Bài tổng quan
Phản ngâm, phục ngâm: hai mươi tám cuộc đất khí quẻ xung đột hay chồng chất
Trong hai trăm mười sáu cuộc khởi tinh, có hai mươi tám cuộc mang một lỗi mà người xem đất sợ hơn cả thướng sơn há thủy. Cái họa ấy không đến từ một nguồn mà từ hai: sao trùng với đất, hoặc sao ngược với đất. Nhưng cũng có một lối thoát mà ít người biết.
Mục lục · 6 phần
Mười hai sơn hướng mang tiếng phản ngâm, phục ngâm
Có người hỏi quẻ phản ngâm, phục ngâm là gì. Thẩm Trúc Nhưng đáp rằng cộng cả hai loại lại có mười hai sơn hướng, rải ra theo từng vận như sau:
- Nhâm Bính và Bính Nhâm của vận 1 và vận 9, vì sao Nhất và sao Cửu cùng về đến sơn và hướng.
- Cấn Khôn, Khôn Cấn, Dần Thân, Thân Dần của vận 2 và vận 8, vì sao Nhị, sao Bát của sơn bay sang hướng, sao Nhị, sao Bát của hướng bay sang sơn.
- Giáp Canh và Canh Giáp của vận 3 và vận 7, vì Tam Thất của sơn đến hướng, Tam Thất của hướng đến sơn.
- Tốn Kiền, Kiền Tốn, Hợi Tỵ, Tỵ Hợi của vận 4 và vận 6, vì song Tứ, song Lục về sơn và hướng.
- Cấn Khôn, Khôn Cấn, Dần Thân, Thân Dần của vận 5, vừa phạm phản ngâm vừa phạm thướng sơn há thủy.
Ông nhận xét họa hại của loại này còn đáng ngại hơn thướng sơn há thủy: phạm vào thì nhà tan người mất.
Lấy vận 1 sơn Nhâm hướng Bính làm mẫu. Nhất Bạch nhập trung cung thì Ngũ bay tới cung Ly. Lại đưa Ngũ vào trung cung bay thuận thì Cửu đến hướng, Nhất đến sơn, và các sao giống hệt hai mươi bốn chữ của địa bàn từng chữ một. Như thế gọi là phản ngâm phục ngâm. Các cuộc khác cứ theo đó mà suy.
Nhớ cho được loại cuộc này không khó, nếu biết gắn mỗi vận với hai cung của nó.
Cách nhớ nhanh và chuyện Ngũ Hoàng nhập trung cung
Có người hỏi cách ghi nhớ. Ông đáp: vận 2, 5, 8 thuộc cung Khôn và Cấn; vận 3, 7 thuộc cung Chấn và Đoài; vận 4, 6 thuộc cung Tốn và Kiền; vận 1, 9 thuộc cung Khảm và Ly. Phi tinh của sơn và hướng mà là Ngũ nhập trung cung đi thuận thì Ly lại gặp Ly, Khảm lại gặp Khảm, tức số của phi tinh giống số của địa bàn: đó là phục ngâm. Nếu đi nghịch thì Nhất đến cung Ly, Cửu đến cung Khảm: đó là phản ngâm. Nhưng đi nghịch thì tất nhiên đã là đáo sơn đáo hướng, nên phân biệt khá dễ.
Hàn Côn Nguyên nêu một mâu thuẫn. Người ta nói cuộc Ngũ Hoàng nhập trung cung là tai họa dữ dội, muôn lần không được chọn làm nhà. Nếu bám vào lời này thì vận Ngũ Hoàng có tới mười hai cuộc, tránh sao khỏi vướng? Ông đáp rằng Ngũ Hoàng nhập trung cung trong lời cảnh báo ấy chỉ phi tinh của sơn và hướng trong mỗi vận, không phải sao Ngũ Hoàng của vận 5. Một khi sao lập cực gặp trường hợp Ngũ Hoàng nhập trung cung và đi thuận, các sao trên tám phương không chữ nào không phạm vào bản cung: Kiền gặp Lục, Đoài gặp Thất, Cấn gặp Bát, Ly gặp Cửu, Khảm gặp Nhất, Khôn gặp Nhị, Chấn gặp Tam, Tốn gặp Tứ. Đi nghịch thì không như vậy. Cho nên cái họa người ta quy cho Ngũ Hoàng nhập trung cung thật ra là họa của phản ngâm phục ngâm.
Người hỏi lại nhắc: lời chú giải trước kia trong "Trạch đoán" có nói về phục ngâm, lệ của nó thế nào? Ông đáp: hễ khí quẻ tụ lại ở bản cung là phục ngâm. Ví dụ sơn Kiền hướng Tốn, sơn Tốn hướng Kiền, sơn Hợi hướng Tỵ, sơn Tỵ hướng Hợi thì phi tinh cung Tốn gặp Tứ; sơn Nhâm hướng Bính, sơn Bính hướng Nhâm thì phi tinh cung Khảm gặp Nhất, đều thuộc loại này. Nhưng cần tra các sao ấy rơi vào cung nào, chiếu theo chỗ lệnh tinh trống hay đầy mà vận dụng, như vậy vẫn có thể hóa hung thành cát.
Một câu hỏi khác về năm tháng: thầy từng nói năm Cửu Tử nhập trung cung thì sơn Tý hướng Ngọ là Ngũ Hoàng hay Nhị Hắc nhập trung; sơn Cấn hướng Khôn là Ngũ Hoàng hay Thất Xích nhập trung; sơn Mão hướng Dậu là Ngũ Hoàng; vì sao vậy? Ông đáp rằng đó là phản ngâm, do phạm vào cung đối nhau. Cửu Tử nhập trung thì Ngũ Hoàng bay tới Tý; Nhị Hắc nhập trung thì Ngũ Hoàng tới Cấn; Thất Xích nhập trung thì Ngũ Hoàng tới Chấn. Những trường hợp này đối với vận không gây trở ngại, chỉ kỵ đúng những năm tháng ngày ấy. Vận không bị trở ngại vì điều quan trọng của vận nằm ở bốn thần của sơn và hướng. Ví dụ vận 3 dùng sơn Mão hướng Dậu: phi tinh của sơn Mão có hai thần của sơn và hướng, phi tinh của hướng Dậu cũng có hai thần của sơn và hướng, hợp lại là bốn thần. Điều tối quan trọng ấy không nằm ở sao của thiên bàn. Ông giải thêm: Mậu Kỷ Kỷ chẳng hạn thật ra chính là Nhâm Tý Quý, tuy không phải Nhâm Tý Quý nhưng hàm chứa khí của nó. Vì vậy năm Nhất Bạch nhập trung cung, Ngũ Hoàng tới Ly thì có thể xem là Nhâm Tý Quý; mà Nhâm Tý Quý là cung đối của Ly, tức lấn vào vị trí của địa bàn, chẳng phải là phản ngâm hay sao?
Tắc Tiên nói rõ thêm: năm Cửu Tử nhập trung cung thì sơn Tý hướng Ngọ là Ngũ Hoàng. Nói cách khác, dựng mộ phần kỵ tọa vào năm, tháng, ngày Ngũ Hoàng; huống hồ tọa Ngũ Hoàng tất kiêm phạm điều kỵ hướng tinh nhập trung cung, nên tránh chọn. Nghĩa này cũng như khi Tứ Lục nhập trung cung thì chớ chọn Tốn.
Hai chữ "phản phục" còn có một nghĩa khác ngay trong lời nói thường ngày, và Dịch kinh nói về nó từ rất sớm.
Phản phục trong lời Dịch và lời Tổ Miên
Ai Hương Khê nhận xét rằng hai chữ phản phục, nói theo lối thông tục, thật ra là sự dễ lật ngược đổi thay. Hào cửu tam của quẻ Kiền viết "chung nhật kiền kiền". Quẻ Kiền thuộc Tam, từ hào Nhị đến hào Ngũ cũng lại là Tam, ba hào ấy làm hỗ quái, và Tam chính là nơi bản cung tụ khí. Khi hào cửu tam của quẻ Kiền biến thành quẻ Đoài, lại có hỗ quái là Tốn; Tốn và Kiền xâm phạm nhau, tức phạm vào cung đối. Nhìn sơn Kiền hướng Tốn của hai vận Tứ Lục thì biết Kiền Tốn là phản phục.
Tổ Miên cho biết có người nói thuyết phản ngâm phục ngâm hơi khác thuyết "Tiên Tý". Ví dụ vận 7 lập sơn Mão hướng Dậu, bài sao thuận tới Đoài được Cửu, nếu Cửu nhập trung cung đi nghịch thì Thất tới Đoài. Lệnh tinh đã đến hướng nên thấy nước. Bát ở Kiền thì đó là phương phục ngâm, vì Bát của thiên bàn gặp Bát của phi tinh. Phương này gặp lúc đắc lệnh thì được phúc rất lớn, nhưng lúc thất lệnh sẽ gặp tai họa, nhiều người chết yểu, trẻ nam đáng lo nhất, vì Bát là Cấn, Cấn là thiếu nam. Còn nếu Bát nhập trung cung, Cửu ở Kiền, Nhất tới Đoài, rồi Nhất nhập trung cung, Cửu tới Kiền thì đó là phục ngâm do thiên bàn sinh ra.
Bạch Hạc Minh tổng kết bằng một đoạn giảng tường tận. Khi bài bố hai sao sơn và hướng có thể xảy ra trường hợp sao của sơn hoặc của hướng gặp Ngũ Hoàng. Hễ Ngũ Hoàng nhập trung cung bay thuận thì các sao còn lại tất nhiên trùng với địa bàn, tức vận tinh trùng lặp với địa bàn: Lục trùng Kiền, Thất trùng Đoài, Bát trùng Cấn, Cửu trùng Ly, Nhất trùng Khảm, Nhị trùng Khôn, Tam trùng Chấn, Tứ trùng Tốn, Ngũ trùng Mậu. Đó là khí cùng loại chồng lên nhau, gọi là phục ngâm. Ngược lại, Ngũ Hoàng nhập trung cung bay nghịch thì các sao đứng sánh đôi với địa bàn một cách trái ngược: Lục vào vị trí Tốn, Thất vào Chấn, Bát vào Khôn, Cửu vào Khảm, Nhất vào Ly, Nhị vào Cấn, Tam vào Đoài, Tứ vào Kiền. Hai khí trái nghịch nằm chung một cung, gọi là phản ngâm.
Ông còn giải thích vì sao Ngũ Hoàng đến cung nào cũng thành phản ngâm. Mỗi vận khi sao nhập trung cung thì Ngũ Hoàng phải dời tới một cung khác:
- Nhất Bạch nhập trung thì Ngũ Hoàng đến cung Ly.
- Nhị Hắc nhập trung thì Ngũ Hoàng đến cung Cấn.
- Tam Bích nhập trung thì Ngũ Hoàng đến cung Đoài.
- Tứ Lục nhập trung thì Ngũ Hoàng đến cung Kiền.
- Lục Bạch nhập trung thì Ngũ Hoàng đến cung Tốn.
- Thất Xích nhập trung thì Ngũ Hoàng đến cung Chấn.
- Bát Bạch nhập trung thì Ngũ Hoàng đến cung Khôn.
- Cửu Tử nhập trung thì Ngũ Hoàng đến cung Khảm.
Ngũ Hoàng vốn ở trung cung; khi thời vận chuyển, các sao lần lượt vào giữa thì vị trí của chúng ở tám phương bỏ trống, và Ngũ Hoàng bay tới thay thế. Bản thân Ngũ Hoàng không chỉ là khí thổ của Mậu Kỷ mà còn mang theo khí của sao đang ở trung cung: Nhất nhập trung thì mang khí Nhất Bạch, Nhị nhập trung thì mang khí Nhị thổ, Tam nhập trung thì mang khí Tam mộc, các cung còn lại cũng thế. Khí mà Ngũ Hoàng mang trái ngược với địa bàn nơi nó bay vào, nên đến cung nào cũng là phản ngâm.
Từ chỗ nguyên lý ấy, có thể đếm được trọn vẹn những cuộc đất mắc lỗi này.
Hai mươi tám cuộc trong số hai trăm mười sáu
Hai mươi bốn sơn hướng bài sao thành 216 cuộc, trong đó 12 sơn hướng chứa 28 cuộc phạm phục ngâm hoặc phản ngâm. Mỗi dòng của bảng nêu cuộc, vận, và phần sao phạm lỗi:
| Cuộc | Vận | Phần phạm |
|---|---|---|
| Nhâm Bính | 1; 9 | Toàn bộ hướng tinh; toàn bộ sơn tinh |
| Bính Nhâm | 1; 9 | Toàn bộ sơn tinh; toàn bộ hướng tinh |
| Cấn Khôn | 2; 5; 8 | Toàn bộ sơn tinh; sơn tinh ở sơn và hướng tinh ở hướng (phản ngâm); toàn bộ hướng tinh |
| Khôn Cấn | 2; 5; 8 | Toàn bộ hướng tinh; hướng tinh ở sơn và sơn tinh ở hướng (phản ngâm); toàn bộ sơn tinh |
| Dần Thân | 2; 5; 8 | Toàn bộ sơn tinh; sơn tinh ở sơn và hướng tinh ở hướng (phản ngâm); toàn bộ hướng tinh |
| Thân Dần | 2; 5; 8 | Toàn bộ hướng tinh; hướng tinh ở sơn và sơn tinh ở hướng (phản ngâm); toàn bộ sơn tinh |
| Giáp Canh | 3; 7 | Toàn bộ hướng tinh; toàn bộ sơn tinh |
| Canh Giáp | 3; 7 | Toàn bộ sơn tinh; toàn bộ hướng tinh |
| Tốn Kiền | 4; 6 | Toàn bộ hướng tinh; toàn bộ sơn tinh |
| Kiền Tốn | 4; 6 | Toàn bộ sơn tinh; toàn bộ hướng tinh |
| Hợi Tỵ | 4; 6 | Toàn bộ sơn tinh; toàn bộ hướng tinh |
| Tỵ Hợi | 4; 6 | Toàn bộ hướng tinh; toàn bộ sơn tinh |
Ngoài lỗi do Ngũ Hoàng nhập trung cung bay thuận hay nghịch gây ra, còn một loại phản phục ngâm nữa: phi tinh trùng với chữ của thiên bàn. Loại này xảy ra ở hai cung tọa và hướng, và cả ở những cung không phải tọa hướng. Ví dụ: sơn Cấn hướng Khôn vận 1 có sơn tinh ở phương Cấn trùng vận tinh, phục ngâm ngay ở hai cung tọa sơn và lập hướng; sơn Khôn hướng Cấn vận 1 thì hướng tinh ở phương Cấn trùng vận tinh, cũng ở hai cung ấy. Còn sơn Tý hướng Ngọ vận 2 có sơn tinh cung Chấn trùng vận tinh, sơn Ngọ hướng Tý vận 2 có hướng tinh cung Chấn trùng vận tinh, đều xảy ra ở những cung không phải tọa và hướng.
Phục ngâm và phản ngâm còn sinh ra ở tinh bàn của quẻ thế kiêm hướng, gọi là tám quẻ thuần. Chúng chỉ xuất hiện khi quẻ thế kiêm hướng của tọa sơn lập hướng nằm ở hai cung Kiền và Tốn, đều trong vận 5, như vận 5 sơn Kiền hướng Tốn (kiêm Tuất Thìn, Tỵ Hợi); sơn Tốn hướng Kiền (kiêm Thìn Tuất, Tỵ Hợi); sơn Hợi hướng Tỵ (kiêm Kiền Tốn, Nhâm Bính); sơn Tuất hướng Thìn (kiêm Kiền Tốn, Tân Ất); sơn Thìn hướng Tuất (kiêm Tốn Kiền, Ất Tân). Ở những cuộc ấy, sơn tinh và hướng tinh của tinh bàn đều phục ngâm cả.
Phần lớn các cuộc phục ngâm, phản ngâm không hẹn mà trùng với thướng sơn, há thủy hoặc thướng sơn há thủy. Những cuộc Cấn Khôn, Khôn Cấn, Dần Thân, Thân Dần, Giáp Canh, Canh Giáp đều đồng thời là cuộc thướng sơn há thủy. Còn Nhâm Bính, Bính Nhâm, Tốn Kiền, Kiền Tốn, Hợi Tỵ, Tỵ Hợi và các cuộc của tám quẻ thuần đều thuộc loại thướng sơn hoặc há thủy. Vì vậy hung họa phản ngâm, phục ngâm thường nổi lên cùng lúc với hung họa của thướng sơn há thủy.
Họa ấy không đến một kiểu duy nhất, mà hiện ra ở ba tình huống khác nhau.
Ba tình huống phạm phản ngâm, phục ngâm
Phạm phản ngâm hay phục ngâm thực chất là khí quẻ xung đột nhau hoặc khí quẻ chồng lên nhau. Biểu hiện chủ yếu có ba loại.
Tình huống thứ nhất: hai phương sơn và hướng cùng phản ngâm hoặc phục ngâm. Hễ trong sơn và hướng có một phương là Ngũ Hoàng thì tất phạm phản ngâm hoặc phục ngâm. Phương có Ngũ Hoàng vốn đã phạm phản ngâm, cộng thêm phi tinh của nó nhập trung cung lại phạm phục ngâm, nên vừa phản ngâm vừa phục ngâm. Phản ngâm là khí quẻ xung đột, tai họa rất ác liệt. Vận 1 Ngũ Hoàng thay Nhất thủy vào cung Ly, xung với Ly hỏa. Vận 2 Ngũ Hoàng thay Nhị thổ vào cung Cấn, xung với Cấn thổ (Mậu và Kỷ thổ, âm dương xung nhau). Vận 3 Ngũ Hoàng thay Tam mộc vào cung Đoài, xung với Đoài kim. Vận 4 Ngũ Hoàng thay Tứ mộc vào cung Kiền, xung với Kiền kim. Vận 6 Ngũ Hoàng thay Lục kim vào cung Tốn, xung với Tốn mộc. Vận 7 Ngũ Hoàng thay Thất kim vào cung Chấn, xung với Chấn mộc. Vận 8 Ngũ Hoàng thay Bát thổ vào cung Khôn, xung với Khôn. Hai khí trái nghịch cùng ở một cung khắc nhau mà thành tai sát, nên Ngũ Hoàng đến cung Bát tất có tai ương lớn. Còn phi tinh của sơn và hướng phạm phục ngâm thì thường trùng với thướng sơn há thủy, tức long thần đặt nhầm vị trí mà hao đinh phá tài. Họa phản ngâm, phục ngâm vì thế là hai họa hợp lại: khí quẻ xung đột cộng với long thần lạc vị. Nếu lại rơi vào phương lập hướng thì càng dễ gây họa.
Tình huống thứ hai: sáu cung còn lại phạm phản ngâm, phục ngâm. Ở sáu cung này khí quẻ chồng nhau, tức có phục ngâm mà không có phản ngâm. Nếu sao đương vận phạm phục ngâm thì không hại mà còn là phúc. Sao thuộc sinh khí phạm phục ngâm cũng không hại, trái lại có lợi. Nhưng các sao thoái khí, suy khí, tử khí mà phạm phục ngâm thì đẩy nhanh sự thoái khí, làm tăng suy khí, nhân nhiều lần tử khí, đã hung lại càng hung, tai họa dây dưa chồng chất.
Tình huống thứ ba: Ngũ Hoàng nhập trung cung bay nghịch khiến một số cung không phải hai cung tọa hướng phạm phản ngâm. Khi ấy cung Ngũ Hoàng cư ngụ là nơi vượng tinh tới, tất có thể phát phúc, nhưng phi tinh của các cung khác có thể xuất hiện phản ngâm. Ngoài ra các tọa hướng Cấn Khôn, Khôn Cấn, Dần Thân, Thân Dần của vận 6 cũng phạm phản ngâm, và đã phản ngâm thì khí quẻ xung đột sẽ gây họa.
Biết ba cách mắc lỗi rồi, câu hỏi còn lại là có đường nào thoát không.
Tránh và hóa giải: cuộc khác, quẻ tam ban, quẻ thế
Cách tốt nhất để khỏi phạm phản ngâm, phục ngâm là chọn cuộc đất khác. Ngoài ra, khi đã phạm mà gặp quẻ tam ban thì sẽ không còn tai họa.
Ví dụ vận 2 sơn Cấn hướng Khôn là cuộc thướng sơn há thủy. Sao Ngũ đáo sơn phạm phản ngâm, Bát Nhị phạm phản ngâm, sơn tinh Nhị phạm phục ngâm, tất cả sơn tinh của sáu cung kia trên phi bàn đều phạm phục ngâm. Đã thế lại là thướng sơn há thủy, nên cuộc này không có gì tốt, dễ sinh hung họa. Nhưng xét kỹ thì toàn bàn hợp thành quẻ tam ban. Ba cung Tốn, Khảm, Đoài mỗi cung đều là Nhất Tứ Thất; ba cung Ly, Chấn, Kiền mỗi cung đều có Tam Lục Cửu; hai cung Cấn và Khôn đều có Nhị Bát Ngũ. Ba cung Ly Chấn Kiền còn hợp thành quẻ tam ban phụ mẫu. Có quẻ tam ban thì không những khỏi họa mà còn được phúc.
Một cách nữa là dùng phép quẻ thế. Nhưng nếu hai cung tọa sơn và lập hướng gặp Ngũ Hoàng thì thường không tìm được quẻ thế, nên ít khi có dịp may.
Phép phân kim của Huyền Không dùng sáu mươi bốn quái hào tiên thiên, đem so với sơn, hướng và phi tinh của trung cung phối quái, để tránh không dùng phải phản ngâm, phục ngâm. Trong ví dụ vận 4 sơn Kiền hướng Tốn: phi tinh của sơn và hướng phối quái ở sơn Kiền ra quẻ Thái, dịch bàn của sơn Kiền gồm các quẻ Thuần Cấn, Khiêm, Bỉ, Tụy; mảnh phân kim ra quẻ Bỉ phạm cuộc phản ngâm nên tránh. Ở hướng Tốn, dịch bàn gồm các quẻ Thuần Đoài, Lý, Thái, Đại Súc; mảnh phân kim ra quẻ Đoài phạm phục ngâm lẫn phản ngâm nên cũng tránh. Trung cung là quẻ Hằng, đem so với sơn hướng của các quẻ Đoài, Lý, Thái, Đại Súc, Cấn, Khiêm, Bỉ, Tụy, nếu phạm phản ngâm, phục ngâm thì nên tránh, không dùng. Các biểu liệt kê sáu mươi bốn quẻ đều dựa trên hai quy tắc sau.
Thứ nhất, hai quẻ có thể quẻ chính đối nhau (gọi là thác quái) thì thuộc quẻ phản ngâm, như quẻ Bác với quẻ Quải, quẻ Hoán với quẻ Phong. Thứ hai, hai quẻ có thể quẻ lật ngược nhau (gọi là tông quái) thì thuộc quẻ phục ngâm, như quẻ Bác với quẻ Phục, quẻ Hoán với quẻ Tiết. Bạch Hạc Minh lưu ý rằng các quẻ Kiền, Khôn, Khảm, Ly, Đại Quá, Di, Tiểu Quá, Trung Phu không có thể quẻ lật ngược, tức không có tông quái.
Nguồn: Nguyễn Vũ Anh, Thẩm Thị Huyền Không Học – Phong Thủy Trong Bối Cảnh Kiến Trúc Hiện Đại.
