếu Quan vượng thì yên tâm, cấp trên không đuổi. Ở đây hào Thế hóa Quan quỷ. Với công danh, Quan là dụng thần nên chỉ tính hóa dụng sinh Thế, chứ ta không tính hóa Quỷ. Hào biến vì không chịu tác động của dụng thần trong trường hợp không phải là mộ, nên ta mặc định bản chất hào biến là vượng. Vậy việc đầu tiên, quan trọng nhất là yên tâm, không bị đuổi.
Nhưng luôn phải cảnh giác rằng trong mọi câu hỏi, việc ta quan tâm là dụng thần, còn an nguy bản thân trong công việc là hào Thế. Quẻ Dịch cho thấy tình huống khi các cách ứng xử cứ diễn ra tự nhiên, không có sự can thiệp: kết quả sẽ như vậy.
Thứ tự giải quẻ nhiều hào động qua từng bước
Quẻ ba hào động chẳng khó nếu ta đi chậm và ghi lại từng bước.
Bước một, xét bản chất dụng thần: vì là hào biến nên mặc định vượng. Bước hai, xét quan hệ Thế và Dụng: dụng thần sinh Thế. Bước ba, xét bản chất của ba hào động. Huynh đệ Hợi thủy được ngày sinh nên vượng. Thê tài Ngọ hỏa làm tháng nên vượng. Phụ mẫu Thân kim làm ngày và được hào động sinh nên vượng.
Bước bốn, xét từng cặp biến và động. Cặp thứ nhất là Huynh đệ Hợi thủy hóa Thìn thổ, là hóa mộ và hóa khắc, nhưng vì vượng nên ta tính là hóa mộ, cũng giống cặp Tý với Sửu: đó là ngoại lệ về trạng thái. Với trường hợp mộ này, ta chia hai giai đoạn: trước khi xung mộ, và từ lúc xung mộ trở đi. Cặp thứ hai là Thê tài Ngọ hỏa hóa Phụ mẫu Thân kim. Theo nguyên tắc chỉ có hào biến tác động đến hào động, chứ hào động không tác động ngược được, nên cặp này không ảnh hưởng gì, giữ nguyên Thê tài Ngọ hỏa. Cặp thứ ba là Phụ mẫu Thân kim hóa Quan quỷ Tuất thổ, tính là hóa sinh, không rơi vào trạng thái nào đặc biệt, nên giữ là Thân kim.
Giai đoạn một: trước khi xung mộ, tức trước Tuất. Ta không xét đến hào đã bị mộ trong chuỗi tác động, khi đó chỉ còn hai hào động là hào bốn và hào năm. Tương quan giữa hai hào này là Thê tài Ngọ hỏa khắc hào Thế. Nhớ rằng dụng thần là kết quả sự kiện, tức việc công danh, còn Thế đại diện cho an nguy bản thân trong chuyện hỏi. Vậy hào bốn khắc Thế thì việc nguy hiểm đến mình thuộc về một yếu tố khác ngoài nội tại câu chuyện. Nếu hào động khắc Thế thì tính là ta gặp tai họa vì chuyện hỏi, ví dụ như tai nạn lao động. Hào bốn là vị trí dưới ta, là quản lý cấp dưới hoặc trợ lý của sếp, nên ta bất lợi vì người này. Việc này đang xảy ra trong tháng này vì Hỏa làm tháng, và kéo dài đến thời điểm xung mộ.
Sau xung mộ thì thế nào còn phải xét giai đoạn hai. Nhưng ở đây ta thấy người hỏi đang chịu ảnh hưởng bởi vị trí người cấp dưới, gây nguy hiểm và áp lực cho bản thân, với những đặc điểm của hành Hỏa. Vậy muốn giải quyết thì làm sao? Tất nhiên không thể nhờ người cao hơn, vì người đó nằm tại hào biến, mà hào biến chỉ tác động duy nhất lên hào động hóa ra nó. Cuối cùng, người cao hơn là kẻ ngoài cuộc trong mối quan hệ giữa mình với những vị trí khác trong công việc. Vì vậy chuyện này chỉ có thể giải quyết bằng cách lánh đi, tránh đụng chạm quan hệ cho đến thời điểm Tuất thổ. Cách tránh này còn có thể làm thêm về mặt không gian, tức không đi xa, nên loanh quanh vị trí làm việc hoặc ở nhà, vì Kỵ ở ngoại quái đang động.
Giai đoạn hai: từ khi xung mộ, tức từ Tuất trở đi. Quẻ có ba hào động. Cách giải quẻ nhiều hào động như sau. Bước một, so từng cặp hào theo thứ tự từ cao xuống thấp. Đầu tiên là cặp Phụ mẫu Thân kim và Thê tài Ngọ hỏa, trong đó Thê tài vượng khắc mất Phụ mẫu. Ở đây có một chỗ mọi người hay nhầm: đối với bản chất, ta có các yếu tố quy chiếu gồm ngày, tháng, hào động, hào biến. Chỉ khi được cả ba yếu tố và yếu tố còn lại không khắc thì mới tính là quá vượng, còn tất cả những trường hợp còn lại đều được xem là vượng. Vượng một yếu tố hay vượng hai yếu tố đều như nhau. Nguyên tắc của hào khắc hào là chỉ cần sức mạnh tương đương là khắc được, chẳng hạn Hưu với Hưu, Vượng với Vượng, Vượng với Hưu, còn nếu yếu hơn thì không khắc được, như Hưu với Vượng. Ở đây cả hai đều vượng, nên kết quả còn lại là Thê tài.
Bước hai, lấy kết quả của cặp Phụ mẫu và Thê tài, tức Thê tài Ngọ hỏa, đem so với hào còn lại là Huynh đệ Hợi thủy. Ta lại có Huynh đệ vượng khắc mất Thê tài, nên kết quả chuỗi tác động còn lại là hào Huynh đệ Hợi thủy. Bước ba, lấy kết quả này quy chiếu với hào dụng thần. Dụng thần nằm ở hào biến nên không tác động gì, vì chỉ có hào biến mới tác động được vào hào động hóa ra nó. Bước bốn, quy chiếu với hào Thế: Thế tiết khí cho hào Huynh đệ Hợi thủy. Cần lưu ý rằng chuỗi tác động của các hào động được tính riêng, còn việc quy chiếu kết quả cuối chuỗi với dụng thần hay hào Thế cũng tính riêng, dù dụng thần hay hào Thế có động. Hào Thế này vượng nên chỉ mất mát chứ không hỏng việc. Vậy sau chi Tuất, ta có thể liên kết với người ở vị trí thấp hơn nữa để khắc chế vị trí hào bốn, thoát khỏi mối nguy hiểm đối với bản thân mình trong công việc.
Hào ba là Hợi thủy Thanh Long, tức người mềm mỏng, thông minh hoặc khéo, nhưng cũng cương quyết, quảng giao xung quanh. Đến đây, ta nên hi sinh chút lợi ích mà liên kết với cấp dưới thì sẽ thoát. Đó là tình huống lý tưởng khi hào khắc chế người hại mình vượng và dùng được. Nếu giả sử hào Hợi thủy này suy thì buộc ta phải chủ động liên lạc và hi sinh lợi ích, nuôi dưỡng hào ba này để chế phục hào Thê tài Ngọ hỏa kia. Mọi thông tin trong ví dụ đều được kiểm chứng về hiện tại và mốc thời gian. Với người làm trong ngành y, ta chỉ thay dụng thần Quan quỷ bằng Tử tôn, cách sắp xếp vẫn giữ như trên.
Ngôi nhà như một quẻ nhiều tầng
Mỗi hào của quẻ là một phần của ngôi nhà, và mỗi phần có chuyện riêng để kể.
Với chuyện nhà cửa trong phong thủy, có cách sắp xếp như sau đối với một ngôi nhà, nhưng chỉ đúng với câu hỏi tổng quát như «nhà hiện tại thế nào». Khi đó ta chọn dụng thần là Phụ mẫu, đại diện cho tình trạng ngôi nhà. Vượng suy của Phụ mẫu biểu thị chất lượng ngôi nhà, kể cả chuyện nhà ấy có lợi về tương lai hay không. Hào Thế đại diện cho sự an nguy và thoải mái của bản thân khi ở trong ngôi nhà. Một nhà đẹp nhưng ở không vui cũng được biểu thị qua việc Phụ mẫu vượng mà Thế suy. Sau đó Thế suy ở đâu thì bệnh tới đó. Nguyên tắc xét thứ tự cũng tương tự với quẻ xem công danh vừa giải: hào tĩnh bị hào động ảnh hưởng chủ động, các hào muốn xét vẫn theo công thức hào tự thân được xét bản chất với hào biến, sau đó chịu tác động của kết quả chuỗi tương tác giữa các hào động. Không phải là chịu tác động của từng hào động riêng lẻ. Ví dụ trong quẻ vừa rồi, hào Thế cuối cùng vẫn phải xét với kết quả của chuỗi tác động, chứ không phải kết luận ngay khi xảy ra tương tác đầu tiên, tức hào Thế Phụ mẫu Thân kim bị Thê tài Ngọ hỏa khắc. Phải chờ kết quả của chuỗi Thân kim với Ngọ hỏa, rồi Ngọ với Hợi thủy.
Vậy thứ tự các hào trong việc nhà như thế nào? Hào một đại diện cho nền nhà, khu vực khuôn viên quanh nhà, vùng cận nhà. Ví dụ gặp Thủy thì biết nhà gần nguồn nước. Nếu Thủy này Tuần không hay suy thì biết nguồn nước ấy xưa nhiều, nay đã khô cạn, có thể do giếng khô, bị lấp, hoặc có sông ngòi bị lấp lại.
Ở đây cần lưu ý về chi lớn và chi nhỏ trong việc luận đoán thông tin. Trong mỗi cặp ngũ hành, trừ Thổ, chi đứng trước theo chiều thuận đại diện cho «nhỏ», chi đứng sau đại diện cho «lớn». Với hành Mộc, ta có hai chi là Dần và Mão. Nếu hào một là Dần mộc thì đoán được đất này nhiều cây nhỏ, còn nếu là Mão mộc thì đất có cây to. Nếu Mộc bị Phá thì cây đã chết, Mộc suy thì cây bị chặt. Điều này để làm gì? Để ta có thêm thông tin đoán định đúng sự vật, vì về phong thủy sẽ có những chỗ hỏng; nếu chỗ hỏng đó là cây to trong rừng cây nhỏ, tức Mão, ta sẽ dễ đoán được gốc gác của nguồn tai họa. Với chi lớn và chi nhỏ, ta còn biết được xu hướng trong quá khứ của một sự việc. Chẳng hạn về tình cảm, nếu dụng thần là chi lớn thì quá khứ là một mối tình lớn, yêu nhiều; còn Dần, chi nhỏ, là không lớn. Đó là quá khứ, còn tương lai nằm ở bản chất của hào dụng thần lúc này.
Trong chuyện nhà ở, nếu hào một là Kim suy thì tuyệt đối cẩn thận với việc đất nhà mình nhiễm kim loại nặng. Chuyện người ta hay nói dưới nhà có cốt là hiện tượng Quan quỷ làm Bạch Hổ tại hào một, còn chuyện mộ cổ là Phụ mẫu làm Thổ. Nhưng đó là chuyện xưa, nay hiếm lắm, vì công nghệ ngày nay đào móng sâu, khó có chuyện mộ cổ nằm dưới nhà. Tuy vậy công thức xét vẫn là như thế.
Hào hai đại diện cho không gian trong nhà. Hào ba và hào bốn đều đại diện cho cửa. Hào năm đại diện cho tường bao và mái nhà. Hào sáu đại diện cho không gian thế. Tổng quát, một căn nhà được chia như vậy, nhưng đây là phép chia tổng quát. Về những vấn đề cụ thể tới đâu thì phải xem thủ công, như nhà có trăm cửa thì một hào không thể đại diện cho trăm cửa. Ta chỉ biết vấn đề nằm tại cửa, rồi lại phải thủ công từng cửa một. Việc này về lý thuyết rất mất thời gian. Nguyên tắc xuyên suốt của Lục hào luôn là: hỏng đâu sửa đấy, không qua loa xong chuyện. Vì thế ở cấp độ đơn giản, ai cũng có thể tiếp cận được, còn ở những phần tinh tế thì bắt buộc phải có tư duy hệ thống cùng nhiều thao tác, nên hiếm người đến nơi đến chốn. Một phần cũng vì ấn tượng ban đầu của hầu hết mọi người rằng Dịch dễ, tuy đúng là dễ thật nhưng vẫn mất ít công phu để đạt việc đó. Nếu có tâm huyết thì đừng nên vội.
Nội quái nói chuyện gần, ngoại quái nói chuyện xa
Ba hào dưới và ba hào trên không chỉ là hai nửa của một quẻ, mà còn là hai miền không gian.
Về khái niệm, ba hào tạo nên quẻ Thượng gọi là các hào nằm ở ngoại quái, ba hào tạo nên quẻ Hạ gọi là các hào nằm ở nội quái. Việc phân chia nội ngoại này cho nhiều thông tin trong luận đoán. Nội quái là những việc xảy ra gần nhà, hoặc các mối quan hệ gần như bạn bè, người thân, người quen, người đã từng gặp một lần, trong những việc mà quy mô xác định con người lớn. Ngoại quái là những việc xảy ra bên ngoài, hoặc những quan hệ xa, hoặc người chưa từng gặp một lần, cũng với những việc có quy mô xác định con người lớn.
Về mặt không gian, tạm thời ta có ba không gian để khi nhắc tới vị trí trong công danh, vị trí nội ngoại, hay đặc điểm con người, ta dễ dàng quy chiếu theo đó. Khi muốn phân biệt vị trí của một hào ở thượng hay hạ quái, cũng nên đối chiếu thêm hào tượng thiên nhân địa, và khi cần biết đến hình dáng của người nằm ở từng vị trí thì có cách phân đoán hình thể.
Khi hai quy tắc trạng thái và bản chất va nhau
Có những quẻ hai điều đều đúng và không thể cùng đúng. Khi ấy phải biết điều nào được nhường trước.
Việc xét thứ tự là điều cực kỳ quan trọng trong cả quá trình liên quan đến Lục hào. Thứ tự sai, đồng nghĩa với việc sẽ xảy ra mâu thuẫn ở một thời điểm nào đó đối với tình huống đặc biệt không thông thường, và sự mâu thuẫn ấy tạo nên sai lầm. Với quẻ đơn động hoặc quẻ tĩnh, việc xét thứ tự thường bị bỏ qua, vì các yếu tố trong quẻ chưa thể hiện sự tương quan và phụ thuộc lẫn nhau. Khi đó chỉ cần chú trọng vào những yếu tố đơn lẻ trong quẻ cũng đã ra được kết quả và những thông tin đi kèm. Nhưng với những mưu cầu lớn, hoặc khi dùng Dịch như một lớp bảo hiểm cho bản thân, như thế vẫn chưa đủ. Lúc đó, lựa chọn đối với tình huống là gieo nhiều lần để rõ ý, song cần nhớ quẻ đầu tiên sẽ là quẻ bao quát phần thông tin, các quẻ sau chỉ là quẻ bổ sung, không phổ quát như quẻ đầu, và hầu như chỉ cho ra kết quả cần biết, đôi khi không thể hiện được thời điểm ứng kỳ. Vì thế, muốn đi sâu đến đích cuối, yếu tố căn bản về thứ tự và xa gần không bao giờ được bỏ qua.
Thử xét quẻ Trạch Lôi Tùy hóa Thiên Trạch Lý, ngày Đinh Tỵ, tháng Dần. Hào Huynh đệ nhập mộ tại hào Thê tài, nhưng đồng thời cũng có thể tính là khắc hào Thê tài. Câu hỏi đặt ra là: Huynh đệ này nhập mộ tại Thê tài trước, hay Huynh đệ này khắc mộ nên tính như một hào bình thường? Nếu xét đồng thời cả hai thì mâu thuẫn nảy sinh: Huynh đệ không thể vừa nhập mộ vừa khắc mộ cùng lúc. Nếu cả hai xảy ra song song, thì xét Huynh đệ nhập mộ hay Huynh đệ thông thường?
Câu trả lời mang tính công thức: ưu tiên trạng thái trước bản chất. Trạng thái là cách gọi chung các khái niệm ngoài bản chất của hào, tức ngoài Quá vượng, Vượng, Hưu, Suy, Vô căn. Với quẻ này, vì ưu tiên trạng thái trước nên Huynh đệ vẫn nhập mộ tại hào động. Khi đó, đến thời điểm Sửu, là lúc xung mộ, hào Huynh đệ này mới tính là khắc được hào Thê tài. Với nhận thức đó, ta thấy để đi sâu vào những quẻ có tình huống đặc biệt, ta cần cực kỳ cảnh giác về thứ tự.
Những thứ tự cần nhớ khi xem Lục hào
Mỗi tầng của việc xem quẻ có một thứ tự riêng. Nhớ chúng ở cùng một chỗ sẽ đỡ lẫn.
Với người hỏi, thứ tự là: người hỏi đúng, rồi quẻ đúng, rồi kỹ thuật giải đúng. Với việc giải quẻ, thứ tự là: dụng thần, hào động, hào biến. Với việc viết kết luận, thứ tự là: kết quả, thời điểm, thông tin. Với việc xem quẻ, thứ tự là: bản chất, rồi trạng thái. Với từng hào, thứ tự ưu tiên lại là: trạng thái, rồi bản chất. Với người hỏi, thứ tự là: bản chất câu hỏi, quy mô thời gian, các yếu tố và quy mô không gian. Với quẻ đa động, thứ tự là: dụng thần, rồi Thế; kết quả của nhóm đa động được quy chiếu ngược với dụng thần và Thế. Cần nhớ phải ưu tiên trạng thái đối với hào để lấy các mốc trong việc xem quẻ.
Khi cần ôn lại hai khái niệm đặc biệt hay xuất hiện trong những quẻ như thế, có thể đọc thêm mười hai cung trường sinh, luận về tử, mộ, tuyệt.
Nguồn: Vi Nhất Sơn, Bốc Dịch Đại Toàn.
