Bài tổng quan
Nước sinh vượng nuôi con cháu, núi sa báo điềm sang hèn
Nước sinh đến trước thì con trưởng phát đạt trước, nước vượng đến trước thì con thứ vinh hiển trước, còn nếu nước xung phá chỗ tràng sinh thì phú quý hóa suy bại. Rồi nhìn lên núi sa quanh huyệt, người xưa bảo cứ xem dáng long mạch và sa của mộ tổ là đoán được tính nết con cháu. Núi nhọn khiến người quý, núi tròn khiến người giàu, vậy dáng núi nào hóa thành họa?
Thịnh suy của long, hướng của nước, chỗ chiếu ứng của âm dương
Muốn tìm long mạch thì trước hết phải xem sự thịnh suy của long mạch, rồi xét cát hung của hướng nước, sau nữa nhận ra tình hình chiếu ứng, phối hợp của âm dương. Thế thuận và thế nghịch tự có cách vận hành âm dương riêng của chúng, dùng để xem sinh vượng và hưu tù. Phép đón cát lợi đều dùng hướng để thu nạp. Nước ở phương sinh thì dùng hướng mà dẫn nó vào. Nước ở phương vượng thì dùng hướng mà chào mời nó.
Khi sinh, vượng và mộ cùng hợp thì công vị lập tức chia thành mười hai cung phối với ngũ hành, rồi mới định được Tham Lang, Vũ Khúc, Phá Quân. Tràng Sinh là Tham Lang, Quan Vượng là Vũ Khúc, Mộ Khố là Phá Quân, đều ứng với ba công vị Mạnh, Trọng, Quý mà phân biệt.
Nước sinh nuôi người, nước vượng nuôi của
Về người nhà thì xem Tràng Sinh, về tài lộc thì xem Quan Vượng. Nước sinh tới đường cục thì nhà đầy người. Nước vượng tụ ở đường cục thì tài lộc dồi dào. Phép định cửa nước là phải lấy cửa nước làm chủ trước, rồi mới xem nước đến thuộc sinh hay vượng. Cách này không dùng địa mạch mà căn cứ vào nước đến, nước đi cùng hướng bối để định và chọn huyệt. Nhưng nếu địa mạch cát mà hướng không hợp với nước thì cũng không thể phát phú quý.
Phá Quân xâm phạm vào Đế Vượng thì nghèo khốn cơ cực. Thiên Cương khắc vào ngôi Tham Lang thì tuyệt hậu. Nếu nước ở phương Mộ chảy ngược tới đường cục, xung phá Quan Vượng thì chủ bần tiện, xung phá Tràng Sinh thì phú quý hóa suy bại. Nếu Vượng đón được Sinh thì phú quý song toàn.
Chưa thoát thai mà đã chết yểu thường là vì thần ở ngôi Thai bị xung phá. Mới ra đời mà đã chết là vì sinh khí bị phá. Nếu Tham Lang xung khắc Thiên Cương thì sống lâu trăm tuổi, còn Phá Quân xung khắc sinh khí thì đại hung. Nước của Sinh tới đường cục, đi thẳng đến mộ khố rồi mới thong thả rời đi thì con cháu hưởng phúc thọ. Nước sát của Mộ tới xung phá khí sinh vượng thì con cháu yểu chiết. Nếu thần Vượng rơi vào phương Mộc Dục thì dù giữ chức cao cũng chỉ là kẻ hạ tiện.
Nước Tí, Ngọ, Mão, Dậu mà nằm trong long hướng Mộc Dục, đến tận phương Sinh mới rời đi thì con cháu loạn luân. Nếu đến tận phương Vượng mới đi thì dù giàu sang đến đâu cũng bị ô nhục thanh danh. Thư và hùng nếu nửa đường mới kết hợp thì phải đến lúc về già mới hưởng phú quý. Phép này dùng hai chữ sai và thố để chỉ chỗ âm dương lệch loại: dương sai thì hại đến đàn ông, âm thố thì hại đến đàn bà.
Mạnh, trọng, quý: nhà nào phát trước
Ba phương vị Sinh, Vượng, Mộ đem phối với Mạnh, Trọng, Quý để luận cát hung. Nước sinh tới trước thì con trưởng phát trước. Nước vượng tới trước thì con thứ vinh hiển trước. Ngoài ra nước sinh khiến con cháu phát trước, nước vượng khiến tài lộc phát trước, đó là chuyện ứng nghiệm mau hay chậm, trước hay sau.
Ngôi Mạnh đóng ở Tham Lang, ngôi Trọng ở Vũ Khúc, ngôi Quý thuộc Phá Quân với Hưu Phế và Mộ Sát. Nếu nước sinh xuyên tới Thiên Cương thì con trưởng vinh hiển. Nếu thần vượng quy tụ ở đất mộ thì con thứ phát đạt. Sinh vượng cùng quy tụ thì lợi cả tài lộc lẫn con cháu. Nước đến từ phương Lục Tú thì sang quý. Nước từ phương Bát Diệu xung phá tới thì đại hung.
Long mạch phải xem nơi nhập thủ, còn nước phải xem tình ý. Ở vị thiên can phải đề phòng nước tới xung phá. Ở vị địa chi thì đừng để nước tụ lại. Vì thế Tiểu Xích Văn đến thì con út hưởng phúc, Trung Xích Văn đến thì con thứ hưởng phúc, Tứ Trụ có tình ý thì con trưởng hiển đạt. Ất, Tân, Đinh, Quý là Tiểu Xích Văn. Giáp, Canh, Bính, Nhâm là Trung Xích Văn. Càn, Khôn, Cấn, Tốn là Tứ Trụ, cũng gọi là Đại Xích Văn. Nếu là Dần, Thân, Tị, Hợi thì con trưởng nghèo hèn. Tí, Ngọ, Mão, Dậu thì con thứ lụn bại. Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thì con út gặp nhiều tai họa.
Canh, Thân tới đường thì quý, Bính, Nhâm tới cục thì hiển đạt. Tuổi còn nhỏ mà đã có tên bảng vàng thì ắt nước đến từ Dần, Giáp. Chức vị lên tột đỉnh là nhờ nước chầu đón Canh, Tân. Dần, Giáp vốn chủ bệnh tật, Khôn, Thân vốn chủ cô độc, nhưng ở đây lại thành quý hiển vì có sinh vượng. Hợi, Nhâm là chức quan ngoài, Ất, Bính là chức quan trong. Dậu, Tốn sinh con gái xinh đẹp. Chấn, Canh sinh con trai văn võ song toàn. Nếu Cấn, Tốn cùng phối với Bính, Tân thì con cháu đời đời vinh hiển. Hợi, Dần, Giáp, Tốn, Canh nối nhau ứng phối thì đời đời nắm quyền uy.
Nước Nguyên Thần chảy tới đường thì công danh phú quý bền lâu. Nước Viên Tinh tiến vào đường cục thì lập nghiệp vương bá. Nước Nguyên Thần theo long mà uốn lượn đến đường hội hợp thì phú quý lâu dài. Viên Tinh chính là nước sinh vượng, vào đường cục thì dựng được nghiệp vương. Nước chầu đón từ Chấn, Canh thì sinh anh hùng, từ Ất, Bính tới thì giàu sánh một nước. Chấn, Canh chủ về uy quyền, Ất, Bính chủ về tài lộc.
Nước Mão, Dậu vốn khắc kẻ tà dâm, nếu nước dài và xa thì phụ nữ hiền lương. Nước Tí, Ngọ gọi là nước quân tặc, nếu rộng lớn thì hợp với quan võ. Không phải nước sinh vượng thì ắt sinh kẻ trộm cướp, kỹ nữ. Nước Ất, Thìn tới thì có người tự vẫn nơi sông nước. Nước Bính, Đinh tới thì trường thọ. Xích Văn mang theo Đào Hoa thì khó giữ danh tiếng khỏi nhơ. Lục Tú gặp khí diệu thì thiếu niên khó tránh trộm cướp, phạm Hoàng Tuyền thì yểu chiết.
Nước ở Tứ Khố mà chảy dồn, tích đọng thì khiến người nữ góa bụa. Nhưng nếu nước Tứ Khố tích tụ ngoài đường cục mà không bị xung phá thì người nữ gánh việc nhà. Nước Dần, Thân, Tị, Hợi tới thì chịu nạn, khó sinh nở. Nước Tuất, Cấn, Thìn, Đoài tới đường cục thì bị điên, mù hoặc câm. Nước Dần, Thân tới thì khó thoát tai ương bệnh tật. Lâu và Cang cùng tới thì phải đề phòng dao kề cổ. Lâu, Cang, Thìn, Tuất là những phương vị của nước, nếu được sinh vượng thì cát, hưu tù thì hung.
Núi nhọn sinh quý, núi tròn sinh phú
Phú quý vinh hoa hình thành ở nơi núi nước tụ hội, giao kết. Cho nên long mạch vào cục thì ắt có chỗ khác nhau giữa đục và trong, và các sa tụ lại cũng ứng nghiệm cát hung. Nghĩa là tìm long mạch, định huyệt đều phải xem cát hung của sa và nước.
Long ở đất Tứ Duy hay Lục Tú, nếu long nhọn, cao vút thì phát quý, nếu thấp và tròn thì phát phú. Tứ Duy là trước, sau, trái, phải, đều cần đón đưa, bao bọc, hộ vệ sơn mạch, không nên nghiêng lệch, nham nhở. Nhọn cao chủ quý, tròn thấp chủ phú.
Nếu Mã hãm, Lộc không thì danh lợi hư ảo. Cấn, Bính khiếm khuyết thì Lộc sơn trống rỗng. Ngọ khuyết thì Thiên Mã rơi vào hố. Hai ngọn Thiên Thái không cao vút sừng sững thì không quý hiển. Tôn Nguyên và Quan Quý lạc hãm thì dù tài học hơn người cũng vô dụng, thi không đỗ. Tôn Nguyên chỉ là bát quái nạp giáp. Quan Quý là Giáp long gặp Tân. Nơi này khuyết hãm thì chủ về học mà không thành danh.
Long Cấn gặp Bính, long Đoài gặp Đinh, long Chấn gặp Canh, long Tốn gặp Tân. Nếu có được bốn ngọn núi ấy thúc đẩy sinh khí của Lục Tú thì chủ công danh thành đạt. Hai long Tốn, Hợi mà có hai ngọn cao vút Chấn, Canh tương ứng thì chủ nắm binh quyền, có thực quyền. Các long khác nếu có hai ngọn Chấn, Canh ứng hợp thì cũng phát về binh nghiệp, nhưng gặp sao sát diệu thì thây phơi nơi chiến địa. Hai ngọn Chấn, Canh chủ binh nghiệp, nếu cao vút thanh tú thì long Khảm sẽ kết nhà đất ở Nam Ly.
Nếu ngọn Khôn mẫu cao sừng sững thì có thể có tên trên bảng vàng, nhưng long mạch phải hợp với sinh khí của bốn ngọn, như vậy sao sát sẽ hóa thành sao văn. Núi Bính, Ngọ, Đinh đẹp thì độc chiếm khôi nguyên, vang danh khoa cử. Ở phương sinh vượng, các đỉnh cao Hoàng Tuyền, Bát Sát hóa cát thành quyền, thành văn thì phú quý song toàn. Nếu long thấp, sa tản, phương vị hưu tù thì tai họa giáng xuống. Cát ứng với cát, hung ứng với hung.
Núi hình gáo, hình bát và hình hồ lô
Nếu núi vuông vức, to lớn ở vị Cấn, Bính thì trong nhà ắt có vạn quan tiền, giàu sánh một nước. Nếu núi Nga My thanh tú, uyển chuyển ở cung Tốn thì chủ về mỹ nữ có sắc nghiêng nước nghiêng thành. Nhưng phải ở phương sinh vượng. Ở phương hưu tù thì khó tránh tà ác, dâm đãng. Núi hình như hạc, như đàn kiếm, nếu có đủ ba cát thì sinh bậc văn nhã. Ở Sửu, Mùi, Khôn, Thân thì sinh bậc thánh nhân có phong thái tiên đạo.
Ất, Chấn giao nhau trên đường nước thì khó tránh tai ách. Bát Diệu trùng trùng chạy qua sa đao thì khó thoát mưu sát, hình phạt. Nếu sa hình cái gáo, sa hình cái bát ở vị Khôn, Thân thì sinh tăng lữ, ni cô hoặc kẻ ăn mày. Sa hình gáo là núi như cái gáo, cái muôi. Sa hình bát là núi như cái bát, cái chén. Chúng đều không nên ở phương hưu, tù, bại, lạc của long gốc. Dù ở phương tốt cũng chẳng mấy tốt đẹp.
Nếu Tí, Ngọ, Dần, Thân gặp sa hồ lô thì ắt mắc tật dai dẳng hoặc bệnh nặng. Sa hồ lô là dãy núi hai đầu phình ra, phần giữa lõm vào. Nếu có một ngọn núi lẻ loi nhô cao ở cung Ly, phương nam, chỉ e tai họa về của cải hoặc bị mù.
Xem đất như xem người, đoán đời con cháu
Cách xem địa lý phong thủy cũng như xem tướng người. Người đoan trang, tề chỉnh, ngay thẳng, phúc hậu, uyển chuyển, trung tín, lễ độ, đường đường chính chính mới là quý nhân. Còn kẻ tà ác, nham hiểm, gian trá, đổi thay thất thường, gian dâm, nghiêng đầu vẹo cổ thì ắt hung hiểm. Khí của địa mạch là dấu hiệu của tự nhiên trời đất, đó là chân lý lâu dài. Nhìn địa mạch có thể biết tính cách người chủ ở đó. Biết chuyện đã qua thì có thể đoán chuyện sẽ tới.
Xem hình dạng địa mạch có thể tiến tới đoán tính nết, phẩm hạnh của đời con đời cháu chủ nhân. Long mạch thanh tú, sa sơn vuông vức thì đời con cháu ắt sáng sủa, chính đại. Long và sa nghiêng lệch, xiêu vẹo thì con cháu nhất định hiểm độc, gian trá, dâm tà, hung ác. Muốn biết sự việc và vận mệnh tương lai thì cứ xem hình dáng long mạch và sa sơn của mộ tổ là có thể kiểm chứng cát hung họa phúc.
Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 2.
