Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Từ tiết khí và giờ đồng hồ đến số Hà Đồ Lạc Thư của Can Chi

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc02/10/202613 phút đọc1 lượt đọc
Từ tiết khí và giờ đồng hồ đến số Hà Đồ Lạc Thư của Can Chi

Sinh ngày hai mươi bảy tháng chạp mà lại được tính là sinh tháng giêng năm sau; sinh đúng giờ Tý mà đồng hồ lại chỉ một giờ sáng. Bát Tự có những quy tắc khiến người mới học tưởng nhầm, và sau đó mỗi chữ Can Chi còn phải mang thêm một con số...


Tiết hậu mới là người gác cổng của tháng

Tử Vi lấy số theo tháng: sinh tháng giêng thì chắc chắn là tháng giêng, sinh tháng chạp thì chắc chắn là tháng chạp, vì Tử Vi căn cứ vào con số của lịch. Bát Tự không thể dễ dàng như vậy. Có người sinh tháng giêng mà Bát Tự lại tính vào tháng chạp năm cũ; có người sinh tháng chạp năm nay mà lại được tính sang tháng giêng năm sau. Chuyện rối như tơ vò ấy sinh ra từ một nguyên tắc: Bát Tự không dựa vào con số tháng mà chỉ dựa vào tiết hậu của tháng, gọi tắt là tiết.

Mỗi tháng có một tiết, mười hai tháng là mười hai tiết. Tiết nào đến thì tháng ấy mới kể, tiết chưa đến thì chưa kể, mặc cho lịch đã réo mồng một hay mồng hai. Đầu tháng của Tử Vi không phải đầu tháng của Bát Tự, vì tiết đến không nhất định, có khi sớm có khi muộn cả chục ngày. Sự sớm muộn đó đổi cả Can Chi của tháng lẫn của năm; chính nó định đoạt vị trí tháng sinh và năm sinh. Vì vậy muốn tính Can Chi tháng phải thuộc tên hai mươi bốn tiết khí, tháng của Bát Tự do đó gọi là nguyệt kiến, nghĩa là tháng dựng theo tiết.

Trình tự đi tìm là: trước hết xem tiết của tháng đến vào ngày giờ nào để định Chi của tháng; biết Chi rồi nhờ Ngũ Hổ và nguyệt biểu mà gọi ra Can của tháng, cũng giống như cha khai họ cho con, Can là họ còn Chi là tên.

Ở đời có thể tranh cãi mồng một hay mồng hai, nhưng ở Bát Tự chỉ có một tiếng gọi duy nhất: tiết đã đến hay chưa.

Bốn cách tháng sinh gặp tiết

Sinh đúng tiết

Một người sinh năm Tân Dậu, ngày hai mươi mốt tháng tư. Tiết Lập Hạ của tháng tư đã đến từ giờ Tị ngày hai mươi chín tháng ba, còn tiết Mang Chủng của tháng năm chưa tới. Người ấy vẫn ở trong tháng tư nên được đặt Chi là tháng Tị. Tra nguyệt biểu, cặp Bính Tân (tuổi Tân Dậu) đặt họ cho tháng Tị là Quý. Vậy an được năm Tân Dậu, tháng Quý Tị.

Lệch tiết nhưng không lệch năm

Một người sinh năm Nhâm Thìn, mồng một tháng hai. Mãi đến mồng mười tháng hai tiết Kinh Trập mới đến. Dù người này sinh vào tháng hai, ông chủ mới là tiết Kinh Trập chưa tới, nên vẫn phải nghe mệnh lệnh của ông chủ cũ là tiết Lập Xuân của tháng giêng, và được đặt Chi là Dần (cũng coi như sinh vào tháng Dần, vì ai bảo cậu ra đời sớm trước tiết). Cặp Đinh Nhâm cho thấy họ của tháng Dần là Nhâm. Vậy an được năm Nhâm Thìn, tháng Nhâm Dần.

Lệch tiết và lệch luôn cả năm: lệch tiến

Một người sinh năm Bính Ngọ, ngày hai mươi bảy tháng chạp. Ngày hai mươi lăm tháng chạp đã đến Lập Xuân của năm sau là Đinh Mùi. Người này sinh ngày hai mươi bảy, sau Lập Xuân, nên được hưởng ngay tuổi của năm mới là Đinh Mùi; và vì Lập Xuân là tiết của tháng Dần nên cũng được coi như sinh tháng Dần. Cặp Đinh Nhâm cho thấy Can của tháng Dần là Nhâm. Vậy an được năm Đinh Mùi, tháng Nhâm Dần.

Nhiều người thấy lạ: sinh tháng chạp năm trước mà lại tính là sinh tháng giêng năm sau. Nhưng đó chính là chỗ hay đặc biệt và rất khoa học của Bát Tự, vì nó dựa trên tiết hậu, thứ có thật, đã được kinh nghiệm thời gian của âm dương lịch hàng mấy ngàn năm chứng minh.

Lệch tiết và lệch luôn cả năm: lệch lùi

Một người sinh năm Quý Mão, ngày mười tháng giêng. Lập Xuân của năm Quý Mão mới đến vào ngày mười một tháng giêng. Sinh ngày mười, trước Lập Xuân, nên người ấy còn phải chịu tuổi năm cũ là Nhâm Dần. Đã chịu tuổi năm cũ thì tháng cũng bỏ tháng giêng để theo tháng chạp năm cũ: bỏ tháng Dần mà lùi về tháng Sửu. Cặp Đinh Nhâm cho thấy Can của tháng Sửu là Quý. Vậy an được năm Nhâm Dần, tháng Quý Sửu.

Ngày sinh: tra lịch rồi đếm bằng bàn tay

Tìm ngày dễ hơn tìm tháng rất nhiều, vì lịch đã in sẵn ba cột mốc trong mỗi tháng.

Trong lịch vạn niên, mỗi tháng chỉ ghi Can Chi của ba ngày: mồng một, mười một và hai mươi mốt. Các ngày còn lại tính bằng bàn tay mười hai Chi. Ngày từ một đến mười thì khởi từ mồng một, cứ thuận Can Chi mà đếm đến ngày sinh. Ngày từ mười một đến hai mươi thì khởi từ mười một, ngày từ hai mươi mốt đến cuối tháng thì khởi từ hai mươi mốt.

Ví dụ một: năm Bính Dần, tháng mười, ngày tám. Tra lịch vạn niên và tính theo cách trên thì tháng mười là Kỷ Hợi. Ngày mồng một tháng mười là Mậu Tuất; dùng bàn tay mười hai Chi đếm thuận: ngày một ở Tuất, hai ở Hợi, ba ở Tý, bốn ở Sửu, năm ở Dần, sáu ở Mão, bảy ở Thìn, tám ở Tị. Còn Can thì Mậu ở Tuất, tính thuận Kỷ ở Hợi, Canh ở Tý, cho đến Ất ở Tị. Vậy ngày tám tháng mười là ngày Ất Tị, và an được năm Bính Dần, tháng Kỷ Hợi, ngày Ất Tị.

Ví dụ hai: năm Đinh Dậu, tháng ba Giáp Thìn, ngày hai mươi sáu. Tra lịch thấy ngày hai mươi mốt tháng ba là Nhâm Tuất. Đếm thuận: hai mươi hai Quý Hợi, hai mươi ba Giáp Tý, cho đến hai mươi sáu là Đinh Mão. Vậy an được năm Đinh Dậu, tháng Giáp Thìn, ngày Đinh Mão.

Giờ sinh: Can của giờ do Can của ngày quyết định

Can của giờ sinh hoàn toàn do Can của ngày sinh định đoạt, cũng như Can của tháng sinh hoàn toàn do Can của năm sinh định đoạt. Chỉ dùng Can mà thôi, không dùng Chi, giống như cha khai tên họ cho con. Muốn tính Can Chi giờ sinh thì dùng nguyên tắc Ngũ Thử rồi xòe bàn tay mười hai Chi, đếm xuôi cả Can lẫn Chi từ cung Tý đến giờ sinh thì dừng.

Ngũ Thử được truyền thành thơ: ngày Giáp Kỷ thì giờ Tý bắt đầu bằng Giáp; Ất Canh khởi Bính; Bính Tân khởi Mậu; Đinh Nhâm khởi Canh; Mậu Quý khởi Nhâm. Hay nói cách khác, giờ Tý của ngày Giáp, Kỷ là Giáp Tý; ngày Ất, Canh là Bính Tý; ngày Bính, Tân là Mậu Tý; ngày Đinh, Nhâm là Canh Tý; ngày Mậu, Quý là Nhâm Tý.

Ví dụ: năm Tân Dậu, tháng Quý Tị, ngày Tân Mão, giờ Thìn. Ngày Tân Mão thuộc cặp Bính Tân nên khởi giờ Mậu Tý. Đếm: Mậu Tý, Kỷ Sửu, Canh Dần, Tân Mão, Nhâm Thìn. Điền chữ Nhâm vào chỗ giờ Thìn, thành giờ Nhâm Thìn.

Giờ âm lịch và những lần kim đồng hồ bị vặn

Giờ trên đồng hồ không phải lúc nào cũng là giờ thật của trời đất.

Giờ dùng để tính số là giờ âm lịch, mỗi giờ gồm hai giờ đồng hồ, nên một ngày đêm hai mươi bốn giờ đồng hồ chỉ có mười hai giờ âm lịch. Giờ Tý từ 23 đến 1 giờ, Sửu từ 1 đến 3, Dần từ 3 đến 5, Mão từ 5 đến 7, Thìn từ 7 đến 9, Tị từ 9 đến 11, Ngọ từ 11 đến 13, Mùi từ 13 đến 15, Thân từ 15 đến 17, Dậu từ 17 đến 19, Tuất từ 19 đến 21 và Hợi từ 21 đến 23.

Bảng giờ ấy là giờ chính thức. Nhưng từ năm 1943, khi chiến tranh nổ ra ở Việt Nam và kéo dài liên miên, đồng hồ nhà nước đã bị vặn nhiều lần, khi nhanh lên một hoặc hai giờ, khi trở lại giờ chính thức. Người làm lý số cần biết điều này để tính giờ cho đúng. Giờ Tý ứng với khoảng nào trên đồng hồ qua từng thời kỳ như sau.

Từ 1-1-1943 đến 9-3-1945: giờ Tý là 0 đến 2 giờ. Từ 9-3-1945 đến 1-9-1945: giờ Tý là 1 đến 3 giờ. Từ 2-9-1945 đến 28-2-1946: giờ Tý là 23 đến 1 giờ. Từ 1-3-1946 đến 30-6-1955: giờ Tý là 0 đến 2 giờ. Từ 1-7-1955 đến 31-12-1959: giờ Tý là 23 đến 1 giờ. Từ 1-1-1960 đến 20-4-1976: giờ Tý là 0 đến 2 giờ. Từ 20-4-1976 trở đi: giờ Tý là 23 đến 1 giờ.

Từ Bát Tự đến số Hà Lạc: mỗi chữ phải đổi thành con số

Tám chữ Can Chi mới chỉ là tên gọi; muốn tính toán, mỗi chữ phải mang một con số trên người.

Số Hà Lạc là gọi tắt của số Hà Đồ Lạc Thư. Trước khi hỏi vì sao Hà Đồ Lạc Thư lại có số và những con số ấy là gì, cứ theo đúng nguyên tắc mà phương pháp Hà Lạc đặt ra để dựng thành công thức đã. Gọi là công thức vì đường vào toán học của số tuy đơn sơ nhưng cũng phải nhớ thì mới tính được Hà Lạc. Số Hà Lạc do Bát Tự chuyển hình mà thành, nên phải lần lượt đi qua từng giai đoạn chuyển hình. Bát Tự chỉ có Can và Chi; muốn đổi ra số thì phải biết trị số của từng Can và từng Chi.

Hà Đồ cho Địa Chi con số của năm hành

Xưa có con Long Mã đội bức đồ trên lưng. Gần đuôi, phía dưới, có một chấm trắng và sáu chấm đen. Gần đầu, phía trên, có bảy chấm trắng và hai chấm đen. Bên trái lưng có ba chấm trắng và tám chấm đen. Bên phải lưng có chín chấm trắng và bốn chấm đen. Giữa lưng có năm chấm trắng và mười chấm đen. Vua Phục Hy cùng họ Đại Nạo đã định nghĩa các số ấy như sau.

Số một và sáu ở phía dưới, hợp phương Bắc, sinh ra Thủy, thuộc cung Tý Hợi. Số hai và bảy ở phía trên, hợp phương Nam, sinh ra Hỏa, thuộc cung Tị Ngọ. Số ba và tám ở phía trái, hợp phương Đông, sinh ra Mộc, thuộc cung Dần Mão. Số bốn và chín ở phía phải, hợp phương Tây, sinh ra Kim, thuộc cung Thân Dậu. Số năm và mười ở giữa, thuộc trung ương, sinh ra Thổ, thuộc cung Thìn Tuất Sửu Mùi. Địa Chi của Bát Tự bắt đầu có số từ đó.

Về sau, Trần Đoàn (hiệu Hy Di, tự Đồ Nam, sống vào cuối đời Đường) mới đem Can Chi của năm, tháng, ngày, giờ sinh phối với số của Lạc Thư, từ đó biết được những gì trời đất phú bẩm cho từng người, dày hay mỏng. Đạo Đại Dịch bỗng nhiên sáng lên, thật đáng gọi là một công lớn đối với tiền thánh. Học trò đời sau mà coi đây như một trò chơi của môn kỳ hà thì chẳng hóa ra tự dối mình mất.

Lấy lý lẽ giản dị mà suy: hành Thủy có số một sáu; Tý và Hợi là Thủy; vậy Tý Hợi có số một sáu. Các Chi khác cũng lập luận như thế.

Lạc Thư cho Thiên Can con số của tám quẻ

Con rùa thần sông Lạc mang thư trên lưng là một loài đại quy. Trên lưng có một vạch dài và hai vạch ngắn là nét chữ. Giữa lưng có năm chấm vàng. Gần chân bên phải có sáu chấm trắng. Sườn bên phải có bảy chấm đỏ. Gần chân bên trái có tám chấm trắng. Gần đầu có chín chấm tía. Gần đuôi có một chấm trắng. Lưng bên phải có hai chấm đen. Sườn bên trái có ba chấm xanh lục. Lưng bên trái có bốn chấm xanh biếc. Tất cả gồm chín vị trí và bảy màu sắc. Chín vị ấy định phương hướng, còn những vạch dài ngắn thì đặt ra hào. Số năm ở giữa (trung ương) là cốt yếu để sinh ra tám phương, tám quẻ.

Sáu chấm trắng gần chân phải là Càn. Bảy chấm đỏ ở sườn phải là Đoài. Tám chấm trắng gần chân trái là Cấn. Chín chấm tía gần đầu là Ly. Một chấm trắng gần đuôi là Khảm. Hai chấm đen ở vai phải là Khôn. Ba chấm lục ở sườn trái là Chấn. Bốn chấm biếc ở vai trái là Tốn.

Lời dịch trên theo đúng nguyên văn về con Long Mã và con Thần Quy; có thật hay không thì ở đây không bàn đến. Dù có hay không, Hà Đồ Lạc Thư vẫn là hai biểu tượng tối sơ của nền tri thức thượng cổ Á Đông, gói trong đó nhiều môn: triết, toán, ngũ hành, phương vị. Đem hai biểu tượng ấy dùng vào lý số để tìm hiểu mệnh vận con người, qua kinh nghiệm mấy ngàn năm, đã chứng minh nhiều chỗ đúng về một vài phương diện. Cho nên không thể nói nó không có căn bản khoa học. Sở dĩ người ta còn gọi lý số là khoa học huyền bí chỉ vì chưa tìm được đủ điều kiện để trình bày nó theo phương pháp mới mà khoa học ngày nay đòi hỏi.

Mười Can nhờ tám quẻ mới có con số

Nhìn bảng trị số của mười Can thấy lộn xộn vì hai lẽ. Thứ nhất, hàng Can không xếp theo thứ tự quen Giáp, Ất, Bính; mười Can bị đảo theo trật tự của hàng số một đến chín. Thứ hai, những con số từ một đến chín đến với Can một cách đột ngột, không ai giới thiệu. Người giới thiệu ấy là tám quẻ trên Lạc Thư, và bảng mười Can phối quẻ còn gọi là bảng nạp giáp. Tám quẻ trên lưng thần quy đều có số, nên mười Can theo quẻ nào thì lấy số của quẻ ấy.

Mậu theo Khảm nên có số một. Ất và Quý theo Khôn nên có số hai. Canh theo Chấn nên có số ba. Tân theo Tốn nên có số bốn. Số năm đứng giữa một mình. Nhâm và Giáp theo Càn nên có số sáu. Đinh theo Đoài nên có số bảy. Bính theo Cấn nên có số tám. Kỷ theo Ly nên có số chín. Cổ nhân gói quy tắc ấy trong bài thơ về Can phối quẻ.

Nhâm Giáp tòng Càn số, Ất Quý hướng Khôn cầu.

Canh lai Chấn thượng lập, Tân tại Tốn phương du.

Bính ư Cấn môn lập, Kỷ dĩ Ly vi đầu.

Mậu tu Khảm xứ xuất, Đinh hướng Đoài gia lưu.

Nguồn: Giáo trình Bát Tự Hà Lạc.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc