Bài tổng quan
Thế, vận, hội, nguyên: nhịp lớn của trời đất theo Bĩ Thái
Đời người chỉ tròn trăm năm, mà trời đất đếm bằng những vòng dài hàng vạn năm: sáu mươi năm một thế, bảy trăm hai mươi năm một vận. Mười hai nhân với mười hai rồi lại nhân với mười hai, người xưa dựng nên cả một cái thang để đo nhịp Bĩ Thái. Và ở bậc cuối cùng của cái thang ấy, khí âm dương không còn giao nhau nữa…
Mục lục · 7 phần
Một đời người chỉ tròn trăm năm, mà trời đất thì quay theo những vòng dài hàng vạn năm. Người xưa tin rằng hai nhịp ấy không lạ nhau: cùng một thể chất, cùng một luật biến hóa, nên đời người cảm thông được với trời đất. Muốn nghe được nhịp thở của trời đất thì phải biết nó đếm bằng những thước đo nào.
Một thể, hai mặt: lý và số
Con người sống trong thời gian và không gian, ai cũng thấy mọi thứ quanh mình luôn đổi thay, khi có quy luật, khi bất ngờ. Ý thức càng sâu thì càng muốn tìm cái gốc sinh ra sự biến đổi ấy. Nhà Phật tìm nó ở nhà sắc và không, người học Dịch tìm nó ở chữ Vô Cực sinh Thái Cực, người theo Lão tìm nó ở chữ Đạo và chữ Đức. Riêng Thái Ất tìm cả Lý lẫn Số, coi hai thứ ấy là một thể chất, và cái tinh hoa của thể chất ấy kết lại ở Ngũ vận lục khí.
Cả bốn lối học cùng quy về chữ Đạo, cùng đi từ một cái lý biến dịch không ngừng bao trùm cơ thể sinh mệnh của muôn loài. Thể của vũ trụ là cử động, là vận hành, nên thể được Đạo nghĩa là tìm ra đường lối và sức lực đã chứa sẵn trong nội lực vô lượng. Một âm sinh, một dương sinh gọi là đạo âm dương, còn sự chạy của chúng gọi là đạo thể.
Những người làm thơ cũng đã chạm đến nhịp ấy. Khi thấy mệnh người trôi qua như cái bóng, họ than rằng:
Máy huyền vi mở đóng khôn lường.
Khi muốn nói rằng việc người nằm trong tay trời, họ viết:
Ngẫm hay muôn sự tại trời.
Cái máy huyền vi ấy, đất trời vận hóa mà vẫn phân ra đóng mở, người vật có một cơ sống nhưng xưa khác nay, người xưa gọi là Hồng Quân. Hồng Quân vừa làm chủ vận vừa làm khách vận, còn con người là hành khách trên chiếc xe ấy, đi theo ý trời, tức mệnh người theo mệnh trời mà vận hành.
Ý trời của Thái Ất học là Bĩ Thái trên thể chất Càn Khôn. Ý trời của nhân mệnh học trong Thái Ất là Ngũ vận lục khí, thể hiện qua sự giao nhau của trời đất, âm dương, nam nữ, vợ chồng.
Chu kỳ bảy mươi hai năm gặp chu kỳ sáu mươi năm
Hai bánh xe, một quay theo bảy mươi hai năm, một quay theo sáu mươi năm, phải khớp răng với nhau thì mới ghép được bàn sao với vận trời.
Chu kỳ của Thái Ất là bảy mươi hai năm. Muốn dùng nó để xét vận của người thì phải làm sao cho nó ứng khít với vận lịch chủ vận và khách vận, nơi âm dương, ngũ hành, cương nhu, thiên can, địa chi, chủ khí, khách khí hòa hợp với nhau. Chủ vận và khách vận tạo nên vòng chu giáp sáu mươi năm. Số chung nhỏ nhất của sáu và năm là cặp chia cho ngũ vận và lục khí. Còn giữa sáu mươi và bảy mươi hai, mẫu số chung là mười hai, chính là số của chín sao chạy qua mười hai địa chi cho hết vòng chín trăm.
Thể, chất và vòng quay đầu tiên của Càn Khôn
Âm dương tạo hóa được coi là thể của Càn Khôn. Chữ thể xưa có nghĩa là cử động, vận hành, dịch biến. Thể phải hòa với chất, và chữ chất chính là điều tinh túy nhất, tức chữ chính, như khi nói thất chính, ngũ chính để chỉ những vì sao sáng. Chính cũng là tiếng cùng gốc với chữ diệu, nên người xưa hay nói thất chính thất diệu để chỉ bảy ngôi sao sáng nhất của chòm Bắc Đẩu, và ngũ diệu để chỉ năm vì tinh. Về sau người ta ghép thể với chất thành một từ, và thể bị coi là đối với dụng, từ đó sinh ra khái niệm chính khí, chân khí trong y học.
Ngẩng lên xem tượng trời, cúi xuống xem tượng đất, tổ tiên mỗi dân tộc đã thấy ánh sáng, màu sắc, mặt trời, mặt trăng, các vì sao đều mang tượng và mang hình. Tượng dành cho trời, hình dành cho đất. Khi một thể chia thành tượng và hình thì thể ấy là Càn trời đi trên chất của đất Khôn. Thái Ất học nói rằng thể của Thiên Địa vận hành sinh ra Bĩ Thái, bắt đầu ở Càn và hết ở Thái.
Vận khí thể và vận khí chất đều khởi ở Càn, số một. Trước khi chu kỳ vận bắt đầu thì khí đang tuyệt: hoặc âm tuyệt ở nơi dương, hoặc dương tuyệt ở nơi âm. Khí âm dương chưa giao thì gọi là thời Bĩ. Khi khí đã giao thì gọi là thời Thái. Thái cũng xoay tới cùng, nên có một chu kỳ trọn của cặp Bĩ Thái, từ đó sinh ra cặp lưỡng nghi mới. Nói cách khác, cử động của Càn số một đi hết một vòng trên Khôn số sáu thì sinh ra số năm, mang tên Ngũ đại quái, cũng gọi là mẫu quái.
Thể quái ấy chính là vận quái, đã có vận số, lại đóng vai tượng của khí số Bĩ Thái trong năm, tháng, ngày, giờ đang chạy. Vận gặp quái Càn thì nghiêng về dương, gặp quái Khôn thì nghiêng về âm. Nghiêng theo dương thì được số của quái Thái. Nghiêng theo âm thì chịu số của quái Bĩ. Thái quá thì âm dương, gió mưa ứng thời. Bĩ quá thì trở về với khí Vô Cực, tức Hỗn Nguyên nhất khí.
Thiên can làm vận, địa chi làm khí
Âm dương tạo hóa cũng cho thấy thiên can thuộc trời, lấy dương làm gốc nhưng lại theo về âm. Địa chi là cành ngọn của đất, thuộc âm nhưng lại theo về khí. Vì vậy, âm dương đối với thiên can thành ngũ vận, âm dương đối với địa chi thành lục khí. Khí của trời khởi từ Giáp, khí của đất khởi từ Tý. Hai dương hợp nhau thành Giáp Tý, làm đầu của vòng can chi. Khí của trời hết ở Quý, khí của đất hết ở Hợi, hai âm hợp nhau thành Quý Hợi, làm cuối vòng.
Âm dương cách nhau, cương nhu giáp nhau thành cặp lưỡng nghi đắp đổi cho nhau. Giáp dương phối Tý dương là lưỡng nghi về mặt cương. Dương cách âm, nghĩa là dương không cứ nối nhau theo thứ tự mà phải có âm xen vào, và cương luôn luôn giáp mặt với nhu. Vì thế sau Giáp Tý dương thì kế tiếp là Ất Sửu âm, rồi Bính Dần dương, Đinh Mão âm, Mậu Thìn dương, Kỷ Tỵ âm, Canh Ngọ dương, Tân Mùi âm, Nhâm Thân dương, và cuối cùng Quý Dậu âm. Mười năm đắp đổi cương nhu như vậy gọi là một vòng Chu Kỷ.
Bậc thang thế, vận, hội, nguyên
Từ vòng Chu Kỷ mười năm, người xưa xếp lên các bậc thang lớn hơn, mỗi bậc nhân với mười hai:
- Sáu mươi năm là một chu thế.
- Mười hai thế, tức bảy trăm hai mươi năm, là một vận.
- Mười hai vận, tức tám nghìn sáu trăm bốn mươi năm, là một hội.
- Mười hai hội, tức một trăm lẻ ba nghìn sáu trăm tám mươi năm, là một nguyên.
- Ba nguyên, tức ba trăm mười một nghìn không trăm bốn mươi năm, là một đại nguyên.
Con số vận đầy một chu thế thì trời đất có tiểu biến. Đầy một vận thì có đại biến. Đầy một hội thì có cực biến. Đầy ba nguyên thì dương khí không giáng, âm khí không thăng, trời đất hỗn hợp trở về khí Vô Cực. Cực nghĩa là khí chưa giao nhau. Thời sinh ra khí Vô Cực ấy chính là thời Hỗn Nguyên nhất khí, nơi câu Vô Cực mà Thái Cực xuất hiện, và không ai biết con số của thời ấy lớn đến mức nào. Vô Cực và Thái Cực là cặp đại lưỡng nghi, từ đó nảy ra cuộc bàn cãi kéo dài về chuyện một nguyên hay hai nguyên.
Nhiều người dựa vào Hoàng Cực Kinh Thế của Thiệu Khang Tiết, lấy nguyên lớn là một trăm hai mươi chín nghìn sáu trăm năm. Con số ấy ứng với lịch số của Platon, và với Thái Ất cũng ứng. Thái Ất lấy chu kỳ bảy mươi hai năm làm chu kỳ nhỏ, và lấy hội ách Dương Cửu cùng Bách Lục làm hội ách lớn, ứng với hai con số bốn nghìn năm trăm sáu mươi và bốn nghìn ba trăm hai mươi năm. Hai số ấy lệch nhau hai trăm bốn mươi năm, đúng bằng bốn chu thế. Con số bốn nghìn ba trăm hai mươi lại bằng một nửa hội, và bằng một phần ba mươi của một trăm hai mươi chín nghìn sáu trăm. Nó cũng là tổng số giờ của một năm, vì ba trăm sáu mươi ngày đêm nhân mười hai giờ là bốn nghìn ba trăm hai mươi, và là gốc của khoa Độn Nhâm.
Ba hòa trung: điểm tựa của người trước nhịp trời
Người đời tranh cãi con số vận thì ai cũng muốn mình đúng, người kia sai, và chẳng ai chịu nhận sai. Nhưng điều thật sự quan trọng là Vô Cực mà Thái Cực chỉ là một thể cử động của trời và đất, tượng trong quẻ Bĩ Thái, và quẻ phải có lý, có số, có lời bàn đi cùng. Con người bắt chước nhịp Hô Hấp của trời đất để làm đạo lý, họa phúc, Bĩ Thái, trị loạn, thịnh suy. Cốt lõi của mọi điều ấy là số ba hòa trung, tức luật dẫn một cực ba của Thái Ất khi đi qua Lý Nhân, Lý Thiên, Lý Địa: hòa hay không hòa, thái quá hay bất cập.
Năm mẫu quái: thể của vận, dụng của hành
Khi trời đất giao nhau, năm lực lớn nhất trong vũ trụ sinh mệnh bắt tay với sáu kinh mạch của con người.
Ngũ vận và ngũ hành thông cảm với lục khí và lục kinh để làm chủ khí, chủ vận, và được gọi là năm đại quái, hay năm mẫu quái. Nói ngũ vận là nói về thể, vì thể là cử vận. Nói ngũ hành, cũng gọi ngũ tướng hay ngũ đức, là nói về dụng. Ở con người, cái ấy là ngũ thường, và khi dùng tinh khí thì gọi là ngũ hành. Mỗi hành mang một nghĩa riêng:
- Mộc nghĩa là chạm vào, là lúc thời sinh xuất ra từ đất. Mộc do âm dương tạo hóa sinh ra và đi ra từ gốc Mệnh Môn chân hỏa. Đó là lúc khí dương đã sinh, sau khi chạm xuống đất thì tượng thành quẻ khúc trực, như chồi mầm cây khi cong khi thẳng. Vị thế của nó ở phương Đông Bắc, cung Cấn, thuộc Thổ.
- Hỏa nghĩa là hóa, vì phải có nóng mới sinh được muôn vật. Quẻ của nó là viêm thượng, bốc lên.
- Kim nghĩa là cấm, để làm chính, tức làm chất cho muôn vật. Quẻ của nó là tùng cách, theo cũ hoặc đổi cũ.
- Thủy nghĩa là nhuận, để nuôi muôn vật. Quẻ của nó là nhuận hạ, thấm xuống.
- Thổ nghĩa là nhả ra hoặc ngậm lại cho muôn vật. Quẻ của nó là giá sắc, tức cày cấy. Ở đất Cấn thổ muôn vật sinh ra, và khi muôn vật sắp chết thì về chỗ nhập thổ. Đất Tây Nam, quái Khôn, cày cấy được cả xương người khi xác thân nhập thổ.
Nói năm đại mẫu quái là nói cái lý của thể và dụng, là nhà Trời đem ngũ hành dùng cho năm thức ăn mang các vị mặn, đắng, chua, cay, ngọt bùi, từ đó sinh ra rét, nắng, ráo, ướt, gió. Con người có năm tạng để hóa năm khí vị, sinh ra mừng, giận, lo, nghĩ, sợ. Cái lý ngũ hành làm mẫu đại quái bao trùm mệnh trời, mệnh đất, mệnh người cùng muôn vật, đủ tỏ rằng âm dương giúp nhau là cơ tạo sinh hóa. Mệnh là sự sống.
Nguồn: Nguyễn Bỉnh Khiêm, Thái Ất thần kinh.
