Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Chu Dịch cởi áo chiêm phệ, bốn đức nguyên hanh lợi trinh

Đạo Học - Khuyên Thiện01/10/202614 phút đọc2 lượt đọc
Chu Dịch cởi áo chiêm phệ, bốn đức nguyên hanh lợi trinh

Chu Dịch mở đầu bằng những lời bói trên mai rùa và cỏ thi, vậy mà bên trong lại giấu một cách nhìn về trời đất, về sự đổi thay và về đức của người quân tử. Bốn chữ lặp đi lặp lại ở đầu nhiều quẻ là chiếc chìa để mở cánh cửa ấy...


Chiếc áo chiêm phệ và phần ruột triết học bên trong

Một cuốn sách ra đời trong gian nhà của thầy bói, rồi cuối cùng ngồi lên ngai đầu của các tác phẩm cổ điển.

Tác giả mô tả Chu Dịch là bộ sách tổng hợp tri thức triết học, khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Kinh Dịch tuy chỉ là sách chiêm phệ, tức bói bằng cỏ thi, nhưng lại là cái nôi của tư tưởng triết học thời kỳ đầu ở Trung Hoa. Đặc điểm của tư tưởng triết học trong Chu Dịch là sự chuyển hóa từ chiêm bốc hướng về trời sang hướng về con người.

Dịch truyện đóng vai trò bổ sung quan niệm âm dương trong Chu Dịch, đồng thời tiếp nhận trào lưu tư tưởng âm dương đương thời. Nhờ đó Dịch truyện đã lột bỏ lớp áo chiêm phệ bên ngoài và thực sự trở thành pho sách vĩ đại, mấy nghìn năm qua vẫn có ý nghĩa chỉ đạo to lớn cho triết học, khoa học tự nhiên và khoa học xã hội Trung Hoa. Truyện là phần giải thích Kinh. Bối cảnh xã hội của Kinh Dịch là xã hội nô lệ, còn Dịch truyện xuất hiện vào đầu xã hội phong kiến.

Kinh Dịch trong nền xã hội thời Ân Chu

Kinh Dịch được viết thành sách vào đầu thời Ân Chu, lúc xã hội chiếm hữu nô lệ hưng thịnh, chính là giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của nhà Chu. Xã hội tương đối ổn định, nên thiên văn, lịch pháp, nông nghiệp và thủ công đều phát triển mạnh. Về thiên văn và lịch pháp, chữ giáp cốt đã ghi ngày theo can chi, xem mặt trời đo bóng nắng, khắc theo mốc giờ, và ghi nhật thực, nguyệt thực. Lực lượng sản xuất tiến mạnh, trình độ khoa học nâng lên tương ứng. Điều này đem lại điều kiện khách quan cho mầm mống của tư duy khoa học trong Kinh Dịch nảy nở, và mầm phôi của triết lý Kinh Dịch được thai nghén trong bối cảnh như thế.

Tuy nhiên nếu nhìn từ đời Thương, bối cảnh khi ấy là xã hội nô lệ, trình độ sản xuất và khoa học còn thấp, nhận thức của con người còn nhiều hạn chế. Vì vậy quan niệm tôn giáo thần học về chiêm phệ được ghi lại trong Kinh Dịch là điều khó tránh. Người ta khoác lên Kinh Dịch một chiếc áo chiêm bốc, đồng thời mang theo ít nhiều tàn dư của tôn giáo và thần học. Nhưng ông nhận xét rằng bốc phệ trong Kinh Dịch chỉ là một hình thức, còn bốc phệ chính là kết quả của thực tiễn xã hội, tình hình sản xuất thực tế và việc quan sát hiện tượng tự nhiên thời ấy. Cho nên nếu bỏ lớp áo ngoài bằng bốc phệ đi, bên trong sẽ thấy tỏa ra những màu sắc lấp lánh, và đó chính là giá trị của Kinh Dịch.

Nhìn từ một góc khác, Kinh Dịch tuy khoác áo bốc phệ, nhưng lời bốc phệ lại có những nội dung phản bác quỷ thần. Điều đó cho thấy thực tế Kinh Dịch không phải là sách chiêm bốc thuần túy. Tóm lại, về hình thức nó là sách chiêm phệ, nhưng về nội dung nó ghi nhận thực tế sản xuất và nghiên cứu khoa học của xã hội Ân Chu. Nó ấp ủ mầm của văn hóa thời kỳ đầu Trung Hoa, là thủy tổ của văn hóa, triết lý và tư duy khoa học thời đầu.

Dịch truyện trong buổi Bách gia đua tiếng

Dịch truyện gồm mười thiên: Thoán thượng, Thoán hạ, Tượng thượng, Tượng hạ, Hệ từ thượng, Hệ từ hạ, Văn ngôn, Thuyết quái, Tự quái, Tạp quái. Các thiên lần lượt được soạn thành sách từ thời Xuân Thu đến giữa Chiến Quốc. Lúc ấy dụng cụ bằng sắt được dùng, lực lượng sản xuất tiến mạnh, trình độ công nghiệp và nông nghiệp không ngừng nâng cao, kinh tế phồn vinh. Những trào lưu tư tưởng mang màu sắc phong kiến nổi lên mạnh mẽ. Xã hội của Bách gia chư tử bắt đầu sôi động, học thuật nơi nơi đua tiếng, Nho gia, Lão học, học phái âm dương ngũ hành đều phát triển rầm rộ. Một thời kỳ lực lượng sản xuất cao như thế kéo theo tư duy khoa học và quan niệm triết lý phát triển, và Dịch truyện ra đời trong bối cảnh đó.

Những người biên soạn Dịch truyện tiếp nhận quan niệm âm dương ngũ hành đương thời và tư tưởng của Bách gia chư tử để chỉnh lý, hoàn thiện tác phẩm nổi tiếng này. Qua Kinh Dịch, Dịch truyện phát huy mạnh tư duy triết lý và khoa học đương thời, tổng kết thành tựu triết học từ thời Tiên Tần. Cuối cùng Kinh Dịch lột bỏ chiếc áo chiêm phệ, đăng quang ở ngôi báu đứng đầu các tác phẩm cổ điển Trung Hoa. Nhờ đó Chu Dịch thăng hoa thành bộ sách vĩ đại tổng hợp kiến thức triết học, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, thành kiệt tác bất hủ của văn hóa Trung Hoa, tạo tiếng vang và thúc đẩy mạnh khoa học, kỹ thuật và văn hóa suốt bao năm.

Bốn nguyên lý cơ bản của Chu Dịch

Cả bộ sách có thể gói vào bốn câu ngắn, mỗi câu như một chiếc chìa khóa cho một ngăn tủ khác nhau.

Một âm một dương gọi là đạo

Quan niệm một âm một dương gọi là đạo thể hiện rõ nét trong quan niệm âm dương của Chu Dịch, và là một quan niệm mới mẻ. Tác giả gọi nó là cột trụ chính đứng giữa dòng Dịch thuyết, là nguyên lý triết học cơ bản của Dịch thuyết, và là nguyên tắc cơ bản trong kết cấu sáu mươi bốn quẻ. Một âm một dương thể hiện quan hệ thống nhất của các mặt đối lập. Trong Chu Dịch, quan hệ này hiện ra ở những lời trình bày về quẻ và hào từ đối lập, và ở các đồ hình hào âm, hào dương. Ký hiệu nét đứt là hào âm, nét liền là hào dương, và sự biến hóa của sáu mươi bốn quẻ chính là sự biến hóa của một hào âm và một hào dương.

Đạo, theo ông, là quy luật. Chu Dịch bàn đến một âm một dương gọi là đạo để nói rằng biến hóa của khí âm khí dương chính là quy luật cơ bản của vũ trụ. Chu Dịch còn nêu nguyên lý cương nhu đẩy nhau mà sinh ra biến hóa, và âm dương hợp đức thì cương nhu mới có hình thể. Ở đây cương và nhu đều mang nghĩa âm và dương, nói lên rằng âm dương là căn nguyên của mọi biến hóa. Nguyên lý âm dương không đo lường được gọi là thần cũng nói rằng hai khí âm dương là gốc rễ của sự vận động trong vũ trụ.

Dịch cùng thì biến, biến thì thông, thông thì lâu

Sự chuyển dịch đến tận cùng thì biến đổi, biến đổi thì thông đạt, thông đạt thì lâu dài. Đây là nguyên lý trích từ Hệ từ, và là mệnh đề quan trọng nhấn mạnh tính biến dịch của vũ trụ. Chu Dịch lấy sự đối lập âm dương làm nền tảng, lấy biến dịch làm hạt nhân, gộp lại thành cơ sở tư tưởng của Chu Dịch. Hai điều ấy, ông gọi, là linh hồn của Chu Dịch, ảnh hưởng vô cùng lớn đến sự phát triển khoa học tự nhiên Trung Hoa.

Có những câu minh họa: cương nhu đẩy nhau, biến hóa ở trong đó. Mặt trời mặt trăng đẩy nhau mà ánh sáng sinh ra. Cương nhu đổi chỗ cho nhau. Một lần khép một lần mở gọi là biến. Biến hóa là cái tượng của tiến và lui, cụ thể là hào âm đổi thành hào dương gọi là tiến, hào dương đổi thành hào âm gọi là lui. Đi lại không cùng thì gọi là thông. Đạo có biến động nên gọi là hào. Tất cả những nguyên lý ấy cho thấy Chu Dịch muốn khẳng định sự vật luôn ở trong trạng thái biến hóa vận động không ngừng, một quan điểm mà tác giả khen là đáng quý. Ngoài ra Dịch còn khẳng định giao cảm là một trong những hình thức chủ yếu của biến dịch, như câu trời đất giao nhau mà vạn vật thông. Thoán truyện của quẻ Thái có câu nhỏ đi lớn lại, tức âm đi dương lại. Thoán của quẻ Quy Muội nói trời đất không giao thì muôn vật không hưng. Thoán của quẻ Hàm nói trời đất cảm mà vạn vật hóa sinh, còn có ý nói nam nữ cảm nhau, đó là cực điểm của đạo cảm.

Sinh sinh gọi là Dịch

Sinh ra rồi lại sinh mãi gọi là Dịch. Chu Dịch khẳng định âm dương đẩy nhau mà sinh hóa ra vạn vật. Ở đây sinh không phải tự nhiên mà có, mà do trời đất giao cảm, như hai câu đức lớn của trời đất là sinh, và trời đất nhân uân thì muôn vật hóa thuần. Ý là nhờ trời đất giao nhau mà vạn vật hanh thông. Đó là cơ sở cho nguyên lý trong tác phẩm đời sau, như Lão Tử nói đạo sinh một, một sinh hai, hai sinh ba, ba sinh vạn vật. Tác giả cho rằng những nguyên lý này cho thấy Chu Dịch đã bộc lộ sự phát triển mới mẻ và cách sinh sản mới.

Ngẩng xem tượng trên trời, cúi xem tượng dưới đất

Nguyên lý thứ tư là ngẩng lên xem tượng ở trời, cúi xuống xem tượng ở đất, gần thì lấy thân mình, xa thì lấy mọi vật. Chu Dịch có thể thể hiện công việc của trời đất và thông được đức của thần minh, và khả năng đó đến từ việc quan tượng, tức quan sát các tượng. Các lời Dịch truyện như người quân tử xem tượng mà ngẫm lời, trời rủ tượng thì hiện ra lành dữ, trời đất biến hóa thì thánh nhân noi theo, đều nói lên tư tưởng duy vật rất sâu của Chu Dịch, bắt nguồn từ việc quan tượng. Lại có câu quan sát vật và thuộc tính của nó gọi là tượng. Chu Dịch đặc biệt chú ý đến việc noi trời đất mà xem vạn vật, như câu Dịch ngang với trời đất, và câu thấy cái động của thiên hạ mà xem chỗ gặp nhau và thông nhau của nó. Tác giả kết rằng đó là lấy tượng của trời đất mà nhận thức vạn vật, thể hiện vũ trụ quan duy vật của Chu Dịch.

Bốn chữ nguyên, hanh, lợi, trinh

Nếu không đọc được bốn chữ ấy, toàn bộ cuốn sách như một ngôi nhà không có chìa khóa cửa.

Bốn chữ nguyên, hanh, lợi, trinh xuất hiện nhiều lần trong quái từ và hào từ của Chu Dịch. Tác giả cho rằng không nắm được nghĩa của chúng thì khó mà nắm được nội dung toàn bộ tác phẩm, và ông trình bày ba cách giải.

Nói theo thiên đức của quẻ

Thuyết văn nói nguyên là bắt đầu, nguyên là lớn. Nhĩ nhã nói nguyên là đứng đầu. Như vậy nguyên là lớn, là sơ khởi của mọi vật và đứng đầu mọi vật. Theo Tử Hạ ngữ, hanh là thông, lợi là hòa, trinh là chính. Dịch truyện giải thích rằng nguyên là bậc đầu trong các điều thiện, hanh là chỗ hội tụ những điều đẹp, lợi là cái hòa của điều nghĩa, trinh là gốc của mọi việc. Bốn chữ nguyên, hanh, lợi, trinh là thiên đức của các quẻ. Ví dụ ở quẻ Càn, Dịch truyện nói lớn thay đức đầu cả của Càn, muôn vật nhờ đó mà bắt đầu, thấm nhuần cả bầu trời, mây bay mưa rơi mọi vật thành hình lưu chuyển. Đạo Càn biến hóa khiến mỗi vật nhận cái chính và cái mệnh của mình, giữ được khí hợp thái hòa thì mới tốt và chính bền, vượt lên đầu mọi vật, muôn nước đều yên. Ở quẻ Khôn, Dịch truyện nói đến thay đức đầu cả của Khôn, muôn vật nhờ đó mà sinh, thuận theo trời, đất dày chở vật, đức hợp với đức không bờ, rộng rãi sáng lớn, các loại vật đều hanh thông.

Tác giả nhận xét những đặc tính ấy thể hiện thiên đức của các quẻ, thể hiện chân, thiện, mỹ của các quẻ. Vạn vật trong thế giới tự nhiên không có cái nguyên của Càn Khôn thì không sinh ra được, không có cái hanh của Càn Khôn thì không thông đạt được. Lợi là hòa, nói đến hòa bình và cân bằng: vạn vật ngoài việc phải sinh hóa vận động còn cần một mức cân bằng nhất định mới duy trì trạng thái bình thường. Trinh là chính: sự sinh hóa, vận động và cân bằng của vạn vật cần có kỷ luật, cần theo những kỷ cương nhất định thì mới không bị xáo trộn, đó là hàm ý của trinh.

Ông còn nêu rằng bốn chữ này ở mỗi quẻ lấy một đức làm chủ. Ở quẻ Truân lấy đức chứa đầy làm chủ. Ở quẻ Ly lấy đức sáng sủa. Ở quẻ Tốn lấy đức làm gió ban bố mệnh lệnh, theo câu gió nối gió là Tốn, người quân tử nhờ đó mà ban mệnh lệnh đi xa. Ở quẻ Khảm lấy cái đức mềm mại của nước làm chính. Ở quẻ Chấn lấy cái đức chấn động làm chủ. Tất cả nói lên rằng nguyên, hanh, lợi, trinh là sự tổng hợp đức tính của các quẻ. Tóm lại, nguyên là sơ khởi của khí, là nguyên nhân đầu tiên của mọi vật và bao trùm mọi vật. Hanh là sự thông đạt của khí. Lợi là sự cân bằng của khí, vạn vật có lợi mà hòa hợp. Trinh là kỷ cương của khí, vạn vật cần có trinh mà bền vững.

Nói theo việc cúng tế

Theo cách giải thứ hai, trong lời kinh, nguyên là lớn, hanh là hưởng, tức tế lễ, lợi là lợi ích, trinh là chiêm hỏi. Nếu bài bói gặp các chữ nguyên, hanh, lợi, trinh thì quẻ ấy bảo ta phải làm lễ tế lớn và có lợi cho việc chiêm hỏi. Nếu bài bói gặp các quẻ như Càn, Khôn, Truân, Nhu, Lâm, Tụy thì bốn chữ ở đó báo điềm lành, có thể làm lễ tế. Còn ở các quẻ như Tỉnh, Quy Muội, Bác thì bốn chữ ấy báo tin xấu, gặp rắc rối cần lưu tâm.

Nói theo đức của con người

Theo cách giải thứ ba, Văn ngôn truyện nói:

Nguyên giả, thiện chi trưởng dã. Hanh giả, gia chi hội dã. Lợi giả, nghĩa chi hòa dã. Trinh giả, sự chi cán dã.

Nghĩa là nguyên là đức lớn nhất trong các điều thiện, hanh là gom mọi điều đẹp, lợi là hòa mọi điều nghĩa, trinh là gốc của mọi việc. Người quân tử mang đủ nhân thì đủ sức làm bậc lớn lên, gom điều đẹp thì hợp thành lễ, biết cái lợi là hòa được các điều nghĩa, giữ vững trinh thì làm tròn bổn phận. Người quân tử thấu được bốn đức ấy chính là có đức nguyên, hanh, lợi, trinh của quẻ Càn, và đó là bàn về bốn đức của bậc quân tử: nhân, nghĩa, lễ, trí.

Như vậy nguyên có nghĩa là nhân, mà Nho gia lấy chữ nhân làm căn bản, nên nhấn mạnh đức nhân của nguyên. Hanh là cội của lễ, lợi chỉ cái nghĩa, và trinh là bản chất của chính. Người ta có thể vận dụng bốn chữ này để giải thích các quái từ và hào từ. Tác giả kết rằng Chu Dịch là một tác phẩm triết học đồ sộ, tinh túy và sâu xa, mấy nghìn năm qua luôn ảnh hưởng rất lớn đến triết học, khoa học tự nhiên và khoa học xã hội Trung Hoa, thực sự xứng đáng giữ vị trí số một trong các tác phẩm ảnh hưởng đến văn hóa Trung Hoa và phương Đông.

Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 1 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện