Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Đạo Gia

Bài tổng quan

Long thần ở núi không xuống nước: ba cuộc đất vận 7

Đạo Học - Đạo Gia07/10/202611 phút đọc0 lượt đọc
Long thần ở núi không xuống nước: ba cuộc đất vận 7

Núi sau lưng giữ người, nước trước mặt giữ của; đảo ngược hai điều ấy thì nhà đẹp cũng hao. Một ngôi nhà vận bảy có thể tốt ở sơn Ất hướng Tân mà đổ vỡ ở sơn Kiền hướng Tốn. Cùng một lý khí, khác nhau chỉ ở chỗ núi và nước nằm sai chỗ…


Long thần ở núi không xuống nước, long thần ở nước không lên núi

Có câu trong Thanh Nang Tự được xem là then chốt của cát hung họa phúc, cũng là cửa ngõ quan trọng của phái Lý Khí Huyền Không:

Long thần ở núi chớ xuống nước, long thần ở nước bao bọc chớ lên núi.

Núi chủ về người, nước chủ về tiền của, còn long thần thì ảnh hưởng rất lớn đến chuyện được hay mất. Nếu nó bị đảo lộn thì hao người, hại của, thành nguồn cội của trăm mối họa. Vì thế long bày ở núi kỵ nhất là rơi xuống nước, mà phải bày vượng tinh ở chỗ cao, đất núi thật. Long bày ở nước bao bọc cũng kỵ lên núi, mà nên bày vượng tinh ở ao hồ, sông nước hay chỗ trũng thấp. Đó là bí quyết quan trọng của việc bày phi tinh, tuyệt đối không được trái. Nỗi sợ thượng sơn hạ thủy là từ đó mà ra.

Cuộc đất vận 7 sơn Ất hướng Tân

Lấy cuộc này làm ví dụ. Bày long ở phía sơn: vận bản Ngũ đáo sơn, dùng Ngũ nhập trung cung; Ất thuộc âm nên đi nghịch, phi tinh ở sơn là Thất đáo sơn. Thất là sao đương lệnh, là vượng khí. Bát bày đến Khôn, Bát là sinh khí và có quan hệ với thời đang tới, nên hai phương Thất và Bát cần ở nơi cao. Cửu ở Khảm, gặp đất cao thì long thần ở sơn đúng cách. Khí sinh vượng thoát ra ở chỗ cao thì chủ về vượng nhân đinh. Lục là suy khí nằm ở Tốn; Tứ là tử khí nằm ở Kiền. Nếu hai phương Tốn Kiền cao thì suy khí và tử khí được thế, cho nên hai phương này cần có nước, để suy khí tử khí tản ra ở chỗ nước bao bọc mà sát thần thoát đi.

Bày long ở phía nước bao bọc: vận bàn Cửu đáo hướng, Cửu nhập trung cung, Cửu là Đinh âm nên bay nghịch, phi tinh Thất đáo hướng. Thất là vượng khí của đương vận. Bát ở Kiền là sinh khí từ Mùi đến, hai phương Đoài Kiền có nước nên long thần ở nước bao bọc đúng cách. Khí sinh vượng thoát ra nơi nước bao bọc thì chủ vượng tài nguyên. Lục là suy khí, cho nên ba phương Cấn, Ly, Khảm nên là đất cao, đừng mừng khi thấy nước, để suy khí và tử khí tản ra ở chỗ cao.

Long ở nước bao bọc sinh vượng nhất định phải rơi vào nước; còn long ở núi suy tử cũng phải thoát ra nơi nước bao bọc. Như vậy hai phương Đoài Kiền có nước là một việc mà được cả hai điều. Ngược lại, ba phương Chấn, Khôn, Khảm có núi thì cũng nên làm tương tự. Tóm lại phải biện ngũ hành suy vượng để ghép với long thần, như thế mới tránh được bệnh lên núi xuống nước, và đạo lý diệu dụng của thu sơn xuất sát cũng ở đây.

Núi đẹp, nước hiền: lý khí phải khớp với nơi con người sống

Một ngôi nhà tốt cần hai điều kiện đặt cạnh nhau: bức tranh sông núi bên ngoài và bàn sao ở bên trong.

Bạch Hạc Minh giải thích rằng khi tọa sơn lập hướng phải theo nguyên vận để tìm nơi ở mà Huyền Không gọi là vượng sơn vượng hướng. Một chỗ ở lý tưởng cần hai điều kiện căn bản: một là hoàn cảnh sông núi đẹp, hai là vượng sơn vượng hướng. Điều đầu là hoàn cảnh Loan Đầu, điều sau là nguyên lý Huyền Không; thiếu một trong hai là sai. Hoàn cảnh Loan Đầu, theo cách nói ngày nay, chính là môi trường sinh thái, với yêu cầu cơ bản là có núi, có sông nước, có đất rộng.

Câu của Thanh Nang Tự vừa chỉ hoàn cảnh tự nhiên, vừa chỉ lý khí Huyền Không. Về mặt tự nhiên, núi chủ quản nhân đinh, nước chủ quản tài nguyên. Người xưa cho rằng núi đẹp, có rừng rậm tốt tươi và khí thế hùng vĩ mới cản được gió, giữ được nước, mưa thuận gió hòa thì con người mới sống yên ổn khỏe mạnh. Sông nước hữu tình, không lũ lụt mà hiền hòa bồi đắp, thì đất đai mới tốt, giao thông mới thuận, từ đó sinh ra của cải. Nếu hiện tượng tự nhiên ấy bị đảo lộn, núi không cản gió, không giữ nước, gây lũ thường xuyên, đó là long thần ở núi xuống nước. Sông nước khô cạn hoặc xói mòn đất đai, đó là long thần ở nước lên núi. Chuyện gì sẽ xảy ra thì không cần nói cũng rõ.

Ví dụ một: vận 7 sơn Ất hướng Tân

Xét tinh bàn, sơn Ất hướng Tân vào vận 7 là vượng sơn vượng hướng, tức đáo sơn đáo hướng, vượng tinh vừa ngồi ở sơn vừa tới hướng. Thất Nhị ở quẻ sơn là sinh nhập nên luận cát; Tam Thất ở quẻ hướng là khắc xuất nên luận hung. Lập sơn hướng này vào vận 7 vừa có thể vượng đinh vừa có thể vượng tài, nhất là vượng đinh, là một kiểu tọa hướng rất tốt. Lý khí phải ghép với hoàn cảnh Loan Đầu thì mới phát huy tác dụng.

Trước hết xét môi trường nơi tọa sơn. Vị trí của sơn tinh Thất phải có núi non mới tốt; núi phải đẹp, không thể là đá nhọn lởm chởm hay vách đá dựng đứng. Thất thuộc kim, hình tròn và lớn, cho nên cần ngọn núi đẹp dạng tròn thì mới giúp người hưng vượng. Sơn tinh Bát ở phương Thân là sinh khí, lại là thổ nên phương này cần núi hình thổ. Sơn tinh Cửu ở phương Quý cũng là sinh khí, lại là hỏa nên cần núi hình hỏa. Sơn tinh Lục ở phương Tỵ là thoái khí, không nên có núi, có núi thì hung. Sơn tinh Nhất ở phương Đinh là sát khí, không nên có núi. Sơn tinh Nhị ở phương Dần, Tam ở phương Tân, Tứ ở phương Hợi đều là tử khí, đều không nên có núi.

Kế đến xét môi trường nơi hướng thủy. Vị trí của hướng tinh Thất phải có sông nước mới tốt; sông phải lớn mà quanh co hữu tình, nước chảy chậm rãi và trong xanh, không phải sông chảy thẳng một đường, nước xiết hoặc thác đổ ầm ầm. Thất là đầm, nơi địa hình thấp, bằng phẳng, rộng rãi và có đầm ao là tốt, như vậy mới có lợi cho việc tích lũy tiền tài. Hướng tinh Bát ở phương Hợi: phương này có nước là tốt. Hướng tinh Lục ở phương Dần là thoái khí, không nên có nước. Hướng tinh Ngũ và Nhất là sát khí, hướng tinh Tứ, Nhị, Tam là tử khí, đều không nên có nước, có nước thì hung.

Cuối cùng gộp cả sự phân bố của núi và nước để định chuyện thu sơn xuất sát.

  • Thất Nhị ở phương Ất: cần núi, không cần nước; phương này có núi thì thoát được sát của nước.
  • Tam Thất ở phương Tân: cần nước, không cần núi; nước là cát, núi là suy, có nước thì thu được cái suy của núi.
  • Bát Tam ở phương Thân: cần núi, không cần nước; núi là cát, nước là sát, có núi thì thoát được sát.
  • Tứ Bát ở phương Hợi: cần nước, không cần núi; nước là cát, núi là suy, có nước thì thu được cái suy của núi.
  • Cửu Tứ ở phương Quý: cần núi, không cần nước; núi là cát, nước là sát, có núi thì thoát sát.
  • Ba phương Tỵ, Đinh, Dần: không cần núi cũng không cần nước, chỉ cần một khoảng đất bằng.

Ví dụ hai: vận 7 sơn Đinh hướng Quý

Xét tinh bàn, sơn Đinh hướng Quý của vận 7 là song tinh đáo hướng, thuộc cuộc hạ thủy nên tổn đinh, nhưng vì vượng tinh đáo hướng nên có thể vượng tiền tài. Lục Bát ở quẻ sơn là sinh nhập nên cát, quẻ hướng cùng hành nên cũng cát. Loại tọa hướng này nếu có môi trường núi nước phối hợp thì các nhà phong thủy cũng chọn dùng nhiều.

Ở phía sơn: sơn tinh Lục là thoái khí, phương này không nên có núi; sơn tinh Thất đến phương Quý, phương này nên có núi hình tròn thì tốt; sơn tinh Bát đến phương Thân là sinh khí, có núi là cát; sơn tinh Cửu đến phương Ất là sinh khí, có núi là cát. Các phương còn lại nếu không phải sát khí thì là tử khí, không có núi là tốt, có núi là xấu.

Ở phía nước: phương Quý của hướng tinh Thất cần có sông nước, có nước là cát; phương Đinh của hướng tinh Bát là sinh khí, có nước là cát; phương Dần của hướng tinh Cửu cũng là sinh khí, có nước là cát. Phương Dần còn là thành môn phụ của hướng Quý, được sinh khí giúp, vượng khí càng thêm cát. Các phương còn lại không là sát khí thì là tử khí, không nước là cát, có nước thì hung.

Tổng hợp để định thu sơn xuất sát:

  • Phương Đinh cần nước không cần núi, có nước là cát, có núi là xấu; phương này có nước thì thu được cái suy của núi. Nếu không có nước thì ít nhất là đất bằng không vướng chướng ngại, tức là cuộc tọa không triều mãn.
  • Phương Quý cần cả nước lẫn núi: hướng tinh vượng Thất đứng cạnh nước, sơn tinh vượng cũng hướng về núi, núi nước cùng tụ về phương hướng nên gọi là triều mãn.
  • Bát Lục ở phương Thân: cần núi không cần nước; có núi thoát sát của nước.
  • Cửu Ngũ ở phương Ất: cần núi không cần nước; có núi thoát sát của nước.
  • Ngũ Cửu ở phương Dần: cần nước không cần núi; có nước thu cái suy của núi.
  • Các phương Tỵ, Tuất, Tân: không cần núi cũng không cần nước, chỉ cần một khoảng đất bằng.

Cuộc này có hai điểm đặc biệt: phương Tỵ là Nhất Tứ, phương Tân là Tứ Nhất, vừa khớp cái hay của nhóm Nhất Tứ. Nếu hai phương ấy có núi cao to và đẹp thì chắc chắn sẽ có người đỗ đạt làm quan, bất kể núi nước hung sát ra sao đều luận là cát.

Ví dụ ba: vận 7 sơn Kiền hướng Tốn

Xét tinh bàn, sơn Kiền hướng Tốn trong vận 7 là cuộc thượng sơn hạ thủy, chủ phá tài tổn đinh. Cửu Thất ở quẻ sơn là khắc xuất, luận hung; Thất Ngũ ở quẻ hướng là sinh xuất, luận cát. Đây là cuộc mà toàn bộ điều kiện đều khó chọn. Nhưng nếu môi trường phối hợp thích đáng, đảo ngược núi nước thì cũng không phải không dùng được.

Ở phía sơn: sơn tinh Cửu ở phương Kiền là sinh khí, có núi là cát; nhưng hướng tinh Thất lại đòi có nước, cho nên phương này cần nước ở gần và núi ở xa thì mới có thể chọn dùng. Sơn tinh Thất ở phương Tốn là vượng khí, có núi là cát. Các phương còn lại không nên có núi, có núi là hung.

Ở phía nước: hướng tinh Ngũ ở phương Tốn là sao suy bại, không nên có nước mà nên có núi. Thất là sơn tinh ở phương Tốn, cần núi. Hướng tinh ở phương Dậu là Bát, ở phương Cấn là Cửu, hai phương này cần nước mà không cần núi. Các phương còn lại không nên có nước, có nước là hung.

Tổng hợp: phương Kiền là Cửu Thất, đòi cả núi lẫn nước, nhưng núi nước tương khắc nên tài vượng mà đinh không vượng. Phương Tốn là Thất Ngũ, cần núi không cần nước; núi là cát, nước là sát, có núi thì thoát sát của nước. Phương Cấn và phương Dậu cần nước không cần núi, nước cát thu được cái suy của núi.

Tóm lại, sơn Kiền hướng Tốn trong vận 7 là cuộc đảo nghịch núi nước. Nếu môi trường kết hợp được với núi nước Loan Đầu thì vẫn có thể chọn, nhưng đó là chuyện bất đắc dĩ. Điều kiện cho phép thì không nên chọn cuộc thượng sơn hạ thủy này. Dù có thể đảo ngược núi nước, nhưng đầu hướng là mấu chốt để nạp khí, nắm quyền họa phúc, nay lại đem trao cho sao của tọa sơn, xét đến cùng là trái lẽ thường nên dù có phúc cũng mỏng.

Nguồn: Nguyễn Vũ Anh, Thẩm Thị Huyền Không Học – Phong Thủy Trong Bối Cảnh Kiến Trúc Hiện Đại.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Đạo Gia