Bài tổng quan
Chọn tiết khí tu tạo, tránh ngày xung và chín sao soi
Ngôi nhà đang lành bỗng sa sút, ấy là vì người ở quên giữ sinh khí. Mỗi trạch có bốn mươi lăm ngày vượng khí để tu tạo, và cũng có những ngày xung phạm phải tránh. Còn chín ngôi sao soi vào cửa nhà, ngôi nào…
Mục lục · 8 phần
- 01Chọn hướng và chọn núi trước, chọn ngày sau
- 02Tu tạo nhà theo khí vượng của tiết khí
- 03Dời nhà phải xem tiết khí cho hợp với quẻ
- 04Những tiết khí phải tránh khi dời đi
- 05Năm, tháng, ngày, giờ: bốn vai trò khác nhau
- 06Vì sao nhà đang lành bỗng sa sút: vận của nhà cần được đổi
- 07Tám phương của nhà là cái khung, du tinh chỉ là lớp phủ
- 08Chín sao soi lại: sao nào soi vào nhà, nhà mang điềm ấy
Chọn hướng và chọn núi trước, chọn ngày sau
Cốt yếu của việc chọn nhà là lấy âm dương làm mặt trong mặt ngoài, lấy ngũ hành làm đường dọc đường ngang. Làm như vậy, sự vận chuyển huyền diệu của tạo hóa tự nhiên trở về với phép xoay vần của càn khôn. Trước hết chọn hướng và sơn nào có sinh khí vượng, hợp với tạo hóa, rồi sau đó mới chọn năm, tháng, ngày lành.
Nơi thần khí giáng xuống cũng có sát tinh len vào, nhưng một sao xấu làm sao lấn được đại thần khí của trời đất? Cho nên điều hòa âm dương, chuyển hóa ngũ hành chính là công phu khéo léo của tạo hóa. Diệu pháp của Quách Phác, Dương Quân Tùng đều xuất phát từ đó. Bàn về thiên thời thì phải rất linh hoạt.
Lựa chọn nhà ở, trước hết phải dùng la kinh xác định hướng nhà, không để nhầm phương hướng; phải đo dài ngắn, rộng hẹp rồi mới quyết định. Kiến tạo và dời nhà đều phải xét tiết khí, vì phạm vào cung xung thì ắt gặp hung hiểm.
Tu tạo nhà theo khí vượng của tiết khí
Nhà làm tốt hay không còn tùy sao và quẻ có tương sinh hay không; mà khí vượng của quẻ thì do thiên thời quyết định, thiên thời lại chia theo các tiết trong năm.
Một năm có hai mươi bốn tiết khí, mỗi tiết quản chừng mười lăm ngày. Hai mươi bốn tiết khí là thế vượng của tám trạch. Tu tạo vào ngày sinh khí của trạch thì hút được khí vượng của thiên thời. Mỗi trạch có ba tiết thuận, tổng cộng bốn mươi lăm ngày.
Tu tạo Cấn trạch thì chọn ba tiết Đại Hàn, Lập Xuân, Vũ Thủy. Cụ thể hơn, khí vượng của Sửu trạch là ngày Đại Hàn, của Dần trạch là ngày Vũ Thủy, của Cấn trạch là ngày Lập Xuân. Tu tạo Chấn trạch thì chọn Xuân Phân, Kinh Trập, Thanh Minh: cung Thân vượng vào ngày Kinh Trập, Chấn trạch vượng vào ngày Xuân Phân, cung Ất vượng vào ngày Thanh Minh. Tu tạo Tốn trạch thì chọn Lập Hạ, Cốc Vũ, Tiểu Mãn: cung Thìn vượng ngày Cốc Vũ, Tốn trạch vượng ngày Lập Hạ, cung Tỵ vượng ngày Tiểu Mãn.
Tu tạo Ly trạch thì chọn Mang Chủng, Hạ Chí, Tiểu Thử: cung Bính vượng ngày Mang Chủng, cung Ngọ vượng ngày Hạ Chí, cung Đinh vượng ngày Tiểu Thử. Tu tạo Đoài trạch thì chọn Bạch Lộ, Thu Phân, Hàn Lộ: cung Canh vượng ngày Bạch Lộ, cung Tân vượng ngày Hàn Lộ. Tu tạo Kiền trạch thì chọn Sương Giáng, Lập Đông, Tiểu Tuyết: cung Mậu vượng ngày Sương Giáng, cung Kiền vượng ngày Lập Đông, cung Hợi vượng ngày Tiểu Tuyết. Tu tạo Khảm trạch thì chọn Đại Tuyết, Đông Chí, Tiểu Hàn: cung Nhâm vượng ngày Đại Tuyết, cung Tý vượng ngày Đông Chí, cung Quý vượng ngày Tiểu Hàn.
Dời nhà phải xem tiết khí cho hợp với quẻ
Di chuyển nhà ở phải xem tiết khí cho hợp với bát quái. Ví dụ tháng Giêng dựng Dần trạch, trong bát quái thuộc quẻ Cấn, dời tại phương đông bắc thì kỵ phạm cung Thân. Tháng Hai dựng Mão trạch, thuộc quẻ Chấn, kỵ phạm cung Dậu. Nói kỹ hơn, tiết Vũ Thủy tháng Giêng vượng khí ở cung Thân, tiết Xuân Phân tháng Hai vượng khí ở cung Ất. Lấy đó làm chuẩn để chọn việc tu tạo, dời nhà thì mới lành. Các tiết khác cứ thế mà suy.
Những thầy phong thủy kém không hiểu lẽ ấy, bảo rằng "từ chính đông dời sang chính tây là Mộc nhập Kim, bị khắc, mất vượng khí, thành tướng hung", đó là cách luận sai lầm.
Những tiết khí phải tránh khi dời đi
Bốn cung Khảm, Ly, Chấn, Đoài đứng ở bốn vị Tý, Ngọ, Mão, Dậu, từng cặp đối diện nhau. Chỗ nào xung nhau thì phải tránh.
Dời đến chính bắc, tức Khảm trạch, thì kỵ chọn ngày Hạ Chí của năm Ngọ. Dời đến chính nam, tức Ly trạch, thì kỵ chọn ngày Đông Chí của năm Tý. Dời đến chính đông, tức Chấn trạch, thì kỵ chọn ngày Thu Phân của năm Dậu. Dời đến phương Nhâm kỵ ngày Mang Chủng. Dời đến phương Quý kỵ ngày Đại Thử. Dời đến phương Cấn kỵ ngày Lập Thu. Dời đến phương Dần kỵ ngày Xử Thử. Dời đến phương Thân kỵ ngày Bạch Lộ. Dời đến phương Ất kỵ ngày Hàn Lộ. Dời đến phương Thìn kỵ ngày Sương Giáng. Dời đến phương Tốn kỵ ngày Lập Đông. Dời đến phương Tỵ kỵ ngày Tiểu Tuyết. Dời đến phương Bính kỵ ngày Đại Tuyết. Dời đến phương Đinh kỵ ngày Tiểu Hàn. Dời đến phương Khôn kỵ ngày Lập Xuân. Dời đến phương Canh kỵ ngày Kinh Trập. Dời đến phương Tân kỵ ngày Thanh Minh. Dời đến phương Tuất kỵ ngày Cốc Vũ. Dời đến phương Kiền kỵ ngày Lập Hạ. Dời đến phương Hợi kỵ ngày Tiểu Mãn.
Như vậy hai mươi bốn hướng sơn đều có cặp đối ứng. Nói về quẻ thì có tám quẻ Kiền, Tốn, Khôn, Cấn, Khảm, Chấn, Ly, Đoài. Nói về địa chi thì có tám địa chi Dần, Thân, Tỵ, Hợi, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Nói về thiên can thì có Giáp, Canh, Nhâm, Bính, Quý, Đinh, Tân, Ất. Tất cả đều đối ứng hoặc xung phạm với hai mươi bốn hướng sơn. Khi dời chỗ ở phải dùng tiết khí mà phán đoán xung phạm hay tương hợp.
Năm, tháng, ngày, giờ: bốn vai trò khác nhau
Tu tạo Đoài trạch, Cấn môn thì nhất định phải chọn năm tháng ngày giờ Canh, Tân, Dậu, Sửu, Dần, Mùi, Thân, Mậu, Tỵ mới cát lợi. Kiền trạch, Khôn trạch, Cấn môn cũng vậy. Tu tạo Ly trạch, Khảm môn thì phải chọn năm tháng ngày giờ Nhâm, Quý, Tý, Giáp, Ất, Mão, Thìn, Tỵ, Bính, Đinh, Ngọ mới cát lợi. Khảm, Chấn, Tốn trạch và môn cũng vậy. Đều có thể đắc vị, khí thịnh bổ cho sơn hướng. Nếu không được năm, chỉ được tháng, ngày, giờ cũng lành.
Năm là tên gọi chung, thống lĩnh tháng, ngày, giờ. Chỉ cần sơn có khí sinh vượng, lại tụ hợp một chỗ, thêm Thái Dương, Lộc Quý chiếu rọi thì vô cùng cát lợi. Tháng là đề cương của năm, là Gia Thần sát phò tá năm. Thần sát của hướng sơn tùy hoàn toàn ở sự thịnh suy của tháng, nên so với năm, tháng rất hệ trọng. Ngày thì lành dữ tùy vào bản sơn, bản mệnh của người, liên quan đến chủ mệnh sơn vận và sinh mệnh mọi người, dùng tương sinh, hữu khí mà thành tự nhiên.
Giờ là mấu chốt thu thành kết quả, rất hệ trọng. Do đó có câu: "Một giờ làm nên muôn việc". Giờ phò tá cho năm, tháng, ngày, là nguyên sơ, phôi thai của sinh mệnh, của sơn mệnh, nên so với tháng và ngày, giờ càng trọng yếu.
Phàm đã chọn sơn, mệnh chủ đã hợp, thì phải khảo sát độ số chu thiên, xét nhật nguyệt ngũ tinh để lấy vị trí thích hợp. Như vậy trên không phạm thiên mệnh, dưới không mất thời cơ. Đó chính là hai chữ "niên thời" mà Dương Tào Hí và Hoa Sơn từng nói.
Vì sao nhà đang lành bỗng sa sút: vận của nhà cần được đổi
Nhà ở thoạt đầu cát lợi, về sau không còn lành, là vì người ở không biết giữ gìn sinh khí. Nhà đắc Mộc cục thì nhận sinh khí ba tháng, ba năm khí dồi dào, ba mươi năm sau thì khí suy. Nếu được thủy tương sinh, cái lành có thể giữ tới một trăm ba mươi năm, nhưng cứ cách hai mươi sáu, hai mươi bảy năm phải tu tạo một lần thì sinh khí mới không suy bại.
Trừ khử khí cũ, bố trí khí mới, dời đổi thời vận, đó là huyền cơ của tạo hóa tự nhiên.
Hỏa, Kim, Thổ, Mộc, mỗi thứ phải theo niên hạn mà định kỳ tu tạo, thay cũ đổi mới để giữ cái lành.
Tám phương của nhà là cái khung, du tinh chỉ là lớp phủ
Tám phương của nhà ở đều phải căn cứ bát quái và du tinh mà luận; đại thể của bản trạch còn quan trọng hơn khí khẩu. Hiện nay có người lấy phương lành của du tinh làm phúc phận, lấy phương hiểm của du tinh làm họa hại, thế là không đúng. Họ không hiểu rằng phương nam bắc cũng có hướng đông tây, phương đông tây cũng có hướng nam bắc; bỏ mất sự phối hợp giữa phòng ở và bát quái, đem các phương hướng phối với biến quái, làm sao kết luận ngay được cát hung họa phúc?
Quẻ có số Tiên thiên bát quái và Hậu thiên bát quái, số có nguyên nhân biến hóa động tĩnh. Ví như mở cửa đối cung thì dựa vào ngũ hành du tinh; luận lành dữ của quán tinh thì không dùng khí số Tiên thiên bát quái. Mở cửa bên trái bên phải cũng căn cứ ngũ hành du tinh. Luận khí khẩu thì không căn cứ du tinh của khí khẩu. Luận phép quán tinh, khí số Hậu thiên bát quái vốn không rời khí số Tiên thiên bát quái, chủ yếu vì cát hung họa phúc là do biến hóa động tĩnh mà ra. Không hiểu đạo lý này thì sẽ nhầm lẫn, không tìm được cơ sở thực sự.
Chín sao soi lại: sao nào soi vào nhà, nhà mang điềm ấy
Cuối cùng, tất cả các tính toán trên đều quy về chín ngôi sao. Mỗi sao soi vào nhà theo một cách, và hai sao gặp nhau lại thành một điềm khác.
Sao Tham Lang chủ giàu sang phú quý, con cháu hưng vượng phát đạt. Khi Tham Lang soi lại, nhà có người phò tá vua chúa dựng nghiệp lớn; nam nữ trong nhà tính tình lương thiện, ôn hòa, con cháu thông minh tuấn tú, giỏi văn chương. Sao Cự Môn soi lại thì ruộng vườn gia sản tăng tiến không ai bì, tài sản hội tụ, con cháu phát đạt, gia đình hòa thuận bình an. Sao Lộc Tồn soi lại thì con cháu ngu muội, bất tài, tiền của sa sút, nhân đinh ít. Sao Văn Khúc soi lại thì nhà thiếu lương thực, người nhà ly tán, lưu lạc tha hương. Sao Vũ Khúc soi lại thì gia tộc vinh hoa phú quý, tiền của súc tích, quan vận hanh thông. Sao Phá Quân soi lại thì nhà có võ tướng cầm quân giết giặc, lập công hiển hách, nhưng có nguy cơ tuyệt tự, không người nối dõi, dù nhà rất giàu.
Tham Lang gặp Liêm Trinh thì nhà có nghịch tặc, chuốc thị phi. Cự Môn gặp Liêm Trinh thì phụ nữ trong nhà gặp nạn. Vũ Khúc gặp Liêm Trinh thì nhà có con ngỗ nghịch bất hiếu. Lộc Tồn gặp Liêm Trinh thì gia đình gặp nạn, con trai phải sung quân nơi biên ải. Văn Khúc gặp Liêm Trinh thì con trai làm giặc, bị hình phạt. Phá Quân gặp Liêm Trinh thì con trưởng khó giữ mạng, nhân đinh không thịnh. Tả Phụ và Hữu Bật gặp Liêm Trinh thì nhà có người làm quan võ nhưng tính khí hung bạo. Văn Khúc và Vũ Khúc gặp nhau thì đời sau vào triều làm quan.
Một và năm sao soi lại thì mệnh chủ trong nhà khó giữ nổi. Ba và bảy sao soi lại thì con của mệnh chủ không phát. Bốn và sáu sao soi lại thì mệnh chủ gặp chuyện hung ác. Cửu tinh ở Lục Sát thì làm thương mệnh chủ. Một hai sao thì mệnh chủ không thọ.
Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 2.
