Bài tổng quan
Lộc bay, ngựa bay và Thủy Kích qua hai mươi tám sao
Hạn của một người chạy qua mười hai cung, mười năm một bước, một ngôi sao đi xuôi và một ngôi sao đi ngược. Còn sao lửa Thủy Kích của mỗi năm lại rơi vào một trong hai mươi tám nhà của trời, mỗi nhà một việc. Hai lối xem ấy gặp nhau ở chỗ nào, và nhà sao nào dễ động đến cung cấm nhất…
Mục lục · 9 phần
- 01Lộc bay và ngựa bay: hai con đường mười năm một cung
- 02Đại hạn và tiểu hạn đi theo chi
- 03Đến một cung, xem sao cát, sao hung và những cung chiếu
- 04Thủy Kích lạc vào hai mươi tám nhà của trời
- 05Bảy sao phương Đông: chuyện triều đình và hậu cung
- 06Bảy sao phương Bắc: đói kém, thuế má, chợ búa
- 07Bảy sao phương Tây: binh khí, tù ngục, quân hành
- 08Bảy sao phương Nam: lụt, lửa và lòng người
- 09Cách đọc hai mươi tám sao không chỉ có một lối
Lộc bay và ngựa bay: hai con đường mười năm một cung
Ngoài bàn Thái Ất còn có hai ngôi sao chạy theo người, một đi xuôi và một đi ngược, mỗi mười năm dời một chỗ.
Muốn tìm Phi Lộc và Phi Mã, lấy can của năm sinh, tra xem can ấy thuộc hành nào, mang số nào và có gốc sống ở chi nào. Từ cung gốc sống ấy khởi đi, cứ mười năm dời một cung trong mười hai chi. Hạn Phi Lộc đi xuôi, hạn Phi Mã đi ngược.
- Giáp, Ất thuộc Mộc, số 3, gốc sống ở Hợi.
- Bính, Đinh thuộc Hỏa, số 2, gốc sống ở Dần.
- Mậu, Kỷ thuộc Thổ, số 5, gốc sống ở Ngọ.
- Canh, Tân thuộc Kim, số 4, gốc sống ở Tị.
- Nhâm, Quý thuộc Thủy, số 1, gốc sống ở Thân.
Lấy người sinh năm có can Giáp hoặc Ất làm ví dụ. Lộc từ lúc sinh đến ba tuổi ở Hợi, gọi là Hợi Lộc 3. Đến mười ba tuổi Lộc ở Tý, hai mươi ba tuổi ở Sửu, cứ thế đi xuôi. Mã cũng khởi từ Hợi ở số 3, nhưng đi ngược: mười ba tuổi ở Tuất, hai mươi ba tuổi ở Dậu.
Sao lộc chủ của từng can
Mỗi can năm sinh có một sao làm lộc chủ, tìm theo ngũ hóa của mười can. Giáp và Kỷ hóa Thổ, lộc chủ là Quân Cơ. Ất và Canh hóa Kim, lộc chủ là Chủ Đại Tướng. Bính và Tân hóa Thủy, lộc chủ là Đại Khách. Đinh và Nhâm hóa Mộc, lộc chủ là Tiểu Du, tức Thái Ất. Mậu và Quý hóa Hỏa, lộc chủ là Thủy Kích.
Đại hạn và tiểu hạn đi theo chi
Hạn lớn thì đếm theo tháng sinh, hạn nhỏ thì đếm theo ngày sinh.
Đại hạn lấy chi của tháng sinh làm chỗ khởi, rồi mỗi năm dời một cung. Dương nam và âm nữ đi thuận, âm nam và dương nữ đi nghịch.
Tiểu hạn có hai cách. Cách thứ nhất lấy can của ngày sinh, đếm số theo ngũ hóa, một năm một cung, nam đi thuận, nữ đi nghịch, vòng quanh mười hai chi. Ví dụ nam sinh ngày Mậu hoặc Quý thì hai tuổi hạn ở chi của ngày sinh, ba tuổi ở cung kế tiếp, thuận hay nghịch tùy giới.
Cách thứ hai lấy số trực trú cung của chi ngày sinh, ghi ngay dưới chi ấy rồi luân lưu, nam thuận nữ nghịch, mỗi cung một năm. Số trực trú cung là: Tý và Sửu bằng 1, Ngọ và Mùi bằng 2, Mão bằng 3, Thìn và Tuất bằng 4, Tị bằng 9, Dần và Thân bằng 8, Dậu bằng 7, Hợi bằng 6.
Đến một cung, xem sao cát, sao hung và những cung chiếu
Khi hạn đã chạy đến một cung, việc còn lại là đọc những ngôi sao đang ngồi ở đó và những cung đối diện nó.
Bốn cung góc có tính thông thần. Kiền số 1 thông với hai cung kề bên là Tuất và Hợi. Cấn số 3 thông với Sửu và Dần. Tốn số 9 thông với Thìn và Tị. Khôn số 7 thông với Mùi và Thân. Vì vậy nếu cung Mùi không có sao thì phải xem cung Khôn, và khi xem Khôn phải xem cả Mùi lẫn Thân.
Chính chiếu là cung đối nhau. Hợp chiếu là ba cung hợp thành khối, như Hợi, Mão, Mùi; Thân, Tý, Thìn; Tị, Dậu, Sửu; Dần, Ngọ, Tuất. Nếu một cung không có sao thì lấy sao ở cung đối. Cung đối cũng trống thì dùng cung hợp chiếu. Cả ba đều trống thì xem như không có sao đến chiếu.
Khi xem Lộc hay Mã tới một cung, chia ra sao cát và sao hung, nặng nhẹ mà rõ lành dữ. Mỗi cung có ba bốn sao, chia thiện ác mà xét. Cát nhiều, hung ít mà không hại thì là cát. Hung nhiều, cát ít mà không hại thì là hung. Đời người không thể trọn mười điều lành về nét lớn, nên phải châm chước nặng nhẹ, sâu nông. Cát nhiều hung ít nhưng sao hung ngồi ở nơi cao cường cũng thành họa hoạn được. Hung nhiều cát ít mà sao phúc đến cung mạnh khá thì phúc vẫn sáng tỏ. Không thể chấp nhất, phải lượng nhẹ nặng mà xét biến thông.
Thủy Kích lạc vào hai mươi tám nhà của trời
Hạn của một người đi theo cung, còn Thủy Kích của một năm thì đi theo sao. Mỗi năm nó dời đến một nhà sao khác, và chỗ ấy mang tên những nhà sao cổ.
Kinh nói rằng khí nguyên thủy bị ép, bị đánh mà thành hình ra Thủy Kích. Đó là tinh khí của sao chổi Huỳnh Hoặc, loại sao lửa hay làm loạn khí trời. Thủy Kích không đứng một chỗ mà rời đi tùy theo thế của năm, và khi nó đến một trong hai mươi tám sao thì sinh ra những tai biến lành dữ riêng cho từng sao. Hai mươi tám sao chia làm bốn phương, mỗi phương bảy sao, mỗi phương ứng với một hành: Đông ứng Mộc, Bắc ứng Thủy, Tây ứng Kim, Nam ứng Hỏa.
Mỗi sao trong hai mươi tám sao còn có một vai trong cung điện của trời. Có sao là phủ của hậu phi, có sao là tông miếu, có sao là kho khí giới hay chốn ngục tù. Thủy Kích rơi đến đâu thì chuyện thuộc về chỗ ấy bị khuấy động.
Bảy sao phương Đông: chuyện triều đình và hậu cung
Phương Đông là mùa xuân của bầu trời, nơi mọi sự bắt đầu, và cũng là nơi cung cấm bị đụng đến sớm nhất.
Giác, Cang, Đê, Phòng
Sao Giác là chòm ban bố uy tín của trời. Thủy Kích vào đây thì bậc đại nhân phải lo, có binh ngoại quốc xâm nhập lãnh thổ, và nếu toán của năm không hòa thì rất hung. Sao Cang được gọi là nội triều. Thủy Kích vào đây thì dân sinh bệnh rồi chết, năm ấy có sâu lúa và côn trùng hại mùa màng.
Sao Đê là phủ của hậu phi. Thủy Kích vào đây là trong nội cung có họa tai, có người trong nhà làm điều nghịch với nhau. Sao Phòng là Minh Đường. Thủy Kích vào đây là chủ việc động binh, các tướng phải lo, nếu toán không hòa thì đại hung.
Về sao Đê có một chuyện đời Hán Vũ Đế, năm Chính Hòa thứ ba, khi Lý Quảng Lợi đầu hàng Hung Nô. Năm ấy Thủy Kích đóng ở cung thuộc Mộc và gia vào sao Đê. Công chúa và hậu phi trong cung trở nên rất sùng tín vu thuật, nhà vua lấy thêm thiếp, rồi trong cung xảy ra cuộc đối nghịch giữa nhà vua, Thái Tử và hậu phi, kết cục Thái Tử và Hoàng Hậu tự sát.
Tâm, Vĩ, Cơ
Sao Tâm ứng chỗ của Thái Tử. Thủy Kích vào đây thì các vương phải lo. Nếu nó đóng ở Mão, mà bàn của năm lại có tính, có cách, thì báo tin dân thường xâm phạm vào cung. Sao Vĩ là phủ của hậu phi. Thủy Kích vào đây thì binh khởi, sĩ tốt lưu vong, nên tu đức để đối phó. Sao Cơ cũng là phủ hậu phi. Thủy Kích vào đây thì sinh khẩu thiệt, tai họa làm kinh khủng cho hậu phi.
Về sao Cơ có năm Tân Hợi (năm 291, đời Tấn Huệ Đế), khi bà Giả Hậu phế Dương Thái Hậu và giết quan Thái Phó Dương Tuấn. Tám năm sau, năm Kỷ Mùi (299), bà Giả Hậu lại phế Thái Tử, và nhiều vương khác bị giết theo.
Bảy sao phương Bắc: đói kém, thuế má, chợ búa
Phương Bắc là mùa đông, là kho chứa, vì thế các chuyện ở đây đều xoay quanh lương thực, vật tế và giá cả.
Sao Đẩu là Thiên Miếu. Thủy Kích vào đây thì nhân quân mất tước lộc, và nếu gặp cửa đóng thì dân đói đến mức ăn thịt nhau. Có hai lần được ghi: một năm đời Hán Vũ Đế, tuế kể rơi Thủy Kích vào sao Đẩu, lại có bế, có tính, có cửa Đỗ đóng, dân đói đến phải ăn thịt nhau. Và những ai đã sống qua năm Ất Dậu 1945 ở các tỉnh Nam Định, Thái Bình đều từng thấy cảnh đói lớn, có nơi bán thịt người, mẹ giết con lấy thịt, nạn đói kéo từ tháng Tị đến tháng Ngọ. Năm ấy toán bất hòa, vô thiên, Thủy Kích đóng ở Âm Đức, cửa đóng, đều ứng vào đó.
Sao Ngưu là cửa cấm của Thái Ất, chủ việc giết vật tế thần. Thủy Kích vào đây là triệu chứng dân đói, việc cày cấy trở nên quý báu, trâu bò bị giết hại, và vùng Ngô Việt có binh khởi. Sao Nữ là phủ của thê thiếp. Thủy Kích vào đây thì nữ hậu mắc bệnh, có hỏa tai, lúa vải đắt, tiền tài trong ngoài cạn.
Sao Hư là phủ của lợn và bò, chủ việc chiếm đoạt. Thủy Kích vào đây thì có việc sửa đổi chính lệnh, chủ tai ương, vua tôi đều lo vì chuyện trả giá, thách đố, tức là giao dịch, kinh tế, thương mại. Sao Nguy là chợ trời. Thủy Kích vào đây thì chủ việc thổ công, năm ấy bệnh chết nhiều, tang tóc, binh đao, tiếng khóc đầy đường, vải vóc quý hiếm.
Sao Thất là cung của Thiên Tử. Thủy Kích vào đây thì bậc đại nhân mắc mưu, dân chịu binh cách, và nếu toán tam tài của Thái Ất không đủ thì nhiều tai biến. Sao Bích là phủ của văn chương nghệ thuật. Thủy Kích vào đây thì văn chương hưng thịnh, nhưng nếu nó vượng tướng thì trọng võ hơn đồ thư. Có hai năm được ghi: năm Mậu Ngọ, niên hiệu Vĩnh Bình (năm 58), Thủy Kích rơi vào sao Bích, năm ấy nơi nào cũng mở trường học; và năm Đinh Dậu, niên hiệu Đại Minh đời Tống Hiếu Vũ Đế (năm 457), Thủy Kích vào sao Bích thì nhà Tống lập trường học võ.
Bảy sao phương Tây: binh khí, tù ngục, quân hành
Phương Tây là mùa thu, mùa của kim loại, của lưỡi gươm và của việc thu hoạch, nên các sao ở đây nói về quân đội và ngục tù.
Sao Khuê là kho khí giới. Thủy Kích vào đây thì cận thần, bề tôi bị bỏ rơi. Sao Lâu là tù ngục. Thủy Kích vào đây thì sinh đạo tặc ở núi rừng, đường sá không thông, lúa gạo thất thu, dân đói, sinh biến, binh khởi. Sao Vị là nơi tụ họp. Thủy Kích vào đây thì ngũ cốc không tốt tươi, binh khởi. Sao Mão là tai mắt của trời. Thủy Kích vào đây thì người bệnh tật và có chiến tranh lớn.
Sao Tất chủ binh lực. Thủy Kích vào đây thì binh lực mạnh, có chinh phạt, ngũ cốc không chín. Có một năm được ghi: năm Ất Mão, đời Hán Ai Đế (sáu năm trước Công nguyên), Thủy Kích rơi vào các sao Vị, Mão, Tất. Năm ấy bị hạn, các nước phương Nam gặp nạn hoàng trùng, đến tháng mười hai sâu bọ tràn ngập đất Hán Trung, và nơi nào cũng động binh.
Sao Chủy là phủ hành quân. Thủy Kích vào đây thì tướng phản, ngựa trâu bị sung vào việc quân, dân nhiều bệnh, có gieo cấy mà cây cối không mọc. Sao Sâm chủ tướng quân. Thủy Kích rơi vào đây thì cung thất phải dời chỗ, binh vào kinh đô, âm dương không đều hòa.
Bảy sao phương Nam: lụt, lửa và lòng người
Phương Nam là mùa hạ, là lửa, là sáng, nhưng sao lửa vào nhà lửa thì chẳng có gì dịu đi.
Sao Tỉnh là cửa trời Nam. Thủy Kích vào đây thì sông ngòi đầy nước, có ngoại xâm, có đại hồng thủy. Sao Quỷ là mắt của trời. Thủy Kích vào đây thì dân nhiều bệnh, hậu phi mất thế, nhiều người chết, lúa vải quý. Sao Liễu là ngục tù. Thủy Kích vào đây thì dân đói, lưu vong, ly tán.
Sao Tinh là đô phủ. Thủy Kích vào đây thì có hỏa tai, vua tôi chống nhau. Sao Trương là tông miếu. Thủy Kích vào đây thì sinh nhiều đảo lộn, nhiều biến đổi, nhiều thuyết ra đời, rồi loạn. Sao Dực là kho thuốc và chủ sự an lạc. Thủy Kích vào đây thì âm dương mất thứ tự, mưa nhiều, có loạn, đời xáo trộn, hết thuận hòa. Sao Chẩn chủ xe ngựa. Thủy Kích vào đây thì có tang vong, có việc lập vua ngoại quốc, có binh loạn, mất thuận hòa, nhiều phiền hà.
Cách đọc hai mươi tám sao không chỉ có một lối
Cùng một dãy sao, mỗi nhà thuật số lại đọc theo một kiểu, và người xưa biết rõ điều đó.
Người xưa thường lấy Kể Thần gia vào cung Hòa Đức, tức cung Cấn, rồi nhìn xem Thủy Kích rơi vào sao nào thì biết lành dữ ra sao. Trong nhiều sách bói, người ta cũng dùng hai mươi tám sao theo cách khác: lịch sao trực để đặt ngày tốt xấu cho các việc tu tạo, cưới hỏi, tang ma, cải táng, chôn cất. Ở lối này mỗi sao được kèm theo hình một con vật để kiêng kỵ, ví dụ sao Tâm là con cáo, sao Vĩ là con cọp, sao Đẩu là con cua. Hai mươi tám sao còn có nhiều cách lý giải khác nhau, nên cũng không vội tin hết mọi lối.
Nguồn: Nguyễn Bỉnh Khiêm, Thái Ất thần kinh.
