Bài tổng quan
Thủy pháp: nước đến từ hướng nào mới sinh phúc lộc
Một hướng nước, nơi này khen là quyền cao chức trọng, nơi kia chê là họa khôn lường, và ngay trong một cuốn kinh cũng có khi nói ngược nhau. Muốn biết nước nào đem phúc, nước nào đem họa, người xưa chẳng tin vào một lời mà lần theo thế sinh vượng của dòng chảy, từng hướng, từng cung. Rồi những quy luật lạ lùng về chuyện nước trái sang phải, phải sang trái dần hiện ra...
Mục lục · 15 phần
- 01Cùng một hướng nước, hai lời cổ nhân nói ngược hẳn nhau
- 02Những cách hiểu lệch về hướng nước
- 03Quý nhân tam hợp liên châu: nước theo lối tam hợp thì tiền về
- 04Lộc Tồn cách: nước chảy đi trên hướng dương cục
- 05Thủy thượng ngự nhai: nước chảy đi trên hướng âm cục
- 06Tứ Tham Lang cách: bốn dòng nước đưa nhà lên đại phú đại quý
- 07Kỳ tinh quá độ: khi thuận thế hóa thành nghịch thế
- 08Lộc và Mã: chỗ ngựa dừng, chỗ lộc đến
- 09Chính ấn Lộc Mã: hướng nào đón nước ở cung nào
- 10Song sơn, tam hợp và Huyền Không thực ra là một
- 11Thư hùng giao cấu: nước đến mộ thì huyệt này cát
- 12Thoát long tựu cục: khi quan khiếu không thông, bỏ mạch mà theo nước
- 13Lập hướng cho tứ duy, tứ mạnh và tứ chính
- 14Giám hương thủy pháp: nhìn thế nước để biết chủ nhà cát hung
- 15Cát đến trước hay hung đến trước, và chuyện một bước ba năm
Cùng một hướng nước, hai lời cổ nhân nói ngược hẳn nhau
Cách xem dòng nước trong thuật địa lý chưa bao giờ có một tiếng nói chung. Nguồn này nói một đằng, nguồn kia nói một nẻo, và người học nếu cứ tin cuốn nào đọc trước thì rất dễ lạc đường.
Lấy hai hướng Canh và Thân làm ví dụ. Có tài liệu ghi rằng huyệt nào quay mặt về Canh, Thân thì chủ quyền cao chức trọng, vinh hoa uy vũ, đi đâu cũng có kẻ hô người ủng. Một thiên khác lại viết rằng nước mà chảy vào hai hướng ấy thì nhất định gặp hình phạt khốc liệt, họa không lường nổi. Hai lời ấy đứng cạnh nhau, người đọc chẳng biết nghe bên nào.
Đỗ đạt sớm, nổi danh sớm là nhờ nước từ hai hướng Dần, Thân chảy tới. Nhưng nước từ Dần, Thân chảy tới thì trách sao được bệnh tật triền miên.
Điều kỳ lạ là hai câu vừa dẫn lại nằm trong cùng một cuốn kinh: đoạn đầu khen hết lời, đoạn cuối chê hết lời, cũng về một đôi hướng. Vì vậy không thể chỉ bám vào một nguồn rồi coi đó là chân lý. Người học phải biết gạn lọc, đối chiếu, giữ cái hợp lý và bỏ cái mâu thuẫn.
Điểm chung mà các nhà phong thủy, ngũ hành đều đồng ý là phải quan sát kỹ Long mạch và hướng nước, xem đó là nơi sinh cơ cát tường hay là nơi khí chết. Nước từ phương sinh khí chảy tới thì lành, nước từ phương tử diệt chảy tới thì dữ. Còn rốt cuộc nước từ phương nào đến thì hợp với từng thế đất, đó là chuyện có tiêu chuẩn hẳn hoi chứ không phải tùy hứng.
Những cách hiểu lệch về hướng nước
Thời nay phần đông chưa nắm vững cách chọn và dùng thủy pháp. Có người nhìn thế núi đi hướng nào rồi suy ra nước phải chảy hướng ấy; có người lấy sơn Nhâm hướng Bính, rồi giải bằng chuyện Nhâm thủy sinh ở Thân; có người giải sơn Quý hướng Đinh bằng chuyện Quý thủy sinh ở Mão. Lại có người cho rằng Hợi, Nhâm, Tý, Quý đều từ vị trí Thân mà sinh ra. Một số khác chỉ nhìn hình dáng Long mạch để bàn khí vượng hay suy, bỏ qua hẳn hướng đi của sơn mạch.
Hai mươi bốn sơn, hai mươi bốn hướng, mỗi người giải theo ý mình, nên chuyện phúc lộc hay tai họa nói ra đều thiếu chỗ dựa vững. Gốc của mọi nhầm lẫn là chưa thông suốt quan hệ giữa phương hướng của sơn với phương hướng của thủy. Để gỡ chỗ rối ấy, người xưa dẫn ra bài thủy pháp truyền thật của Tư Mã Đầu Đà.
Quý nhân tam hợp liên châu: nước theo lối tam hợp thì tiền về
Bài ca của Tư Mã Đầu Đà mở đầu bằng một dãy phương vị: Ất, Giáp, Cấn kiêm Đinh, Bính, Tốn, Tân, Canh, Khôn cùng với Quý, Nhâm, Càn. Câu kết của đoạn ấy nói rằng nước làm quý nhân và ba nơi hợp lại thành một chuỗi châu thì tiền bạc kéo đến như ý.
Lời giải thích kể như sau. Giáp và Ất thuộc Mộc; Giáp là dương, Ất là âm. Sáu cách cục Càn, Giáp, Đinh, Hợi, Mão, Mùi có nước chảy từ bên trái sang bên phải là dương thủy, còn nước chảy từ bên phải sang bên trái là âm mộc. Dương thủy khởi sinh ở Hợi rồi tới Lâm Quan ở Dần; âm mộc khởi sinh ở Ngọ rồi tới Đế Vượng ở Dần. Cấn và Dần cùng chung một cung, nơi ấy vừa là Lâm Quan vừa là Đế Vượng, tức là chỗ sinh ra quý nhân. Bởi thế mới có câu quý nhân đều từ chỗ sinh vượng mà đến.
Ba phương nối liền nhau như vậy gọi là tam hợp liên châu. Nước chầu về hướng quan vượng thì tài lộc tụ hội, nhà phát tài nhanh. Các cách khác cứ thế mà suy. Có một nguyên tắc chung: những cục dương đều chọn nước chầu về chỗ Lộc, những cục âm đều chọn nước chầu về chỗ Vượng. Khi nói đến Cấn, Tốn thì đã gồm luôn bốn vị Dần, Thân, Tỵ, Hợi, các hướng khác cũng suy ra như thế.
Lộc Tồn cách: nước chảy đi trên hướng dương cục
Nước thoát đi (khứ thủy) của những hướng thuộc dương cục được bài phú kể như sau: Tân tiến vào cung Càn thì nhà có hàng vạn trang viện; Quý quy về Cấn thì nổi tiếng văn tài, danh vang đi xa; Ất tiến vào Tốn thì làm quan lớn hiển hách; Đinh tiến đến Khôn thì vàng ngọc đầy nhà. Nếu ao hồ vốn có dáng như con rắn dài nằm ngủ mà đổi được thành dáng rồng lớn nằm ngủ, thì Tân Dậu (gà ngọc) và Tân Mão (thỏ ngọc) sẽ ứng ngay lúc ấy mà ban điềm lành. Thầy địa lý nào hiểu rõ tám phép kỳ lạ này thì đời sau con cháu đều thành bậc công khanh.
Với loại hướng thuộc thiên can ở bốn cung mộ, điều tốt nhất là nước từ bên trái chảy sang bên phải. Như thế khí diệt tuyệt được tán thoát đi, phúc lộc còn ở lại, mọi việc cát tường. Tuyệt đối không để nước đi theo chiều ngược, từ phải sang trái, vì khi ấy dòng nước xung vào mồ mả và gây họa cho người trong nhà. Các hướng Thìn, Tuất, Sửu, Mùi cũng theo đúng lẽ ấy.
Thủy thượng ngự nhai: nước chảy đi trên hướng âm cục
Với những hướng thuộc âm cục, nước đi theo một lối khác. Sơn Càn gặp nước Tốn thì sinh quan lớn nơi triều đình, dù nước đến hay nước đi cũng vậy. Có một điều cấm kỵ nặng: nước không được chảy về hướng Thìn, Tỵ, nếu không thì đàn ông cô độc, đàn bà hóa góa, cả đời nghèo khó.
Sơn Khôn gặp nước Cấn thì nhà giàu, ra làm quan thì thanh liêm cao khiết; nhưng nước tuyệt đối không được chảy về hai cung Sửu, Dần, nếu không bệnh tật kéo dài và đau đớn. Sơn Cấn gặp nước Khôn thì sinh bậc đại phú, châu ngọc đầy nhà; nhưng hai cung Thân và Mùi không được gặp nhau, nếu không ruộng vườn nhà cửa tiêu hết, con cháu bị diệt tuyệt.
Nước ở cung Tốn chảy sang cung Càn thì Kim với Thủy tương sinh, vừa giàu vừa sang. Nước chảy về Tân, Tuất, Hợi, Nhâm thì lần lượt gặp hỏa tai, thủy tai, phải bỏ quê đi kiếm ăn nơi xa.
Với bốn hướng tứ duy cần đặc biệt lưu ý: nước phải chảy thẳng chứ không được uốn lượn. Nước chảy thẳng ra ngoài trăm bước thì sinh quan lớn; nước từ bên phải sang bên trái, hoặc ở bốn phương Dần, Thân, Tỵ, Hợi, cũng tính như vậy. Còn bốn hướng tứ mạnh thì nước phải hơi uốn lượn. Điều cần nhớ: dù ở tứ duy hay tứ mạnh, nước từ trái chảy sang phải đều là hung và làm hao tài lộc. Trong sơ đồ Lạc Thư, số Bốn và số Sáu có số Bốn thuộc Kim, số Sáu thuộc Thủy, nên mới nói Kim Thủy tương sinh.
Tứ Tham Lang cách: bốn dòng nước đưa nhà lên đại phú đại quý
Các hướng Tốn, Canh, Quý (kiêm Càn), Giáp, Đinh, Tân, Bính cùng với Khôn, Nhâm, Ất, nếu được loại nước kể trên thì gọi là Tứ Tham Lang, đem lại đại phú đại quý cho cả gia đình.
Lời chú giải cho biết đây là bàn về bốn hướng chính. Nước từ bên trái chảy sang bên phải chính là Tham Lang. Nước chảy tới bên mộ rồi sau đó mới chảy đi, nên người xưa lấy đó mà đặt tên là cách Tứ Tham Lang.
Kỳ tinh quá độ: khi thuận thế hóa thành nghịch thế
Dương cục, xuất phát từ Mộc Dục rồi đặt mộ. Càn, Quý, Khôn, Tân chính là Kỳ tinh; Cấn, Ất, Tốn, Đinh là các vị tinh tú ở trạng thái đi qua. Khi Kỳ tinh gặp tinh tú quá độ thì thế thuận biến thành thế nghịch; nếu đang làm quan trong triều thì sớm bị cách chức, không lợi.
Đối với tứ duy, trước hết phải nghiêng về phía sau để lập hướng nghịch. Hướng thuận thì đặt mộ ở bốn vị trí Tân, Đinh, Ất, Quý, dùng nước Mộc Dục chảy bên cạnh. Hướng nghịch thì đặt mộ tại Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Đại thể dòng nước phải giống chữ chi và chữ huyền, uốn lượn mà đi, nhờ đó thế thuận và thế nghịch chuyển hóa qua lại muôn hình muôn vẻ.
Lộc và Mã: chỗ ngựa dừng, chỗ lộc đến
Với hướng khúc của dương cục, nước chảy tới phải hợp phép Lộc, Mã. Mã mà ở hướng Càn là Chính Mã, thì phải sang hướng Giáp mà tìm nó; nhưng Mã ở phương Giáp thực ra lại đang dong chơi ở hướng Bính. Cung Càn có phúc lộc cát lợi chân thật khi ba hướng cùng đạt tới, tụ lại với nhau, thì hạnh phúc và tài lộc bền lâu.
Tốn và Tân là Chính Mã, còn Giáp là Chính Lộc. Cấn và Bính là Mã, còn Ất là Lộc. Khôn là hướng Ất, là Chính Mã, còn Bính là Chính Lộc.
Chính ấn Lộc Mã: hướng nào đón nước ở cung nào
Mỗi hướng đều có một cung nước riêng để chầu về.
- Hướng Ất, nước Ất chảy tới vị trí Cấn thì phú quý lầu đài.
- Hướng Tân, nước Tân chảy về cung Khôn, dòng uốn lượn đi ra ngoài trăm bước thì chắc chắn sinh bậc đại quan hiển quý.
- Hướng Đinh, nước Đinh chảy tới cung Tốn mà dòng dài thì làm quan trong triều; dòng ngắn thì phải lấy vợ khác.
- Hướng Quý, nước Quý chảy tới cung Càn, nếu dòng dài thì sinh bậc anh hùng.
Điều đáng để ý là cùng một cặp hướng nước, độ dài của dòng chảy cũng quyết định cát hung: dài thì thăng tiến, ngắn thì có chuyện dang dở trong chuyện vợ chồng.
Song sơn, tam hợp và Huyền Không thực ra là một
Song sơn, Tam hợp và Huyền Không, ba tên gọi ấy vốn chỉ một thứ. Nhìn từ góc độ Long mạch thì gọi là song sơn; nhìn từ góc độ hướng thì gọi là Huyền Không. Long mạch có thế nào thì sinh ra phương hướng ấy, đó là việc của trời đất tạo hóa, con người không đổi được. Nhưng khi phương hướng đã được xác định, người ta không chỉ dựa vào Long mạch nữa mà dùng trí tuệ, mưu lược của mình để điều tiết, từ đó có tên Tam hợp và Huyền Không.
Gọi Tam hợp là vì căn cứ mười hai địa chi của Tiên Thiên bàn mà định bốn cách hợp. Gọi song sơn là vì một cung chứa hai chữ: thiên can và địa chi. Gọi Huyền là nói đến nước, lấy nước làm bộ phận chủ yếu. Gọi Không là vì không còn gì để dựa, cũng không ngoảnh nhìn bản thân Long mạch. Như vậy Huyền Không tức là rời khỏi Long mạch mà dựa vào sự vận hành của thủy thần.
Cho nên nước uốn sang bên trái thì dựa bên trái mà lập hướng, nước uốn sang bên phải thì dựa bên phải mà lập hướng. Dù khí của Âm Mộc và Dương Hỏa khác nhau, hai thứ ấy thực tế dùng chung một huyệt khiếu. Cửa huyền đã mở thông thì sinh cơ, sinh khí tự nhiên mạnh mẽ. Đó chính là Huyền Không.
Thư hùng giao cấu: nước đến mộ thì huyệt này cát
Nếu nước chảy tới Mộ thì huyệt vị ấy là cát. Khi Thể và Dụng, Âm và Dương ở nơi đó đều hợp phép tắc, chắc chắn có cảnh thư hùng giao hòa với nhau.
Bề ngoài sơn là sơn, thủy là thủy, hình như chẳng liên quan. Thực ra Long mạch uốn bên trái phối hợp chặt chẽ với dòng nước uốn bên phải, và Long mạch uốn bên phải phối hợp mật thiết với dòng nước uốn bên trái. Cho nên nước và Long mạch vốn có quan hệ khăng khít. Sinh khí của nước dồi dào thì vượng khí của Long mạch cũng dồi dào, và ngược lại. Khí sinh vượng của Long mạch ở đâu thì khí sinh vượng của nước ở đó. Long mạch và nước gắn liền với nhau.
Từ đó thấy Âm có thể phối với Dương, Dương cũng có thể phối với Âm; Âm Dương cùng quy về Mộ, như đôi vợ chồng ôm nhau thân thiết.
Thoát long tựu cục: khi quan khiếu không thông, bỏ mạch mà theo nước
Trong tình huống quan khiếu không thông nhau, bỏ Long mạch mà tựa vào thủy cục là có căn cứ. Long mạch và thủy cục vốn phối hợp với nhau mà thành đại địa; khi quan khiếu không thông thì không thể dùng quan khiếu để lập hướng, nghĩa là không để ý đến Long mạch. Bỏ Long mạch gọi là Không, chỉ dựa vào cửa nước gọi là Huyền. Hai chữ Huyền Không đại thể do đó mà ra.
Nếu dựa vào Huyền Không để lập hướng thì ba mặt Sinh, Vượng, Mộ tuy trên Long mạch không khớp nhau, nhưng trên hướng nước lại thành tam hợp trọn vẹn. Trong bốn mươi tám cục, chọn Quan, Huyền, Khiếu làm tam hợp là sai. Tuy có thể bỏ Long, nhưng không thể thoát khỏi mạch, cho nên phải biết tránh các mạch hung sát.
Lập hướng cho tứ duy, tứ mạnh và tứ chính
Càn, Khôn, Cấn, Tốn là bốn hướng Duy. Dần, Thân, Tỵ, Hợi là bốn hướng Mạnh (mạch). Cả hai nhóm đều hợp với nước từ bên phải chảy sang bên trái. Nếu nước bên trái chảy sang bên phải thì trước hết phải thả nước Mộc Dục đi trước. Nếu nước bên trái chảy sang phía Mộ thì càng tốt. Còn nước bên trái chảy sang bên phải thì nhà ắt nghèo khó. Người xưa nói: nước xung phá nơi sinh khí thịnh vượng thì hậu quả đáng sợ.
Các hướng Ất, Dần, Đinh, Quý, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là phương hướng của thiên can và địa chi nơi tứ Mộ, đều hợp với nước từ trái sang phải. Nếu nước đảo chiều từ phải sang trái thì người trong nhà thưa dần và tuyệt tự. Câu cổ ngữ nói rằng khí hung sát ở bên Mộ xung phá, đè bẹp khí sinh vượng thì người nhà làm sao chịu nổi, chính là chỉ tình huống này.
Còn Giáp, Bính, Canh, Nhâm, Tý, Ngọ, Mão, Dậu là các hướng của thiên can và địa chi nơi tứ Trọng, cũng gọi là tứ chính. Với nhóm này nước chảy sang trái hay sang phải đều được, nhưng phải chảy tới góc phía sau mới tốt; không được chảy tới góc trái phía trước, vì như vậy sẽ xung phá tài lộc và nhân đinh.
Giám hương thủy pháp: nhìn thế nước để biết chủ nhà cát hung
Việc xác lập phương hướng của nước hoàn toàn dựa trên sự quan sát, phân biệt chính xác thế chuyển động cụ thể của nước. Khi đã rõ nước đến từ đâu, nước đi về đâu, hình thế là uốn lượn hay đâm thẳng, thì cát hung họa phúc của chủ nhân cũng rõ.
Sau khi Long mạch nhập cục, phải quan sát Long mạch ấy đơn thuần hay phức tạp. Nước chảy tới uốn lượn thế nào cũng phải hợp quy củ. Nếu khí sinh vượng dồi dào, nước có sinh cơ mạnh từ trong Mộ chảy thẳng ra thì nơi ấy hưng vượng, con cháu hưởng may mắn.
Nếu cửa nước hợp với phương hướng thì không cần câu nệ hướng âm hay hướng dương; thư hùng giao cấu thì cũng khỏi bận tâm về hướng. Nếu Huyền hợp với Khiếu thì vẫn thu nạp được sinh cơ và trừ được sát khí. Sau khi khí nhập huyệt, tiết thứ nhất chủ về một đời con cháu của người đã khuất; nếu hợp, đời đó đại phú đại quý. Tiết thứ hai hợp thì đời kế cũng đại phú đại quý. Mỗi tiết chủ vận của một đời, các tiết phía sau cũng như vậy. Tiết nào không hợp thì đời ứng với nó nghèo khó khốn khổ. Vì thế khi chôn cất cùng một người, con cháu có đời hưng vượng, có đời suy bại: tiết nào thuần phác rõ ràng thì đời ấy thịnh, tiết nào tạp loạn thì đời ấy khổ.
Cát đến trước hay hung đến trước, và chuyện một bước ba năm
Liêu Toàn Tĩnh nói rằng điềm lành thường cao mà điềm dữ thường thấp; điềm lành thì gấp, điềm dữ thì hoãn. Nếu cát tường như ý đến trước thì cát tường là điều chắc chắn; nếu hung thần ác sát đến trước thì họa sẽ đến liên tiếp.
Quản Lộ có hỏi: ba năm một bước là căn cứ vào đâu để luận? Một bước ba năm là căn cứ vào lý số gì? Lời đáp: nếu hơi thở của vận may theo kèm thân thể thì trăm mạch đều vinh hoa quý hiển; nếu không có vận may kèm theo thì trăm mạch rối loạn, vạn sự không như ý.
Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 2.
