Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Đạo Gia

Bài tổng quan

Núi sông ứng sao trời: xem thế, xem khí, xem long

Đạo Học - Đạo Gia06/10/202610 phút đọc1 lượt đọc
Núi sông ứng sao trời: xem thế, xem khí, xem long

Vô số tinh tú chia nhau trên trời, vô số sông núi nằm dưới đất, và cả hai chỉ là một khí đang vận hành. Người xưa bảo nước là dấu vết của khí, nước chảy về đâu thì rồng đi về đó, nước đã tụ thì rồng mới dừng. Vì sao nước giúp được rồng mà rồng lại không cứu được nước?


Sao trên trời, núi dưới đất, cùng một khí

Muôn vàn tinh tú bày trên bầu trời, muôn vàn núi sông sắp dưới mặt đất. Ngẩng đầu xem cách các vì sao bố trí thì thấy vô số tinh tú kết hợp và bảo vệ lẫn nhau. Cúi xuống xem long đến, mạch đi của sông núi thì mới biết diện mạo của cả cánh đồng bát ngát. Trời sinh ra các loại sao thế nào thì đất sinh ra các loại sông núi thế ấy. Khắp trời đất chỉ có một loại khí, và sông núi ứng hợp với tinh tú chính là nhờ tác dụng, biểu hiện của loại khí đồng nhất ấy.

Vô số sơn mạch trên mặt đất đều nối liền, xuyên suốt vào nhau, cùng khởi nguồn từ dãy Côn Luân, cùng bắt đầu từ sơn mạch tổ tông rồi đồng thời tỏa ra bốn phương tám cực mà đi. Tám cực tức là bát quái. Càn, Khôn, Khảm, Ly, Đoài dồn về nơi tận cùng, thông về phía tây tới sa mạc mênh mông. Cấn, Tốn, Chấn nối nhau tiến vào Trung Nguyên mà tạo thành hình thế Ngũ Nhạc. Ngũ Nhạc là bộ phận trọng yếu nhất trong toàn bộ sơn mạch Trung Hoa.

Lấy Hoàng Hà làm ranh giới vùng Tây Bắc thì Sửu, Cấn tạo thành long mạch cuồn cuộn. Lấy Trường Giang làm ranh giới vùng Đông Nam thì Tốn, Thìn tạo thành tổ sơn kéo dài trùng điệp. Chỉ có long mạch hình thành ở Dần, Giáp, Mão, Ất mới có thể làm nền tảng, làm trụ cột cho trung lưu Trường Giang. Núi cao và đồng bằng ứng hợp, hỗ trợ lẫn nhau như xương với thịt. Thịt bọc bên ngoài xương, huyết mạch chạy trong da thịt. Thấy rõ huyết mạch chảy thế nào thì biết da thịt tươi tốt hay không.

Khí mạch nơi đồng bằng đều có gốc từ núi cao. Dãy núi từ phía đông duỗi tới thì khí của thổ mạch cũng hiện ra theo cách núi ấy chuyển động. Sơn mạch chạy nhanh tới thì nước đi theo núi, nước như huyết mạch chảy trong da thịt còn khí của địa mạch chính là da thịt. Đất không có nước thì không tươi tốt, vì vậy long mạch nhất định phải có nước theo mới vận hành được. Khí mạch chạy dưới đất cũng giống như nước chảy trên mặt đất. Nước chính là dấu vết và biểu hiện của khí. Nếu nước chảy về đông thì khí núi ắt đi về đông. Nói long đi thì nước tự theo, thật ra là nói khí núi vận hành mà nước đi theo.

Nhiều sông nước chảy về hướng Đông Bắc, khí sông của Khôn và Thân mới sinh thành. Nhiều dòng nước chảy về hướng Chấn và Thìn thì long mạch Càn, Hợi mới thanh tú. Giáp, Mão thành thai chẳng phải nhờ khí Tân, Dậu sao? Ngọ, Đinh sinh sôi không dứt chẳng phải nhờ linh khí của Khảm, Quý sao?

Điều quý là long mạch nghịch hướng mà chuyển về, quay đầu nhìn lại sơn mạch tổ tông. Xem kỹ nơi nước tụ hội thì mới phân rõ thư hùng. Nước không tụ hội thì long mạch không kết, long mạch không ngưng kết thì khí tức đang chạy không có chỗ ngưng tụ.

Cần làm rõ đầu và đuôi của long mạch chạy dài vạn dặm trên bình nguyên. Bình nguyên mênh mông, dù xa vạn dặm cũng phải tìm cho ra nơi khởi đầu và chỗ kết thúc của nước. Xem kỹ đường đi của nước và nhận rõ chỗ nước giao kết, tụ hội thì tự nhiên sẽ thấy chân huyệt.

Dù long quay đầu nhìn về tổ mạch thì cũng không thoát rời núi cha mẹ để cầu sinh khí. Câu ấy chỉ cảnh long thành thai tại Giáp, Mão. Long thuận nước mà đến, nghịch hướng mà kết huyệt thì mới biết thể đoạn của nó là thật. Nếu long nghịch nước mà tụ kết ở phía sau thì nhất định là địa mạch giả. Nơi long quay đầu nhìn về tổ sơn thì sa sơn không đến từ chỗ nó sinh ra. Nếu sa sơn nghịch bối với thế nước, nước chảy thẳng ra rồi giao hội ở sau lưng thì đó không phải địa mạch thật.

Nếu long như tấm thảm trải trên bình nguyên thì cần nhận ra nơi nó tụ hợp. Nếu long như đôi mắt mở to thì cần xem nơi nó dừng lại kết tụ. Chân long kết thành chân huyệt thì nơi sinh khí của long giao hội ắt có chính mạch hạ thẳng xuống, nước chia ra hai bên trái phải, có một lớp, hai lớp, song song tiến tới minh đường mà thu nạp khí. Nơi như vậy mới được coi là địa mạch thật.

Khí của rồng và khí của nước: sinh, vượng, suy, tù

Long chia ba tám, khí thuộc ngũ hành. Xác định được đạo lý tiêu trưởng của âm dương thì biết rõ nguyên do của hưu, tù, vượng, tướng. Vì vậy Nhâm, Quý phải đến từ Đoài, Canh mới thành thể trạng hoàn chỉnh. Đi từ sinh về vượng thì tú khí mới tròn đầy. Nước Khảm chầu đón, nghịch với Dần, Mão thì gọi là thần thống lĩnh khí tức. Thủy mộc tương sinh mới có tú khí. Vì thế mới nói long mạch thịnh vượng tiếp nhận sinh khí thì kết thành cát địa.

Ba dương giao thái thì sao Chấn hiện ra. Bính, Ngọ, Đinh là đất của ba dương. Tổ mạch bắt nguồn từ phương Chấn, quý nhất là chạy về Ly, tức là xuất phát từ chỗ tràng sinh hưng thịnh. Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là nơi bốn Kim ẩn nấp, là đất vượng của Thiên Cương, và người ta không thể sống ở đó. Phàm long vào nhập thủ mà phạm khắc bốn Kim thì ắt chuốc họa. Kim vào đất Hỏa thì tự hủy. Mộc vào cung Kim thì tự nguy đến tính mạng. Long không thể rời thoát sinh khí của cha mẹ. Đoài đến Ly, Chấn đến Đoài là tương khắc, đó không phải chân huyệt.

Hỏa long sợ gặp Đoài, Canh. Đến Bắc, Thìn thì tự hủy mình, đến Đông, Chấn thì gặp tai họa. Long mạch đẹp đang vận hành mà nhập thủ bị khắc phạm thì không hợp cục. Long dương đi sang trái, từ sinh tới vượng. Long âm xoay sang phải, từ vượng đến sinh. Phải hợp với mạch đến mà nhận khí sinh vượng, kỵ long mạch đi vào đất tử mộ. Long mạch kết thúc ở nơi suy mà có nước vượng tụ hợp thì tài sản dồi dào. Có thần sinh kết tụ thì nhiều gia nhân.

Long mạch chạy tới, nhập thủ ở nơi khí suy yếu, nếu có nước Quan Vượng tụ hội trước đường cục thì dù long huyệt có hung sát nhưng khí vẫn thuần khiết, nên có thể phát tài, phát phúc. Nếu có nước Tràng Sinh chạy tới đường cục thì gia nghiệp hưng vượng. Long là thể, nước là dụng. Nước tốt lành có thể cứu long, còn long thì không thể cứu nước.

Quý nhất là có cả hai cái hưng cùng đến: long mạch sinh vượng, rồi có nước sinh vượng tiến tới đường cục, gọi là hai sao cùng sinh. Nếu long và nước không thể trọn vẹn cả hai thì phải dùng hướng để thu nạp. Chữ song hưng chính là chỉ sinh và vượng.

Nhâm hóa Quý, Quý hóa Nhâm, nước và long dùng lẫn nhau mà tự nhiên sinh thần. Đinh hóa Bính, Bính hóa Đinh, lửa và khí mạch cùng tồn tại mà không sinh hung họa. Long Hợi kỵ hỗn tạp. Càn, Nhâm thì tròn đầy thông suốt. Tốn sợ Liêm Trinh đến Thìn, Tị, chỉ muốn một mình bước đi. Nếu đi thẳng tắp thì hung, uốn lượn thì cát. Ý ấy nói rằng long Hợi, Tốn khi đã đi thẳng thì phải tìm được thế uốn lượn mới hợp. Dần, Giáp, Cấn không cùng đến thì Dậu, Canh, Tân mới đi cùng. Càn, Khôn mà sắp tới thì dù nhà đang phát phúc lộc, kết cục vẫn lụn bại. Long Thìn, Tuất nhập thủ thì dù lúc đầu thuận lợi phát đạt, kết cục con cháu đời đời nghèo khó.

Vì vậy muốn làm rõ phương hướng, xác định vị trí thì phải nghiên cứu sự lên xuống thịnh suy của hai mươi bốn núi. Muốn lập huyệt, chọn núi chầu và núi đón thì phải xem cát hung họa phúc của bảy mươi hai long.

Theo rồng mà đi: nước chảy là rồng đi, nước tụ là rồng dừng

Núi sa bước đi có nước phò trợ, sa với nước giao hội quấn quýt thì thuận. Núi sa vòng về, nước vây quanh thì ắt phát quý. Nước và núi có quan hệ mật thiết. Nước chảy đi thì khí cũng theo nước mà chạy, nước dừng thì khí dừng theo. Nước bao bọc hộ tống ở ngoài thì khí ắt tụ hội, thu nạp ở trong minh đường. Sa và nước bốn phía tự nhiên quay đầu trở về, bao bọc như thần dân chầu quân vương thì chủ về sang quý.

Long mạch chân chính lúc mới khởi đi giống vạn con ngựa cuồng phi, khí thế hùng vĩ. Núi sa đến như sóng trào. Nước đến thì kết tụ. Sa và nước cùng bao bọc, cùng nhau mà đi. Long mạch chân chính đi khi không thể không đi, dừng khi không thể không dừng. Nếu biết rõ nơi nước giao hội, sa sơn tập kết thì thấy được chỗ chân long nhập thủ.

Thế nước đi cuồn cuộn như đang đổ ra biển lớn, mà không giao hội, ấy là nước chảy đi mà chẳng gặp chỗ tụ. Nếu nước chảy khắp nơi mà không kết tụ thì long mạch đi mãi không dừng. Nước chảy thì long đi, nước quy tụ thì long dừng. Sa phân tán mà không quay về thì sinh khí không kết tụ, vẫn cứ đi mãi. Nhiều núi sa quay mặt ra ngoài thì khí mạch của nó chạy hoài không nghỉ và không thu nạp lại. Dù có cửa ngõ, cục diện rộng lớn, sáng sủa, mà nước đi mãi thì phúc không bền lâu, dù đó là chân long. Nghĩa là nước cứ đi mãi thì phúc lộc không thể tồn tại lâu, kể cả khi đã có chân long.

Dù long tích nước thành cửa ải thì cũng chỉ là chặn ngang lưng, cắt khí mà thôi, nếu không phải chính long thì đó chỉ là nơi sinh khí tích tụ. Nếu trường sa như chiếc chiếu trải rộng thì phải chọn một đốt sa sơn gần dòng nhánh. Nếu sa sơn như tấm thảm mở rộng thì nên tìm núi ứng hợp cho trọn vẹn. Long mạch nổi lên có hung có cát, nước từ trên xuống có trong có đục.

Lập hướng theo quái khí: núi là thể, nước là dụng

Khi chọn huyệt và định hướng, mọi việc đều theo sự tác động qua lại của quái khí. Nếu quái khí chưa đủ trọn vẹn thì phải dùng tam hợp, ngũ hành và song sơn để nạp âm cho núi gốc. Nếu núi gốc không ứng hợp thì lại dùng song sơn và tam hợp để nạp âm cho hướng. Long mạch hoặc thần sát dài ngắn không đều, sa sơn và dòng nước khi ẩn khi hiện, khi cao khi thấp, nên việc định hướng không thể làm qua loa.

Sơn mạch là thể, nước là dụng, cả hai cùng sinh ra từ một khí thống nhất. Dụng thuộc dương, thể thuộc âm, động tĩnh nhờ đó mà hiện ra. Vì thế nếu ứng hợp mà thu được khí sinh vượng thì phú quý song toàn, phúc lộc bền lâu. Âm và dương vốn không có chỗ khác nhau về sinh vượng hay về thể dụng. Chỗ long phát nguồn và chỗ long nhập thủ đều cần xem xét vị trí và hướng lập cụ thể.

Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 2.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Đạo Gia