Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Đạo Gia

Bài tổng quan

Long, huyệt, sa, thủy: năm chữ dựng nên bức tranh Loan Đầu

Đạo Học - Đạo Gia07/10/202615 phút đọc0 lượt đọc
Long, huyệt, sa, thủy: năm chữ dựng nên bức tranh Loan Đầu

Trong mắt người xem đất, những quả đồi nhấp nhô là một con rồng đang uốn mình, còn ngọn núi nhỏ trước nhà là cái bàn đặt trước chỗ vua ngồi. Mỗi tên gọi ấy đều mang một lý lẽ của riêng nó. Và lý lẽ ấy xoay quanh một thứ không thể nhìn thấy…


Đoán chỗ ở bằng hình và thế của đất

Phái Loan Đầu xem nơi ở chủ yếu dựa vào hình và thế của cuộc đất. Cách xét có hai lối. Lối thứ nhất xuất phát từ một hình thế cụ thể, dùng phép loại suy để chọn phương hướng và vị trí có giá trị, rồi phán cuộc đất ấy tốt hay xấu. Lối thứ hai xét tốt xấu của cả quần thể cuộc đất; nó bao hàm lối thứ nhất, nhưng chủ yếu tìm hướng và vị trí của nhà (hay mồ mả) từ mối quan hệ với toàn thể, rồi mới kết luận cát hung hoặc điều cấm kỵ. Lối sau được coi là mô thức hình thế mang tính chỉnh thể.

Phép loại suy mà Loan Đầu dùng chịu ảnh hưởng vũ trụ quan truyền thống: mọi vật đối ứng và cảm ứng với nhau, và tính chỉnh thể ấy là biểu hiện của vũ trụ quan xưa. Đối tượng cần đoán gồm ba loại: nhà ở, phần mộ và hoàn cảnh chung quanh, mà phức tạp nhất là hoàn cảnh do thiên nhiên tạo nên.

Con rồng nằm trong những quả đồi

Thiên nhiên với những đồi núi nhấp nhô cao thấp đổi thay không ngừng được người xem đất gọi là Sơn Long, nói gọn là Long, con rồng. Chữ Long không chỉ là tên riêng của nghề, mà là khái niệm lớn của văn hóa cổ đại Trung Hoa. Rồng là một vật thần dị, giỏi biến hóa, làm mưa làm gió, thuộc loài có vảy. Người xưa thường ví người tài kiệt xuất với rồng, điển hình là ví các bậc đế vương. Long còn là tên một ngôi sao, và chỉ cả sao Thái Tuế. Hình dạng thật của rồng chưa ai thấy tận mắt nên càng thêm thần bí. Rồng biến ảo vô thường, uy lực cực lớn, giống như mặt đất rộng lớn: từng cuộc đất tuy nhìn ra được nhưng thiên biến vạn hóa, không cuộc nào giống cuộc nào.

Hình thế đất quanh co, nhấp nhô, đổi thay hợp với dáng vẻ con rồng trong quan niệm truyền thống, nên người xưa dùng Long để tượng trưng cho hình thế sông núi. Mạch núi trong tự nhiên tương ứng được gọi là Long mạch. Khí thế và hình tượng khác nhau của đất có tác dụng quyết định khi chọn nơi ở, điều người ta cảm nhận trực tiếp được dù khó giải thích bằng lời.

Sơn mạch là tên gọi chung của một dải núi non, phạm vi khá rộng; trong nghề địa lý nó cũng chỉ một ngọn núi trong phạm vi hẹp. Hướng chạy của núi là hướng đi của long mạch. Câu quen thuộc “Lai long khứ mạch”, rồng đến mạch đi, chỉ đầu đuôi ngọn ngành, có lẽ bắt nguồn từ nghề này. Ngọn núi chủ thể tạo nên sơn mạch là “Chủ mạch”, từ chủ mạch tỏa ra các núi khác gọi là “Chi mạch”. Người xưa ví chủ mạch như thân cây, nên chia long mạch thành “Đại can” (cành lớn), “Tiểu can” (cành nhỏ), “Tiểu chi” (nhánh nhỏ).

Dòng dõi của núi và thứ bậc trong gia tộc

Núi cũng có ông bà cha mẹ, và cách người xưa sắp xếp họ giống hệt cách bày bàn thờ trong một nhà.

Nếu các cành nhánh ấy nối nhau theo quan hệ tương sinh, thì đó là thứ trật tự vũ trụ quan cổ rất coi trọng. Nơi khởi nguồn của long mạch gọi là “Tổ sơn”; từ Tổ sơn đi theo hướng mạch có “Thiếu tổ sơn”, còn nguồn gốc chính là núi Côn Lôn, núi tổ của long mạch trên mặt đất. Cách loại suy này sắp xếp hình thế núi non theo thứ tự, và thứ tự ấy chính là luân lý tông pháp truyền thống. Nhờ vậy đất đai đối ứng được với xã hội. Trong sách Phong Thủy, các mối liên hệ giữa núi đồi được bày như thứ bậc bài vị trong nhà thờ tổ.

Nhiều người Trung Hoa không biết địa mạch là gì, nhưng ai cũng rõ quan hệ tông pháp trong họ mình, và đó là biểu hiện của Phong Thủy đã thế tục hóa. Nghề rất coi trọng vị trí và tác dụng của Thiếu tổ sơn. Thái tổ sơn thường quá xa nơi ở nên tác dụng thực tế không lớn, giống như trong gia tộc: Thái tổ là ông cố, Thiếu tổ là ông nội, bậc tổ càng gần con cháu thì quan hệ càng mật thiết. Từ đó thấy cách giải thích thiên nhiên của nghề vừa có tính chỉnh thể, vừa đi sâu vào đời sống thường ngày.

Tầm long, tróc mạch, điểm huyệt

Hành động xét hình thế đất gọi là “Tầm long tróc mạch” (tìm rồng bắt mạch) hay “Tầm long vọng thể”. “Tầm long” là tìm ra Tổ sơn; “Tróc mạch” là dựng lại thứ tự mạch lạc trong thế núi tự nhiên. Vì địa hình biến hóa vô cùng nên phải “tầm” và “tróc” mới nắm được mạch lạc. Cách làm này phản ánh nhận thức về mô thức tương sinh của vũ trụ và lối tư duy hệ thống có tính chỉnh thể.

Trong nghề, núi là nhân tố quan trọng nhất của hoàn cảnh nhà ở. Ngọn núi gần nhất gọi là “Long sơn”, “Chủ sơn” hay “Trấn sơn”. “Chủ sơn” gọi theo mô thức tổ tông tương sinh, cũng là chủ nhân của ngôi nhà, là bản vị; còn “Trấn sơn” chỉ uy lực của Long, bảo chứng cho chất lượng Phong Thủy của âm trạch hay dương trạch. Có Long sơn mới có chỗ tham chiếu để tầm long mạch.

Núi là phần thiên nhiên tạo nên, nhưng muốn có mô thức hoàn chỉnh cho nơi cư trú còn phải xét thêm “Thủy”, nước. Núi và nước kết hợp nên “huyệt” (trong Táng thuật còn gọi “Táng khẩu”). Giống huyệt trên thân người, huyệt là chỗ trọng yếu của kinh mạch, liên hệ mật thiết với sinh mạng. Trong Phong Thủy, huyệt cũng là chỗ trọng yếu của long mạch: nơi tựa vào núi (kháo sơn), quay mặt ra nước. Tùy hình thế núi và hình thế nước mà huyệt chia ra tốt xấu. Việc chọn huyệt gọi là “Điểm huyệt”, có lẽ mượn từ ngôn ngữ y học cổ truyền. Mục đích chọn nơi ở hay nơi an táng tiên nhân là đạt đến điểm huyệt, và muốn điểm huyệt phải nhận rõ long mạch, nếu không thì không dựng được mô thức tương tác có trật tự. Bởi vậy nghề còn nói “Tầm long điểm huyệt”.

Huyệt còn được gọi là “Minh Đường”. Minh Đường vốn là công trình dùng để tế lễ, ý nghĩa quan trọng nhất của nó là trung chính. Phong Thủy đưa hoàn cảnh tự nhiên của nơi ở (hay mồ mả) vào trật tự lễ chế, khiến huyệt có giá trị nhân văn. Huyệt là một mô thức hoàn cảnh bao gồm cả núi lẫn nước, phản ánh quan niệm môi trường truyền thống.

Khí: sinh ra vạn vật, dừng ở nước, tụ ở huyệt

Giữa núi và nước có một thứ không thấy được nhưng khiến cả hai ghép lại thành một nơi ở: đó là khí.

Trong việc kết hợp sơn và thủy, khái niệm quan trọng nhất là khí. Theo vũ trụ quan truyền thống, khí sinh ra vạn vật. Táng kinh mang tên Quách Phác viết:

Phù âm dương chi khí, ái nhi vi phong, thăng nhi vi vân, giáng nhi vi vũ, hành hồ địa trung nhi vi sinh khí; sinh khí hành hồ địa trung, phát nhi sinh hồ vạn vật.

Tạm hiểu: khí âm dương thở ra thành gió, bay lên thành mây, rơi xuống thành mưa, chạy khắp trong đất thành sinh khí, và sinh khí ấy phát ra sinh vạn vật. Theo Hoài Nam Tử, hợp khí của trời đất là âm dương, mà khí âm dương lại do khí vũ trụ sinh ra; vậy câu “sinh khí chạy khắp mặt đất” chính là tình huống âm dương sinh vạn vật trên mặt đất. Sinh khí chỉ là tên khác của khí âm dương.

Lý luận về khí chia ra hai trạng thái: “chỉ” (dừng) và “tụ” (tụ lại). Khí cưỡi gió thì tán; gặp nước làm ranh giới thì dừng. Bởi vậy “gặp nước thì dừng” là một mô thức hoàn cảnh, và việc chọn huyệt phải hợp lý luận này. Khí phải dừng mới tụ được, mà muốn tụ trước hết phải chặn được gió, nên người xưa quan niệm núi phải có rừng và nảy ra mô thức bốn bề bao bọc nơi ở. Nơi tốt là nơi bốn phía đất cao hơn, lại có sông nước, mới giữ được khí. Có khí tụ mới sinh sôi vạn vật. Nếu là âm trạch, con cháu sinh ra sẽ nhận dòng khí tụ ấy, vì khí tụ thì có sự sống.

Khí của long huyệt gói trong hai đặc trưng: một là phải liên tục không đứt đoạn, hai là phải tụ. Khí chỉ là khái niệm trừu tượng, nhưng thiếu nó thì lý luận Phong Thủy không có chỗ dựa vững để triển khai lý luận hoàn cảnh chỉnh thể.

Sa, Thanh Long, Bạch Hổ và cách bày một ngôi nhà vua

Bên cạnh “long” và “huyệt” còn có “sa” và “thủy”. Nghĩa gốc của “sa” là cát, đá vụn; trong nghề địa lý nó chỉ đơn vị cấu thành Long. Long là mạch lạc toàn thể địa thế, còn sa là một ngọn núi hay một địa thế riêng lẻ, nhưng không phải ngọn núi nào cũng gọi là sa; nó phải có quan hệ với huyệt mới được gọi vậy.

Các loại long mạch, Tổ sơn, Thiếu tổ sơn đều là núi ở phía sau nơi ở hay mồ mả, ứng với “Lai long khứ mạch”. Sau lưng nhà là “Lai xứ” (chỗ đến). Tất cả núi hay gò ở hai bên trái phải hoặc trước mặt huyệt gọi là “sa”. Núi bên trái huyệt là “Thanh Long sa”, còn gọi Tả Phụ, Tả Kiên, Tả Tý; núi bên phải là “Bạch Hổ sa”, còn gọi Hữu Bật, Hữu Kiên, Hữu Tý. Thanh Long, Bạch Hổ là tên hai trong bốn loài thú của Tứ tượng, dùng gọi sa với ý ví von tình tứ. Huyệt tượng trưng cho tiểu vũ trụ; “Hữu Bật” cũng là tên sao, gốc nghĩa mang hàm ý ví huyệt như ngôi vua; Kiên (vai), Tý (tay) là bộ phận cơ thể, ví với thân người. Những tên ấy nói lên rằng vị trí huyệt là “chính vị”, là trung ương, quan trọng nhất.

Có huyệt rồi mới có “Hộ sơn”, núi che chở. Ở hướng chính, hơi gần huyệt, có gò nhỏ gọi “Án sơn” (án là cái bàn), nghĩa là trước chỗ quân chủ ngồi phải có bàn. Xa hơn một chút có núi gọi “Triều sơn”, núi chầu, hàm ý triều bái. Lễ nghi gặp nhau giữa vua tôi hay chủ khách đã được đưa vào cách lập huyệt. Như vậy cách cục đặc trưng của một nơi cư trú tốt rất rõ: ở điểm trung tâm, cũng là Minh Đường, và hình thế bao quanh nên tròn hay vuông, ngắn và cân đối.

Khí tụ lúc ban sơ có hình tròn, đó là mô thức ban đầu của vũ trụ. Hoài Nam Tử nói: đạo trời tròn, đạo đất vuông. Nét đặc biệt của mô thức vuông tròn này ở chỗ vị trí trung chính, cũng là mô thức “vô trung sinh hữu” của vũ trụ, nơi vạn vật manh nha. Cuộc đất bốn mặt chung quanh cao hơn hợp với hình thái tụ. Người có thể tụ lại ở, khí cũng tụ được; gió thổi đến đây được các gò núi cao giấu bớt, không ập vào mạnh mẽ. “Khí theo gió ắt tán”, không tán tức là tụ. Huyệt hình tổ ấm gọi “Oa huyệt”, có thể phát giàu; huyệt cong như cây cung gọi “Tiện huyệt”, nghèo nàn. Oa huyệt tụ khí nên tốt, cung hình huyệt không tụ khí nên xấu; mô thức tụ khí ấy gọi là “Tụ cuộc”.

Âm dương giao hội, ngũ hành của núi và vai trò của nước

Một mảnh đất tụ khí không chỉ tròn đầy mà còn là nơi trái và phải ôm lấy nhau như hai bàn tay.

Sách Thanh Nang Áo Chỉ của Dương Quân Tùng mở rộng thuyết âm dương: con mái là âm, con trống là dương, đó là hai khí; nói trống mái là ví đạo nghĩa vợ chồng; vợ chồng giao kết sinh nam nữ, trống mái giao hợp nuôi dưỡng các loài, đó là nghĩa lớn của trời đất hóa sinh. Âm dương giao hội là gốc sinh khí, nên mô thức Tụ cuộc là hoàn cảnh bên trái bên phải ôm nhau, tức thế âm dương giao hội. Khí xoay trái hay xoay phải bắt nguồn từ hiểu biết thiên văn cổ. Cũng sách ấy viết: khí Trời xoay về trái là dương, khí Đất xoay về phải là âm; như vậy âm dương trái phải của long mạch hòa theo sự vận hành của trời đất.

Long mạch chia âm dương, tất nhiên cũng chia ngũ hành. Trong cách đoán theo hình thế, người xưa chia dáng núi thành năm loại: đỉnh tròn chân rộng là Kim sơn; đỉnh tròn mà thân thẳng là Mộc sơn; núi bằng, nhấp nhô như sóng là Thủy sơn; đỉnh nhọn chân rộng là Hỏa sơn; đỉnh bằng phẳng thanh tú là Thổ sơn.

Loan Đầu còn có phép riêng gọi “Thủy pháp”, xét theo hình thế dòng nước, vì nước có vị trí rất quan trọng. Nhiều câu khẩu quyết nhấn mạnh điều này: “Phong Thủy chi pháp, đắc thủy vi thượng” và “Khí giới thủy tắc chỉ”. Tầm quan trọng của nước nằm ở chỗ huyệt kết thành do núi và nước tụ hợp. Núi có các núi vây hợp, nước có các dòng giao nhau; núi có nguồn gốc tổ tông, nước có dòng thuận nghịch. Nguyên tắc tạo huyệt của sơn và thủy là một. Người ta gọi sơn mạch là Long mạch, gọi dòng nước là Huyết mạch; huyết mạch có nguồn, nhận ra nguồn là biết dòng thuận hay nghịch, hợp với thuyết sơn mạch tương sinh.

Việc phân biệt nguồn Long mạch và Huyết mạch gọi là “Tróc mạch”. “Tam xoa” chỉ nơi ba dòng sông hợp lại, ở đó phải nhận rõ tụ hay tán. Nơi “Long thủ” (đầu rồng) cũng tức là Long sơn; xác định được Long sơn mới xác định được huyệt. Huyệt có khí tụ mới có sự sống, nên trước mặt Long sơn phải có nước. Khí đi theo hình thế tự nhiên, gặp sông nước thì dừng, dừng thì chủ về sống. Gió thổi tán khí, nhưng gặp Long sơn chặn lại giữ lại; đó là ý câu “Khí thừa phong tắc tán, mạch ngộ thủy tắc chỉ”. Trước Long sơn không chỉ cần nước mà cần hai dòng từ trái và phải gặp nhau, như vậy khí vừa được sinh vừa được tụ. Đối với huyệt, nơi dòng nước chảy tới gọi “Thiên môn” (cửa Trời), nơi chảy đi gọi “Địa hộ” (cửa Đất), thống nhất với tên gọi trên la bàn.

Năm thuật ngữ và ba điều rút ra

Long, Huyệt, Sơn, Sa, Thủy là năm thuật ngữ quan trọng nhất của nghề địa lý, và là hệ thống hoàn cảnh để người xem đất đoán định. Từ phân tích trên có thể rút ba điểm.

  • Đối tượng mà năm thuật ngữ chỉ tới tồn tại khách quan. Sơn, Sa, Thủy là đối tượng cục bộ; Long và Huyệt là đối tượng chỉnh thể do sơn, sa, thủy hợp thành.
  • Ý nghĩa tượng trưng của chúng chủ yếu đến từ phép loại suy. Dù không loại trừ phạm trù thiên văn, phạm trù nhân văn chiếm đa số, như các khái niệm Tổ sơn, Thiếu tổ sơn, Triều sơn, Minh đường. Tất cả đều có công năng phán tốt xấu, và Loan Đầu thường dùng hình tượng này để đoán định đối tượng là tốt hay xấu.
  • Quan hệ giữa Long, Huyệt, Sơn, Sa, Thủy là mô thức hóa có tính chỉnh thể của hoàn cảnh thiên nhiên, nguyên lý cấu thành là trật tự tương sinh tương tác. Lý luận này xuất phát từ vũ trụ quan truyền thống mà trọng tâm là khí, nên có thể coi là bức ảnh thu nhỏ của vũ trụ trong thuật Địa Lý. Đặc trưng rõ nhất của nó là “tụ khí” ở chính giữa, tức huyệt, cũng là nơi cư trú.

Phong Thủy lấy mạch khí làm gốc, lấy “sa” làm dụng; khi chọn hoàn cảnh nơi ở, người ta bàn nhiều về sa nên phương pháp chia hình thế núi riêng lẻ còn gọi là “Sa pháp”. Sa pháp và mạch khí liên quan đến hình và thế. Ngoài hình tượng cuộc đất, nghề còn có cách đoán theo thuật số. “Tượng” và “Số” vốn là hai khái niệm đối ứng của Dịch học. Giữa phái trọng Tượng (Loan Đầu) và phái trọng Số (Lý Khí), phái trọng Tượng luôn được tôn trọng và truyền thừa liên tục.

Nguồn: Nguyễn Vũ Anh, Thẩm Thị Huyền Không Học – Phong Thủy Trong Bối Cảnh Kiến Trúc Hiện Đại.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Đạo Gia