Bài tổng quan
Dịch là biến dịch: âm dương động rồi hóa theo trật tự
Nếu chỉ có Càn động còn Khôn mãi mãi tĩnh, trời và đất sẽ chẳng bao giờ gặp được nhau. Nguyễn Hiến Lê lần theo Hệ Từ Truyện để cho thấy: động và tĩnh không tách bạch cho riêng dương hay riêng âm, mà chính cái động ấy kéo theo biến, biến kéo theo hóa, hết tiệm biến từng chút một đến một khoảnh khắc đột biến không báo trước. Con chim hồng trong quẻ Tiệm bay lên dần dần là một chuyện, nhưng bề tôi giết vua chỉ trong một sớm một chiều lại là chuyện khác hẳn...
Mục lục · 1 phần
Dịch là biến dịch
Âm dương đều động
Muốn giao nhau thì cả dương lẫn âm đều phải động.
Hệ Từ Thượng truyện mở đầu bằng câu:
"(Vì thấy) trời cao đất thấp (mà thánh nhân) vạch ra quẻ Càn và quẻ Khôn; (...) động và tĩnh đã có luật nhất định do đó mà phân biệt cương và nhu."
Câu đó cho trời là Càn, động, cương, đất là Khôn, tĩnh, nhu; trời đại biểu dương tính, đất đại biểu âm tính.
Như vậy chỉ có Càn (tức dương) mới động, còn Khôn (tức âm) thì tĩnh, động tĩnh cách biệt hẳn nhau, đối lập nhau chăng? Không phải vậy, trong dương đã có âm, trong âm đã có dương thì trong động cũng có tĩnh, trong tĩnh cũng có động, nghĩa là dương và âm đều có động, có tĩnh, chỉ khác bản tính của dương hiếu động hơn tĩnh, bản tính của âm hiếu tĩnh hơn động.
Xét câu này trong Chương 6 Hệ Từ Thượng Truyện thì rõ.
"Đạo Càn lúc tĩnh thì chuyên nhất, lúc động thì tiến thẳng, cho nên sức sinh ra của nó lớn. Đạo Khôn lúc tĩnh thì thu lại, lúc động thì mở ra, cho nên sức sinh ra của nó rộng."
Lại thêm Văn Ngôn truyện cũng bảo: "Đạo Khôn rất nhu (mềm) mà khi động thì cũng cương (cứng mạnh)".
Hiển nhiên Dịch cho âm dương đều có thể động, có thể tĩnh.
Quan niệm động đó trong Dịch hợp với Đạo Đức Kinh, vì Lão Tử cũng nói: "Phản giả, Đạo chi động": Sự động (vận hành) của Đạo là quay trở về (Chương 40).
Chương 5: "Thiên địa chi gian, kì do thác thược hồ? Hư nhi bất khuất, động nhi dũ xuất": Khoảng giữa trời đất như ống bễ chăng? Hư không mà không kiệt, càng chuyển động, hơi lại càng ra.
Hình ảnh ống bễ với hình ảnh cái hang, gọi là mẹ mầu nhiệm, gốc của trời đất ở chương 6 Đạo Đức Kinh (huyền tẫn chi môn, thị vị thiên địa căn) khiến ta liên tưởng đến hình ảnh "kì động dã trực", "kì động dã tịch" trong Chương 6 Hệ Từ Thượng dẫn trên. Cho trời là cha, đất là mẹ của vạn vật, Càn Khôn như nam và nữ, là tư tưởng phổ biến của Trung Hoa, có thể đã có trong dân gian từ đời Ân hay đời Thương.
Động rồi biến hóa
Âm dương có động thì mới giao nhau, mới biến mà sinh sinh hóa hóa. Vậy Dịch cũng như Trung dung (Chương 26) cho rằng động thì biến, biến thì hóa. Hệ Từ Thượng truyện, chương 12 bảo:
"Càn Khôn là cái sâu kín hoặc chứa đựng cái nguyên nhân của đạo Dịch chăng? Càn Khôn thành hàng rồi mà đạo Dịch lập nên ở trong. Càn Khôn bị phá thì còn gì để thấy đạo Dịch nữa? Dịch không thấy được thì cơ hồ Càn Khôn không thi hành được."
Chữ Dịch ở đây là biến dịch, tức đạo biến hóa trong vũ trụ. Mọi sự biến hóa đều từ Càn Khôn mà ra, không còn Càn Khôn tức âm dương thì không còn sự biến hóa. Mà nếu không có sự biến hóa, nghĩa là nếu âm dương không tác động lẫn nhau, không gặp nhau, thì "cô dương" không thể sinh, "độc âm" không thể thành; trong trường hợp đó âm dương sẽ bị tiêu diệt.
Mà sở dĩ có biến hóa là do âm dương cọ xát nhau, sinh ra sấm sét, gió mưa, mặt trời mặt trăng xoay vần, cứ lạnh rồi tới nóng (Hệ Từ Thượng - Chương I).
Từ sự biến hóa đó sinh ra vạn vật (sinh sinh chi vị dịch).
Trật tự trong sự biến hóa
Sự biến hóa trong vũ trụ theo một trật tự nhất định:
- Theo luật tôn ti: "Thiên tôn địa ti": Trời cao đất thấp.
- Thuận lẽ tự nhiên:
"Trời đất động mà thuận theo lẽ tự nhiên, cho nên mặt trời mặt trăng, phần đêm phần ngày chẳng bao giờ sai lệch, mà khí hậu bốn mùa chẳng bao giờ sai suyễn" (Thoán truyện - quẻ Dự).
- Có chừng mực:
"Trời đất có chừng mực nên mới thành bốn mùa" (Thoán truyện - quẻ Tiết).
Khí vận của trời đất, mùa nắng mùa mưa, mùa nóng mùa lạnh đều có chừng mực, xuân không xuân hoài, thu không thu mãi, hạ không kéo dài quá, đông không ngắn quá, có vậy mới thành bốn mùa được.
- Hằng cửu (lâu dài hoài) mà không thôi, nghĩa là theo một luật nào đó thì theo hoài chứ không lúc thế này lúc thế khác.
"Đạo của trời đất hằng cửu mà không thôi" (Thoán truyện - quẻ Hằng).
- Biến theo trình tự mới đầu thì từ từ, từng bước một (tiệm biến) rồi cuối cùng biến mạnh (đột biến), lúc đó gọi là hóa.
Hào 1 quẻ Khôn nói: "Đạp lên sương thì biết băng dày sắp đến" (Lí sương, kiên băng chí). Bắt đầu mùa lạnh, khí lạnh mới kết lại thành sương, rồi lần lần lạnh hơn, sương dày hơn, như vậy trong một hai tháng (tiệm biến) sau cùng khi lạnh tới một độ nào đó thì chỉ trong một đêm, nước đông lại, đột biến mà hóa thành băng.
Xét quẻ của 12 tháng ở trên, chúng ta thấy từ quẻ Càn đến quẻ Bác có sự tiệm tiến của khí âm (mỗi tháng thêm một hào âm), rồi từ quẻ Bác qua quẻ Khôn có sự đột biến thành một quẻ thuần âm, trái ngược với quẻ thuần dương là Càn lúc đầu.
Từ quẻ Khôn đến quẻ Quải cũng vậy, nhưng ngược lại: khí dương tiệm tiến (mỗi tháng thêm vào một hào dương), sau cùng quẻ Quải đột biến thành quẻ Càn thuần dương, trái ngược với quẻ Khôn lúc đầu.
Văn Ngôn truyện đưa một thí dụ thuộc về nhân sự.
"Nhà nào tích lũy điều lành thì có thừa phúc để đến đời sau. Nhà nào tích lũy điều chẳng lành thì tất có thừa tai vạ để đến đời sau. Như việc bề tôi giết vua, con giết cha, nguyên do không ở trong một buổi sớm buổi chiều, tất dần dà có từ lâu rồi, mà người ta không biết lo toan từ sớm vậy."
"Dần dà có từ lâu" là tiệm biến; mà sự bề tôi giết vua, con giết cha là đột biến, là hóa.
Trong Kinh Dịch có nhiều quẻ nói về sự tiệm biến, như quẻ Phệ hạp khuyên nhà cầm quyền phải răn đe dân từ khi dân mới mắc phải tội nhỏ (hào 1), nếu không dân sẽ quen làm bậy, ác cứ tích lũy mà mắc tội lớn (hào 6). Rõ ràng nhất là quẻ Tiệm (tiến lần lần), từ hào 1 đến hào 6, con chim hồng tiến lần lần từ mặt nước lên đến bờ, lên phiến đá, đất bằng, cành cây, gò cao rồi sau cùng vụt một cái, bay bổng lên trời.
Về sự đột biến thì có quẻ Cách, Hào từ khuyên phải hành động ra sao khi muốn cuộc cải cách lớn, một cuộc cách mạng chẳng hạn.
- Biến trong phạm vi bất biến: xét theo đoản kì thì là biến, theo trường kì thì là bất biến. Cho nên Tô Đông Pha trong bài Tiền Xích Bích phú viết:
"Bác có biết nước và mặt trăng không? Nước chảy thế kia mà chưa từng đi bao giờ, mặt trăng khi tròn khi khuyết mà chưa từng thêm bớt bao giờ. Bởi vì ta tự nơi biến đổi mà xem ra thì cuộc trời đất cũng chỉ ở trong một chớp mắt; mà tự nơi không biến đổi mà xem ra thì muôn vật với ta không bao giờ hết cả..."
Tóm lại Dịch có nghĩa thứ hai là biến dịch. Có biến thì mới hóa mà thông được (qua lại không cùng thì gọi là thông), nếu không thì tới một lúc nào đó phải ngưng trệ phải hết, không thông được, vũ trụ không trường tồn được. Nhưng biến phải theo một trật tự nào đó, phải có qui luật, mà nói đến qui luật là nói đến cái gì bất biến rồi. Do đó Dịch còn có nghĩa thứ ba là bất biến, bất dịch nữa.
Nguồn: Nguyễn Hiến Lê, Kinh Dịch – Đạo của người quân tử, Chương V.
