Bài tổng quan
Điềm hung của chín sao, đoán lược từng sao và phép dùng theo vận
Một ngôi sao có thể mang đến thần đồng, cũng có thể mang đến chứng câm điếc bẩm sinh. Tất cả tùy nó đứng ở chỗ sinh hay chỗ tử của thời gian. Vậy cùng một ngôi sao, hôm nay nên dùng, mai lại phải tránh…
Khi chín sao dụng ở tử khí: những điềm hung
Ngôi sao nào đang nắm quyền thì mang phúc, nhưng cũng chính ngôi sao ấy, nếu rơi vào tử khí, sẽ gây ra những chuyện ngược hẳn. Các nhà phong thủy Huyền Không đã ghi lại từng sao như sau.
- Nhất Bạch dụng ở tử khí chủ về: câm điếc bẩm sinh; các bệnh ở tai, thận, bàng quang, tinh hoàn, bụng trướng, ống dẫn tinh, niệu đạo, di tinh, buồng trứng, tử cung…; lụt lội, trộm cướp, tửu sắc, không sinh đẻ, sẩy thai, hao người, tài sản lụn bại.
- Nhị Hắc dụng ở tử khí chủ về: các bệnh ở bụng, ngoài da, tỳ vị, sẩy thai; hỏa tai, hình ngục, bị đàn bà hay tiểu nhân hãm hại, tai nạn xe cộ; sinh ra quả phụ, ni cô; hao người, tiền bạc lụn bại.
- Tam Bích dụng ở tử khí chủ về: các bệnh ở chân (bẩm sinh hay về sau), gan, bệnh phát đột ngột; hình ngục, sấm sét, tai nạn xe cộ, hao người, tiền bạc lụn bại.
- Tứ Lục dụng ở tử khí chủ về: bệnh đùi vế, mật, vú, trúng gió, khí; sẩy thai; dâm loạn, tửu sắc, trộm cướp, hao người.
- Ngũ Hoàng dụng ở tử khí chủ về: bệnh tỳ vị, vàng da, ung nhọt, trúng độc; dâm loạn, sản phụ gặp tai nạn, tiền bạc lụn bại, hao người.
- Lục Bạch dụng ở tử khí chủ về: bệnh ở đầu, phổi, xương cốt; trộm cướp, hình ngục, cô độc, tiền bạc lụn bại, hao người.
- Thất Xích dụng ở tử khí chủ về: các bệnh ở miệng, cổ, phổi, đại trường; hao bé gái (chưa tới mười sáu tuổi), hao người làm nữ; trộm cướp, hình ngục, dâm loạn, hỏa tai, tiền bạc lụn bại, hao người.
- Bát Bạch dụng ở tử khí chủ về: các bệnh ở tay, ngón tay, cánh tay, đầu, mũi, xương sống, tỳ vị, thần kinh, gân; hao bé trai (chưa tới mười sáu tuổi), hao người làm nam; tiền bạc lụn bại, hao người.
- Cửu Tử dụng ở tử khí chủ về: các bệnh ở mắt, tim, tiểu trường, tam tiêu; các chứng hỏa, viêm, mất máu, ho ra máu; không sinh đẻ, tuyệt tự; dâm loạn, hỏa tai, tiền bạc lụn bại, hao người.
Hai ngôi sao gặp nhau trong một cung, điềm hung nhân đôi
Khi hai ngôi sao cùng ngồi một cung, người ta không cộng đơn giản mà đọc cả hai gương mặt của chúng.
Hai sao trong chín sao gặp nhau có thể tạo thành tổ hợp chiêu hung. Lấy nhóm sao Nhất làm ví dụ:
- Song Nhất đồng cung có tử khí của sơn thủy: chủ về các hung sự của Nhất Bạch.
- Nhất Nhị đồng cung có tử khí của sơn thủy: chủ về các hung sự của Nhất Bạch và Nhị Hắc.
- Nhất Tam đồng cung có tử khí của sơn thủy: hung sự của Nhất Bạch và Tam Bích.
- Nhất Tứ đồng cung có tử khí của sơn thủy: hung sự của Nhất Bạch và Tứ Lục.
- Nhất Ngũ đồng cung, sơn thủy thất lệnh: hung sự của Nhất Bạch và Ngũ Hoàng.
- Nhất Lục đồng cung, sơn thủy thất lệnh: hung sự của Nhất Bạch và Lục Bạch.
- Nhất Thất đồng cung, có tử khí của sơn thủy: hung sự của Nhất Bạch và Thất Xích.
- Nhất Bát đồng cung, có tử khí của sơn thủy: hung sự của Nhất Bạch và Bát Bạch.
- Nhất Cửu đồng cung chỉ có ở trung cung, chủ về mệnh cửu cung bị khắc.
Các nhóm còn lại cứ thế mà suy.
Cát hung của từng sao theo “Cửu Tinh Đoán Lược”
Mỗi ngôi sao có hình dáng, ngũ hành, mùa mạnh mùa yếu và cả những năm tháng dễ ứng nghiệm.
Ngoài phần lý luận trên, các thư tịch phong thủy xưa còn bàn đến cách luận cát hung của chín sao, trong đó có “Cửu Tinh Đoán Lược”. Xin lần lượt nêu từng sao.
Nhất Bạch
Sao Nhất Bạch tiên thiên ở Kiền, hậu thiên ở Khảm, ứng với sao Tham Lang, ngũ hành thuộc thủy, màu trắng; mùa thu thì tiến (lớn lên), mùa đông thì vượng, mùa xuân thì tiết (hao hụt), mùa hạ thì tử. Kẻ sĩ gặp nó ắt được bổng lộc, người thường gặp nó thì tiền bạc nhất định thêm nhiều; đây là đệ nhất cát thần. Nếu bị khắc sát thì có chuyện đau buồn tang tóc. Nhất Bạch thuộc loại sao tốt trung bình, chủ tài vận ổn định, đặc biệt có lợi cho các công việc có cơ cấu lớn hoặc người có thu nhập đều, chủ về dễ tích lũy tiền bạc dần dần.
Ứng kỳ: lưu niên tốt nhất là những năm Hợi, Thân, Dậu; mỗi năm tài vận mạnh nhất vào các tháng bảy, tám, mười, mười một. Nên đặt cửa, phòng, bếp, vị trí nước ở phương vị này.
Nhị Hắc
Sao Nhị Hắc thuộc thổ, hiệu Cự Môn, ở cung Khôn (tây nam) trong bát quái, hành thổ kèm mộc khí. Nếu được sinh thì ruộng đất tiền tài không kể xiết, nhân đinh thịnh vượng; nhưng nếu khí thế yếu kém thì khó tránh buồn phiền; bị khắc sát thì lo sản phụ có bệnh, hoặc vì đàn bà mà rước phiền toái vào thân. Nói chung, phạm lỗi ở phương này thì không có lợi cho phái nữ, bệnh dai dẳng khó lành. Nhị Hắc là hung tinh, chủ phá tài; xét sâu hơn, nguyên nhân là vì sức khỏe có vấn đề nên dẫn tới phá tài.
Ứng kỳ: kỵ nhất các năm Tỵ, Ngọ, Mùi; mỗi năm phá tài nhiều nhất vào tháng tư, năm, sáu và chín. Không được thiết kế cửa, phòng, bếp và vị trí nước ở phương này. Nếu cửa, phòng, bếp, nước đã ở phương này thì cần đặt tượng kỳ lân bằng đồng để hóa giải.
Tam Bích
Sao Tam Bích là Lộc Tồn, ở cung Chấn (phương đông) trong bát quái, thuộc mộc kèm thổ khí, màu biếc. Nếu được sinh thì hưng gia lập nghiệp, đương thời vượng thì phú quý công danh; nhưng nếu bị khắc thì phải coi chừng quan tai kiện tụng, thân mang bệnh tật, gặp nhiều điều xấu. Tam Bích là hung tinh, chủ phá tài; xét sâu hơn, nguyên nhân là bị người xem thường hoặc bị trộm cướp mà phá tài.
Ứng kỳ: kỵ nhất các năm Thân, Dậu, Dần, Mão; mỗi năm phá tài nhiều nhất vào tháng giêng, hai, bảy và tám. Không được thiết kế cửa, phòng, bếp và vị trí nước ở phương này. Nếu đã có, cần dời vị trí nước sang chỗ khác; còn cửa và phòng không dời được thì trải một tấm thảm màu đỏ dưới đất để hóa giải.
Tứ Lục
Sao Tứ Lục ở cung Tốn (đông nam) trong bát quái, màu xanh, thuộc mộc kèm thủy khí. Đó là phong trong mộc, là nơi ở của sao Văn Khúc hay Văn Xương: lúc nó đương vượng thì thăng quan tiến chức, thi cử đỗ đạt; nếu bị khắc sát thì phải cẩn thận việc sinh đẻ. Tứ Lục là sao trung tính, tốt hay xấu còn tùy hoàn cảnh quyết định; về tài vận thì ổn định bình bình.
Ứng kỳ: có thể tích lũy tiền tài mạnh nhất vào những năm Dần, Mão, Hợi, Tý; mỗi năm phá tài nhiều nhất vào các tháng giêng, hai, mười và mười một. Ở phương vị này nên dùng bonsai, hoa lan, long cốt… để trang trí.
Ngũ Hoàng
Sao Ngũ Hoàng là Liêm Trinh, đóng ở trung cung, màu vàng, thuộc thổ kèm hỏa khí; nên tĩnh không nên động, động thì rốt cuộc xấu; nên bổ không nên khắc, khắc thì gặp tai họa. Ngũ Hoàng là một đại sát tinh, còn gọi là Chính Quan Sát, chủ phá tài; xét sâu hơn, thu nhập không đủ chi, thường hao tài ngoài ý muốn, khoản nợ chỉ có tăng chứ không giảm.
Ứng kỳ: lưu niên phá tài nhiều nhất vào các năm Tỵ, Ngọ, Mùi, Tuất; mỗi năm nhiều nhất vào tháng tư, năm, sáu và chín. Không được thiết kế cửa, phòng, bếp và vị trí nước ở phương này, cũng không nên đặt bàn thờ ở phương vị này. Nếu cửa, phòng, bếp đã ở đó thì đặt tượng kỳ lân bằng đồng để hóa giải.
Lục Bạch
Sao Lục Bạch ở cung Kiền (tây bắc) trong bát quái, màu trắng, là nơi ở của sao Vũ Khúc, thuộc kim. Lúc nó được sinh vượng thì uy quyền chấn động người đời, giàu có, con cháu đông đúc. Nếu bị khắc sát thì cô đơn khổ sở, khắc vợ mất con. Lục Bạch là cát tinh, đặc biệt có lợi cho người làm công việc quản lý, chủ tích lũy được tiền tài.
Ứng kỳ: có thể tích lũy tiền tài mạnh nhất vào các năm Sửu, Thìn, Thân, Dậu; mỗi năm tiền tài dư nhiều nhất vào tháng ba, bảy, tám và mười hai. Có thể thiết kế cửa, phòng, bếp và vị trí nước ở phương này. Muốn thôi thúc hoạnh tài thì đặt tượng kỳ lân bằng ngọc; muốn tăng vận tài trong công việc làm ăn thì đặt tượng thiềm thừ ba chân bằng vàng.
Thất Xích
Sao Thất Xích là Phá Quân, ở cung Đoài (phương tây trong bát quái), thuộc kim, có hình dáng tiểu nhân, mang tinh thần trộm cướp. Nếu được sinh vượng thì tài lộc nhân đinh cũng tăng tiến; nếu bị khắc chế thì phải coi chừng lời qua tiếng lại thị phi, kiện tụng. Thất Xích là hung tinh, chủ phá tài; xét sâu hơn, nguyên nhân là phát sinh tranh chấp tiền bạc với người khác, hoặc vì sự cố tai nạn ngoài ý muốn mà hao tài.
Ứng kỳ: lưu niên phá tài mạnh nhất vào các năm Sửu, Thìn, Thân, Dậu; mỗi năm phá tài nhiều nhất vào tháng ba, bảy, tám và mười hai. Không nên thiết kế cửa, phòng, bếp ở phương này. Nếu đã có thì cần đặt bánh xe phong thủy hoặc một chậu nước bằng đồng để hóa giải.
Bát Bạch
Sao Bát Bạch, còn có tên Tả Phù, ở cung Cấn (đông bắc) trong bát quái, thuộc thổ. Nếu sinh vượng thì phú quý công danh; nếu bị khắc chế thì phải coi chừng tổn hại trẻ con; tính nó vốn hiền lành, có thể hóa giải hung thần. Bát Bạch là cát tinh, chủ vượng tài, đặc biệt có lợi cho người làm kinh doanh. Thông thường người trên thương trường nên chú ý sao này, chỉ cần thôi thúc được nó thì tự nhiên nguồn tiền ngày càng lớn.
Ứng kỳ: có thể được tiền tài mạnh nhất vào những năm Tỵ, Ngọ, Mùi, Tuất; mỗi năm kiếm tiền nhiều nhất vào tháng tư, năm, sáu và chín. Nên thiết kế cửa, phòng, bếp và vị trí nước ở phương này. Muốn tăng cường hoạnh tài thì đặt tượng ngọc kỳ lân; muốn tăng vận tài trong công việc làm ăn thì đặt tượng thiềm thừ ba chân bằng ngọc. Ngoài ra dùng thủy tinh màu tím cũng tăng cường được tài vận.
Cửu Tử
Sao Cửu Tử là Hữu Bật, ở cung Ly (nam) trong bát quái, thuộc hỏa kèm kim khí, tính rất nóng nảy: cát thì phát phúc lập tức, hung thì gặp đại họa ngay. Cửu Tử là cát tinh, chủ tài vận tốt trung bình. Người kiêm chức vị, hoặc làm công việc phát lương, kế toán thì hợp với bố cục ở phương vị này.
Ứng kỳ: có thể tích lũy tiền tài mạnh nhất vào các năm Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ; mỗi năm tiền tài dư nhiều nhất vào tháng giêng, hai, tư và năm. Nên thiết kế cửa, phòng, bếp ở phương này. Cũng có thể đặt tượng con cóc đồng ba chân, hoặc đồ thủy tinh màu tím để thôi thúc tài vận.
Đó là những ứng nghiệm ghi trong các thư tịch cổ của phái Huyền Không. Hiển nhiên có nhiều việc không còn hợp với sinh hoạt ngày nay, nên nhà phong thủy hiện đại cần phán đoán và biến đổi linh hoạt cho phù hợp.
Cùng một sao, vượng thì cát, suy thì hung
Ngôi sao tốt đứng sai thời có thể thành tai họa, ngôi sao dữ gặp đúng thời lại thành chỗ dựa.
Theo lý luận Huyền Không, từ sao Nhất Bạch Tham Lang đến sao Cửu Tử Hữu Bật, mỗi sao tuy đại diện cho những tính chất cát hung riêng, nhưng trong các nguyên vận khác nhau chúng lại xuất hiện những tình huống thay đổi khác nhau. Chẳng hạn các cát tinh như Nhất Bạch Tham Lang, Lục Bạch Vũ Khúc, Bát Bạch Tả Phù, nếu gặp lúc thất vận thì thành hung tinh. Ngược lại có những sao vốn hung như Ngũ Hoàng Liêm Trinh, Thất Xích Phá Quân, nếu gặp lúc vượng thì lại hóa cát.
Trong tam nguyên cửu vận, mỗi sao đều có lúc suy vượng sinh tử: sao đương vận là “vượng”, sao sắp tới là “sinh”, sao đã qua là “suy”, sao đã qua lâu là “tử”.
Vận Nhất Bạch
Trong vận Nhất Bạch thuộc thượng nguyên, lấy Nhất Bạch làm vượng, dùng được thì rất tốt. Nhị Hắc là sao sinh, thứ cát, nên trọng dụng để làm kế sách lâu dài. Tam Bích là sinh khí còn hơi xa, chỉ có thể dùng ít. Cửu Tử là phương suy, tuy không quá hung nhưng tốt nhất đừng dùng, bất đắc dĩ mới dùng tạm. Bát Bạch cũng là phương suy, nhưng vốn là cát tinh, lại chỉ cách Nhất Bạch một sao nên không quá hung, nếu bất đắc dĩ cũng có thể dùng tạm. Các sao còn lại như Tứ Lục, Ngũ Hoàng, Lục Bạch, Thất Xích đều là tử khí, dùng thì đại hung.
Vận Nhị Hắc
Trong vận Nhị Hắc, lấy Nhị Hắc làm vượng tinh, dùng rất tốt. Tam Bích là sao tốt kế đến, nên dùng để làm kế sách lâu dài. Tứ Lục là sinh khí nên thứ cát, dùng cho tương lai. Ngũ Hoàng là sinh khí hơi xa, nhưng vốn là sao tối hung nên không thể dùng, dùng thì có hung họa. Nhất Bạch là suy khí, nhưng vì nó là cát tinh nên cũng không xấu lắm, song không có giá trị gì. Các sao còn lại như Lục Bạch, Thất Xích, Bát Bạch, Cửu Tử đều là tử khí, nên nếu dùng thì đại hung.
Đây chỉ là ví dụ vận của vài sao; các vận của những sao còn lại cũng cứ theo đó mà suy ra.
Nguồn: Nguyễn Vũ Anh, Thẩm Thị Huyền Không Học – Phong Thủy Trong Bối Cảnh Kiến Trúc Hiện Đại.
