Bài tổng quan
Nguyệt phá và tuần không: hào mất sức rồi tìm lại
Một hào có thể mất sức theo hai cách: bị tháng xung thẳng vào, hay rơi vào khoảng trống giữa can và chi. Cả hai đều có đường quay lại, nhưng thời điểm trở lại thì khác hẳn nhau. Mỗi hào cần chờ đến lúc nào?
Nguyệt phá: tháng xung vào hào
Nguyệt phá là trường hợp địa chi của tháng xung một hào. Khi đó hào ấy tính như bị phá, bất kể tĩnh hay động, vượng hay suy. Sự khác nhau nằm ở chỗ: hào tĩnh bị nguyệt phá thì xem như vô căn, còn hào động bị nguyệt phá thì xem như một hào bình thường, và thời điểm ứng kỳ của hào động hoặc hào biến bị nguyệt phá là lúc hào ấy gặp trực hoặc hợp.
Ví dụ gieo vào ngày Bính Ngọ, tháng Thìn, ra quẻ Thiên Phong Cấu. Hào Phụ mẫu Tuất Thổ vừa được nhật sinh, nhưng vì bị nguyệt Thìn xung nên thành nguyệt phá, xem như vô căn. Giả sử lúc này có hào Ngọ Hỏa động sinh cho thì cũng không sinh được cho hào Phụ mẫu Tuất Thổ.
Nếu cùng quẻ ấy mà Tuất Thổ động, hóa thành Thổ khác (quẻ Thiên Phong Cấu hóa Trạch Phong Đại Quá), thì hào Tuất Thổ không tính là nguyệt phá nữa mà tính như một hào động thông thường về cơ bản. Chỉ khác các hào thông thường ở phần ứng kỳ.
Hào nguyệt phá nếu động hóa tuyệt thì hào ấy mất hẳn. Nếu hào đó là dụng thần thì việc hỏi hỏng. Ví dụ ngày Ất Hợi tháng Ngọ, quẻ Sơn Lôi Di hóa Phong Lôi Ích: hào Tý Thủy lâm nhật nhưng bị nguyệt phá, lại động hóa tuyệt, nên mất đi. Nếu xem về giấy tờ thì hỏng. Nếu xem về Tử tôn thì kỵ thần là hào Phụ mẫu này động cũng xem như không dùng được.
Nhưng nếu hào nguyệt phá này được một hào động khác sinh cho thì hào ấy dùng được, và thời điểm ứng của sự việc nằm ở lúc hào nguyệt phá được trực hoặc được hợp theo nguyên tắc điểm thuận chiều kim đồng hồ. Ví dụ ngày Giáp Thân tháng Mão, quẻ Khôn vi Địa: hào Tử tôn Dậu Kim bị nguyệt phá, lại động hóa tuyệt. May có hào Mùi Thổ Huynh đệ hóa vượng (Thổ vượng tại Tỵ), nên tính như hào thông thường, thời điểm ứng kỳ vào Thìn và Dậu, tức hợp và trực hào bị phá.
Hào tĩnh bị nguyệt phá: vô căn đến lúc nào
Một hào bị tháng đánh trúng sẽ yếu, nhưng yếu đến mức nào còn tùy nó đứng yên hay đã động.
Một hào tĩnh bị nguyệt phá xem như vô căn. Nếu làm dụng thần thì hỏi gì cũng hỏng, kể cả được hào động sinh hay được nhật sinh. Duy nhất có một ngoại lệ: nếu ngày hỏi là ngày trực hoặc hợp hào nguyệt phá, thì hào ấy không tính là bị nguyệt phá nữa mà xét như hào thông thường.
Nếu hỏi một việc cố định, hào nguyệt phá mà tĩnh thì chắc chắn hỏng. Nếu hỏi một việc mà bản thân có thể tùy chọn thời điểm tiến hành hoặc bắt đầu, thì khi hào dụng thần hoặc hào Thế tĩnh mà bị nguyệt phá, chỉ cần chọn thời điểm vào tháng hoặc năm trực hay hợp hào nguyệt phá để tiến hành thì sẽ thành công. Điều kiện là hào nguyệt phá về bản chất phải vượng.
Ví dụ gieo ngày Giáp Dần, tháng Thìn, ra quẻ Càn vi Thiên. Hào Thế là Tuất Thổ lâm nguyệt nhưng bị nguyệt phá. Nếu hỏi những việc cố định như thi cử thì chắc chắn hỏng, vì nguyệt phá là vô căn. Nhưng nếu hỏi việc đi xa thì bắt đầu khởi hành ngay sẽ nguy hiểm, sang tháng Tuất đi sẽ vô sự vì Tuất trực với hào nguyệt phá.
Trường hợp hào tĩnh bị nguyệt phá nhưng được hào động sinh cho, thì đến thời điểm xung mất hào động ấy là lúc việc thất bại. Quay lại quẻ Càn vi Thiên, nếu Quan quỷ Ngọ Hỏa động, nó sẽ không sinh được cho Tuất Thổ nguyệt phá, vì hào vô căn thì hào động không sinh được. Thời điểm việc hỏng của hào Tuất Thổ nguyệt phá nằm ở chi Tý Thủy, vì Tý Thủy xung mất Ngọ Hỏa.
Còn khi hào nguyệt phá động, hào ấy không còn tính là vô căn mà xem như một hào thông thường, thời gian dùng được rơi vào lúc hợp hoặc trực hào nguyệt phá. Nếu hào nguyệt phá động mà hóa hợp, hoặc hợp nhật nguyệt, hoặc phi thần hợp phục thần nguyệt phá mà phi thần không bị thương khắc, thì hào nguyệt phá cũng xem như hào thông thường và không tính trói mất hào động. Ví dụ nếu xem vào ngày Mão hoặc Tuất thì hào Tuất không còn bị phá mà tính như hào thông thường. Tương tự, nếu hào Tuất động hóa thành Mão, cũng không xem hào Tuất bị phá, và không tính hào động Tuất Thổ bị hợp trói mất.
Hào phá khi sự việc chỉ xảy ra một lần
Có những việc chỉ diễn ra một lần, và thời gian đo chúng cần quy ước riêng.
Hào nguyệt phá khi động không còn mang bản chất nguyệt phá, mà là hào thông thường với ứng kỳ đặc biệt là trực và hợp hào phá ấy. Vậy nếu xem cho những sự kiện chỉ xảy ra một lần ở một thời điểm xác định thì sao? Có nguyên tắc thời gian như sau. Nếu một sự việc vượt qua 12 canh giờ thì lấy quy chiếu là ngày. Nếu vượt qua ngày thì quy chiếu theo tháng. Vượt hết 12 tháng thì quy chiếu theo năm. Nếu cả bốn quy chiếu đều bị vượt qua thì sự việc đó đã nằm ngoài phạm vi của quẻ Dịch.
Về thông tin, nhật hoặc nguyệt xung đều báo rằng sự việc sẽ bị chẻ nhỏ thành nhiều việc nhỏ. Có thể hình dung đơn giản như chuyện kiếm tiền lẻ, dù gộp lại vẫn là nhiều. Ví dụ bán một mảnh đất sau một tháng lời 100 triệu, và bán tạp hóa cũng lời 100 triệu sau một tháng. Nhưng bán đất chỉ bán một lần, còn tạp hóa sẽ bán nhiều lần.
Tuần không: khoảng lệch giữa can và chi
Nguyệt phá là bị đánh từ ngoài, còn tuần không là khoảng trống tự nhiên của lịch.
Tuần không luôn là đề tài tranh cãi từ rất lâu, có lẽ bởi tính chất nhỏ lẻ, chi tiết, không hoàn toàn theo một hệ thống, khiến tuần không không tổng quát mà chia ra nhiều trường hợp nhánh, dễ nhầm lẫn.
Tuần không là khoảng chênh lệch giữa mười thiên can và mười hai địa chi. Hai chi không kịp thiên can gọi là tuần không. Cách tính: kéo giãn đồng thời can chi của nhật về đầu tuần là Giáp, hoặc về cuối tuần là Quý. Nếu về cuối là Quý thì hai chi sau đó được xem là tuần không. Ví dụ ngày Canh Thìn, kéo giãn về Quý là Quý Mùi, nên hai chi sau Mùi là Thân và Dậu là tuần không. Hoặc kéo về Giáp là Giáp Tuất, thì hai chi trước Tuất là Thân và Dậu cũng là tuần không.
Phân loại tuần không
Khoảng trống ấy tác động khác nhau tùy việc hỏi và tùy hào có động hay không.
Tuần không về cơ bản chia thành hai loại là tĩnh và động. Loại tĩnh lại chia thành tĩnh không thuộc nhân sự và tĩnh thuộc nhân sự. Tĩnh không thuộc nhân sự là việc không liên quan trực tiếp đến người, như tiền bạc, công danh, nhà cửa.
Với tĩnh không, có các trường hợp chính. Trường hợp thứ nhất: nếu hào vượng thì cần xem lúc xung và lúc thực của hào ấy là khi nào. Nếu một sự kiện đến một thời điểm cố định, mà thời điểm ấy nằm trước lúc thực không hoặc xung không, thì xem như việc ấy hỏng. Ví dụ một người hỏi thi cử vào ngày Canh Dần, Phụ mẫu Ngọ Hỏa tuần không, mà ngày thi là ngày Thìn, nghĩa là chưa đến ngày xuất không, thì việc thi hỏng.
Có ba tình huống đáng nhớ khi hào tuần không được xung thực. Thứ nhất, hào Tài lâm nhật, Huynh đệ trì Thế tuần không: trong ngày có tiền vì Tài lâm nhật, nhưng đến ngày Tý xung không, bản thân lại tự làm mất tiền vì xung Huynh đệ trì Thế. Huynh đệ trì Thế là tượng chính mình tự phá tài của mình. Thứ hai, hào Phụ mẫu trong việc xin việc lại khác: được nhận thư mời làm thử, chứ không được nhận chính thức. Thứ ba, với hào Quan thì nguy hiểm hơn: có thể được nhận chức, nhưng tại thời điểm ứng kỳ của hào Tử tôn thì bản thân bị tai nạn. Cực kỳ lưu ý, và nên tránh đi vào lúc ấy.
Trường hợp thứ tư: tuần không dù vượng đến đâu cũng sợ nhập mộ. Nếu nhập mộ thì việc hỏng ngay. Nhưng nếu có hào động sinh cho hào tuần không thì thời điểm thực không lại là thời điểm việc thành. Đây là những tình huống không nằm trong công thức chung, nên cần ghi nhớ.
Với tuần không còn hai điều cần lưu ý nữa. Thứ nhất, nếu hỏi về kinh doanh mà Tài tuần không là tượng sẽ bị trộm, không nhất thiết là nhân viên lấy, nên cần lưu ý. Thứ hai, với nhân sự, dù dụng thần là gì, dù vượng hay suy, nếu tuần không thì đều báo lòng người không thật, phải luôn đề phòng và chọn cách hành xử thích hợp. Trong những quẻ trực quan, như một Thế mất dụng thần, nếu dụng thần không phải là người không thật thì đó là Thế không đủ năng lực, đang loay hoay mất phương hướng. Vì sao không phải Thế không thật? Vì đó là việc của mình, mình là người biết rõ nhất, thực hay không phải so với chính mình.
Trong những quẻ phức hợp như công danh, chỉ cần dựa vào vị trí hào mà biết trong công ty ai là người thật lòng với mình, ai không. Kèm ngũ hành để biết cách mọi người nhìn nhận về bản thân, kèm lục thân để biết tính cách của từng người.
Hào động tuần không
Hào đã động mà lại rơi vào khoảng trống thì mọi thứ đảo khác.
Về nguyên tắc, hào tuần không hay nguyệt phá khi động sẽ không xem là hào tuần không, ứng kỳ đến lúc xung thực. Nhưng điểm cần lưu ý của hào động tuần không so với hào thông thường là hào động tuần không có thời điểm ứng kỳ riêng, là lúc xung thực không, chứ không nằm ở các chi khác. Điều này đồng nghĩa với việc nếu sự kiện xảy ra không khớp với hai điểm xung trực (với thời, nguyệt, tuế) hay ba điểm (với nhật) thì việc vẫn hỏng.
Hào động tuần không, kể cả hào biến làm không, vẫn xét điểm như vậy. Về cơ bản, tại các thời điểm xung thực hào tuần không, hào động ấy sẽ hoạt động như một hào thông thường. Điều này dẫn đến việc chia các vấn đề thành cố định và không cố định. Với sự kiện cố định, chỉ cần rơi vào điểm xung trực thì hào động có tác dụng đến các hào khác. Nếu không, hào động xuất hiện chỉ báo chuyện về sau, kể cả hào động có hào biến tuần không.
Hào động tuần không sẽ vấp phải trường hợp mộ biến, nhật hoặc hào động, khi đó dù vượng đến đâu thì sự việc cũng sẽ hỏng. Ví dụ ngày Nhâm Thân tháng Ngọ, quẻ Phong Hỏa Gia Nhân hóa Phong Lôi Ích, hỏi sức khỏe cho con. Hào Tử tôn Tỵ Hỏa vượng, tuy Phụ mẫu động nhưng Phụ mẫu không rơi vào mộ, nên bé hết bệnh vào ngày Hợi xung Tử tôn tĩnh. Ở quẻ này lưu ý khi Thủy động hóa mộ: nếu Thủy vượng thì tính mộ, không tính khắc; nếu suy thì vừa mộ vừa khắc, tương tự Tỵ hóa Sửu. Giả sử có hào Kim động sinh cho Phụ mẫu thì sức khỏe sẽ nguy vào lúc Tỵ, Hợi, vì tuần không mộ được hào động sinh lại là hào dùng được.
Gọi chuỗi hào động – hào biến là A – B, có các trường hợp đặc biệt. Nếu A là kỵ thần, A hoặc B tuần không, mà không được nhật xung, thì thời điểm ứng kỳ bị khắc là thời điểm xung thực tuần không. Nếu A là kỵ thần, B khắc A, mà A hoặc B tuần không, thì thời điểm trước lúc thực không, xung không, dụng thần vẫn bị khắc, nghĩa là vẫn bị tổn thương cho đến lúc xung thực. Khi hỏi những việc mang tính thời điểm, lúc xung thực tuần không là lúc kỵ thần bị khắc và việc thành. Nếu A là nguyên thần, A hoặc B tuần không, thì lúc xung thực nguyên thần sẽ sinh được cho dụng thần. Nếu A là nguyên thần, A hoặc B tuần không và B khắc A, thì trước lúc xung thực, nguyên thần vẫn sinh cho hào dụng thần, chỉ khi xung thực thì sự sinh đó kết thúc. Điều này dẫn đến việc chọn thời điểm cho những sự kiện có quyền lựa chọn thời gian: chỉ cần chọn lúc chưa xung thực mà làm thì việc sẽ thành.
Mộ gặp không: tính hay không tính
Hai trạng thái yếu có thể chồng lên nhau, và khi đó nhập mộ có còn là nhập mộ?
Có một lưu ý đặc biệt khi hào động là mộ nhưng tuần không, hào biến là mộ nhưng tuần không, hoặc hào động là mộ nhưng hóa tuần không. Trong cả ba trường hợp, hào ấy xem hẳn là không mộ. Đến lúc xung mộ thì xung như hào bình thường, không tính là mộ. Ví dụ ngày Giáp Tý, quẻ Ly vi Hỏa có hào Huynh đệ Tỵ Hỏa động hóa thành Tuất Thổ Tử tôn: Tuất Thổ tuần không, nên lúc xung thực hào Tuất Thổ tuần không sẽ không tính là hóa mộ nữa mà chỉ tính hóa tiết.
Nói về mộ cũng cần lưu ý chuyện tương tự giữa nguyệt phá và tuần không, nhưng không hoàn toàn đúng với nhật xung. Nếu nhật xung hào mộ thì không tính mộ mãi mãi. Nhưng nếu hào động là mộ mà hào biến bị nhật xung thì không tính như vậy. Nếu hào mộ hóa khắc hoặc suy, kể cả hào biến, thì không tính là mộ. Còn nếu mộ ở trạng thái hưu thì vẫn tính là mộ, ứng kỳ vào thời điểm hào biến khắc hào mộ mà thành. Để so sánh thêm hai trạng thái này trong những ca thực, có thể xem các câu hỏi đáp về phục ngâm, tuần không, nguyệt phá.
Nguồn: Vi Nhất Sơn, Bốc Dịch Đại Toàn.
