Bài tổng quan
Đại vận chín năm hay sáu năm, quẻ lưu niên và quẻ của từng tháng
Một hào Dương cho chín năm, một hào Âm chỉ cho sáu, và mỗi năm trong đó lại đổi sang một quẻ mới như người đi từng bước chân. Nhưng có những năm hào ấy đứng yên, và chỉ khi gặp tuế Âm nó mới chịu dịch chuyển...
Đại vận: những chặng đường lớn nối nhau
Đời người, từ lúc sinh ra đến lúc chết, chia làm nhiều thời kỳ hay giai đoạn. Đại vận là những chặng đường lớn nối tiếp nhau suốt cuộc đời. Mỗi đại vận mang những đặc trưng riêng về tính cách, lề lối ứng xử, những vận hạn thịnh suy bĩ thái, được mất hanh truân, những thăng trầm khó khăn hay thuận lợi, đều do không gian và thời gian sinh trưởng của từng người quy định. Mỗi thời kỳ gồm nhiều năm và ít nhiều có tính cách chung, không hẳn giống thời kỳ khác. Tổng hợp các đại vận là hành lang số phận của con người.
Các đại vận được sắp xếp trong quẻ Tiên Thiên và quẻ Hậu Thiên. Cả cuộc đời chia thành hai chặng lớn: chặng trước gọi là tiên vận, gắn với quẻ Tiên Thiên; chặng sau gọi là hậu vận, gắn với quẻ Hậu Thiên. Xác định khoảng thời gian của sáu đại vận Tiên Thiên và sáu đại vận Hậu Thiên cũng có nghĩa là xác định cách tính quẻ cho từng năm trong các đại vận đó.
Hào Nguyên Đường mở đầu mỗi chặng
Hào Nguyên Đường của quẻ Tiên Thiên là đại vận đầu tiên của tiên vận và của cả cuộc đời. Những dự đoán thuộc về Nguyên Đường Tiên Thiên không chỉ có giá trị với tiên vận mà còn có giá trị cho cả cuộc đời, tất nhiên là phức hợp và đa dạng. Hào Nguyên Đường của quẻ Hậu Thiên là đại vận đầu tiên của hậu vận.
Nếu hào Nguyên Đường là hào Dương thì đại vận kéo dài chín năm. Nếu là hào Âm thì đại vận kéo dài sáu năm. Các hào đại vận bắt đầu từ hào Nguyên Đường của Tiên Thiên và nối tiếp theo hướng đi lên; đến hào sáu thì vòng trở lại hào một, rồi đến ngay trước hào Nguyên Đường là vừa đủ sáu đại vận khép kín. Hào đại vận nối tiếp, mở đầu cho hậu vận, là hào Nguyên Đường của quẻ Hậu Thiên, và sắp xếp các đại vận của hậu vận cũng giống như Tiên Thiên.
Tính đại vận bằng tuổi, đổi ra năm dương lịch
Mỗi hết một năm là thêm một tuổi, vì thế năm đầu đời bao giờ cũng là năm thiếu.
Đại vận nên tính bằng tuổi: cứ hết một năm tính một tuổi, nên năm đầu tiên thường là tuổi khuyết, chưa đủ một năm. Đại vận đầu tính từ một tuổi đến chín tuổi nếu là hào Dương, và từ một tuổi đến sáu tuổi nếu là hào Âm. Các đại vận sau: nếu hào Âm thì cộng thêm năm để thành sáu tuổi, nếu hào Dương thì cộng thêm tám để thành chín tuổi.
Muốn đổi sang năm dương lịch tương ứng với năm âm lịch cho thuận tiện, thì đổi cột tuổi thành cột năm dương lịch. Tìm năm dương lịch tương ứng với năm âm lịch là năm sinh, coi đó là năm một tuổi. Nếu hào đầu là hào Dương thì cộng thêm tám, nếu hào đầu là hào Âm thì cộng thêm năm, và các hào đại vận sau tiếp tục tính như vậy. Ghi năm dương lịch chỉ để cho thuận tiện, việc dự đoán vẫn phải theo năm âm lịch.
Có một tình huống cần lưu ý: nếu người sinh vào những ngày cuối năm âm lịch, tức tháng chạp âm lịch, mà ngày dương lịch tương ứng đã thuộc tháng giêng dương lịch của năm sau, thì năm âm lịch và năm dương lịch không còn tương ứng nhau. Khi gặp tình huống đó, lúc tính đại vận đầu tiên sau khi ghi năm sinh dương lịch, chỉ cần cộng thêm bảy (với hào đại vận Dương) hoặc bốn (với hào đại vận Âm) thì những năm âm lịch và dương lịch tiếp theo mới tương ứng nhau chính xác. Tất nhiên nên đối chiếu thêm với lịch âm dương.
Đến đây đã cơ bản hình thành cấu trúc Hà Lạc của một đời người.
Lưu niên: hạn đi từng năm một
Nếu đại vận là con đường thì lưu niên là từng bước chân, mỗi năm một quẻ nhỏ mới.
Lưu niên là hạn đi từng năm, cũng như Tiểu hạn của Tử Vi. Đại vận của Hà Lạc còn gọi là Đại tượng, còn lưu niên là Tiểu tượng.
Đại vận hào Âm: biến ngay, không cần xét tuế
Nếu đại vận là hào Âm thì cứ biến ngay từ hào ấy, bất luận Âm tuế hay Dương tuế. Quẻ do hào biến lần đầu là hạn lưu niên năm thứ nhất; cứ biến lần lượt hết sáu hào là đúng sáu năm.
Ví dụ một người một tuổi được quẻ Thiên Hỏa Đồng Nhân, Nguyên Đường ngồi hào hai Âm. Muốn tính lưu niên của đại vận này từ một đến sáu tuổi:
Năm thứ nhất: hào hai Âm của quẻ Đồng Nhân biến thành hào hai Dương, ra quẻ Thuần Càn. Năm thứ hai: hào ba Dương của quẻ Càn biến thành hào ba Âm, ra quẻ Thiên Trạch Lý. Năm thứ ba: hào bốn Dương của quẻ Lý biến thành hào bốn Âm, ra quẻ Phong Trạch Trung Phu. Năm thứ tư: hào năm Dương của quẻ Trung Phu biến thành hào năm Âm, ra quẻ Sơn Trạch Tổn. Năm thứ năm: hào sáu Dương của quẻ Tổn biến thành hào sáu Âm, ra quẻ Địa Trạch Lâm. Năm thứ sáu: hào một Dương của quẻ Lâm biến thành hào một Âm, ra quẻ Địa Thủy Sư. Thế là biến đủ sáu hào thành quẻ của sáu năm.
Cần nhớ rằng quẻ lưu niên năm sau do quẻ lưu niên năm trước biến mà thành, chứ không phải do quẻ Tiên Thiên hay Hậu Thiên lúc mới bắt đầu tính đại vận.
Đại vận hào Dương, gặp Dương tuế: giữ nguyên rồi dùng Thế Ứng
Nếu đại vận là hào Dương thì phải xem năm là Dương tuế hay Âm tuế. Dương tuế thì bất biến, Âm tuế thì biến. Nhưng dù biến hay bất biến, hào ấy cũng được kể là năm thứ nhất, và hào của năm thứ nhất ấy coi như hào Thế. Lấy hào Ứng của nó mà biến đi thì được quẻ của năm thứ hai. Được năm thứ hai rồi thì trở về biến hào Thế để được quẻ năm thứ ba. Hết ba năm đó thì theo lệ thường như đại vận Âm, nghĩa là mỗi năm biến một hào; hết sáu hào là vừa đủ sáu năm nữa, cộng với ba năm trước, vị chi là chín năm.
Ví dụ quẻ Thiên Hỏa Đồng Nhân, muốn tính lưu niên của đại vận hào ba Dương từ bảy đến mười lăm tuổi, gồm chín năm, và năm bảy tuổi gặp năm Nhâm Tý là Dương tuế nên hào ba Dương bất biến, dùng luôn làm quẻ của năm thứ nhất.
Năm thứ nhất: để nguyên hào ba Dương, không biến vì gặp Dương tuế. Năm thứ hai: Thế ở hào ba Dương nên hào sáu Dương làm Ứng, biến thành hào sáu Âm, ra quẻ Trạch Hỏa Cách. Năm thứ ba: hào ba Dương của quẻ Cách, tức hào Thế, biến thành hào ba Âm, ra quẻ Trạch Lôi Tùy. Đến đây Thế và Ứng hết vai trò, hào bắt đầu biến theo thường lệ. Năm thứ tư: hào bốn Dương của quẻ Tùy biến thành hào bốn Âm, ra quẻ Thủy Lôi Truân. Năm thứ năm: hào năm Dương của quẻ Truân biến thành hào năm Âm, ra quẻ Địa Lôi Phục. Năm thứ sáu: hào sáu Âm của quẻ Phục biến thành hào sáu Dương, ra quẻ Sơn Lôi Di. Năm thứ bảy: hào một Dương của quẻ Di biến thành hào một Âm, ra quẻ Sơn Địa Bác. Năm thứ tám: hào hai Âm của quẻ Bác biến thành hào hai Dương, ra quẻ Sơn Thủy Mông. Năm thứ chín: hào ba Âm của quẻ Mông biến thành hào ba Dương, ra quẻ Sơn Phong Cổ. Thế là tính đủ chín năm của một đại vận Dương.
Đại vận nào thì Thế ngồi ngay ở hào ấy, và Ứng ở cách Thế hai hào (hoặc ở trên hoặc ở dưới). Thế và Ứng chỉ cần để tính ba năm đầu của đại vận Dương.
Đại vận hào Dương, gặp Âm tuế: phải biến ngay
Nếu đại vận hào Dương gặp Âm tuế thì phải biến. Giả như quẻ Lôi Thủy Giải, muốn tính lưu niên của đại vận hào hai Dương từ bảy đến mười lăm tuổi, gồm chín năm. Năm thứ nhất biến ngay hào hai Dương thành Âm, ra quẻ Lôi Địa Dự; hào Thế ở hào hai, hào Ứng ở hào năm. Năm thứ hai biến hào Ứng: hào năm Âm biến thành Dương, ra quẻ Trạch Địa Tụy. Năm thứ ba trở về hào Thế: hào hai Âm biến thành Dương, ra quẻ Trạch Thủy Khốn. Năm thứ tư lại biến hào năm Dương thành Âm, ra quẻ Lôi Thủy Giải. Năm thứ năm biến hào hai Dương thành Âm, ra quẻ Lôi Địa Dự. Cứ như thế Thế và Ứng thay nhau biến suốt chín năm: năm thứ sáu là Trạch Địa Tụy, năm thứ bảy là Trạch Thủy Khốn, năm thứ tám là Lôi Thủy Giải và năm thứ chín là Lôi Địa Dự. Quẻ đi vòng quanh bốn quẻ Dự, Tụy, Khốn, Giải, khác hẳn đại vận Dương gặp Dương tuế vốn chỉ dùng Thế Ứng cho ba năm đầu.
Tóm lại, cần nhớ: đại vận hào Dương nếu gặp Dương tuế thì bất biến, gặp Âm tuế mới biến. Đại vận hào Âm thì biến thẳng, không phải xét tuế.
Lưu nguyệt: mười hai quẻ cho mười hai tháng
Mỗi năm có một quẻ, mỗi quẻ lại tách ra thành mười hai quẻ nhỏ cho từng tháng.
Cách tính quẻ cho từng tháng phỏng theo cách tính quẻ cho năm. Tháng Hà Lạc khác tháng của mặt trăng: nó luôn bắt đầu từ ngày tiết lệnh của tháng đó và kết thúc ngay trước ngày tiết lệnh của tháng sau. Tháng giêng Hà Lạc, chẳng hạn, bắt đầu từ tiết Lập Xuân và dừng trước tiết Kinh Trập.
Sáu tháng đầu năm
Mỗi vận tháng tiềm ẩn trong một quẻ Hà Lạc, tức một quẻ Dịch. Bắt đầu từ quẻ vận năm, lần lượt biến các hào của quẻ ấy, Âm thành Dương và Dương thành Âm, để tìm quẻ của sáu tháng đầu: giêng, hai, ba, tư, năm, sáu. Cách lập là lấy hào chủ mệnh của quẻ năm, biến hào đó thành quẻ mới, xếp quẻ mới vào vị trí tương ứng với hào vừa biến; hào vừa biến là hào chủ của quẻ tháng ấy, và đó là quẻ tháng giêng. Kiểm tra sẽ thấy quẻ tháng giêng trùng với quẻ vận năm trước đó khi quẻ năm là hào Âm, hoặc là hào Dương gặp Âm tuế; còn khi quẻ năm là hào Dương gặp Dương tuế thì quẻ tháng giêng khác quẻ vận năm trước.
Lấy quẻ năm Địa Trạch Lâm với hào chủ mệnh bốn Âm. Biến hào bốn Âm thành Dương được quẻ Lôi Trạch Quy Muội, là quẻ tháng giêng. Trở về quẻ năm, biến hào kế tiếp đi lên là hào năm Âm thành Dương, được quẻ Thủy Trạch Tiết, là quẻ tháng hai. Cứ biến tiếp: hào sáu cho quẻ Sơn Trạch Tổn (tháng ba); đến hết hào sáu thì quay về hào một, cho quẻ Địa Thủy Sư (tháng tư); hào hai cho quẻ Địa Lôi Phục (tháng năm); hào ba cho quẻ Địa Thiên Thái (tháng sáu).
Sáu tháng cuối năm
Coi quẻ năm là quẻ Tiên Thiên của sáu tháng đầu, rồi đảo quẻ và biến hào để có quẻ Hậu Thiên cho sáu tháng cuối, đúng như cách đảo quẻ và biến hào trong cấu trúc Hà Lạc: quẻ nội đảo thành quẻ ngoại, quẻ ngoại đảo thành quẻ nội, hào chủ mệnh đi theo sang rồi biến thể. Với ví dụ trên, quẻ Hậu Thiên là Trạch Lôi Tùy, chủ mệnh hào một Dương. Biến hào một Dương thành Âm được quẻ Trạch Địa Tụy, là quẻ tháng bảy. Rồi lần lượt biến các hào tiếp theo của quẻ Hậu Thiên: hào hai cho thuần Đoài (tháng tám), hào ba cho Trạch Hỏa Cách (tháng chín), hào bốn cho Thủy Lôi Truân (tháng mười), hào năm cho thuần Chấn (tháng mười một), hào sáu cho Thiên Lôi Vô Vọng (tháng chạp).
Khi đã có đủ mười hai quẻ tháng tương ứng với mười hai hào của hai quẻ Tiên Thiên và Hậu Thiên, ta sắp mười hai tháng vào đúng vị trí tương ứng của từng hào chủ.
Nguồn: Giáo trình Bát Tự Hà Lạc.
